Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Bảng 3.1: Cơ cấu các nguồn nước hiện đang sử dụng ở các hộ gia đình 31

Bảng 3.1: Cơ cấu các nguồn nước hiện đang sử dụng ở các hộ gia đình 31

Tải bản đầy đủ - 0trang

DANH MỤC CÁC HÌNH

Trang

Hình 3.1. Các nguồn nước sinh hoạt chính của người dân ở xã Trà Thủy...............30

Hình 3.2. Tỷ lệ sử dụng các nguồn nước sinh hoạt tại xã Trà Thủy.........................31

Hình 3.3. pH trung bình của các mẫu nước sinh hoạt..............................................36

Hình 3.4. Độ đục trung bình của các mẫu nước sinh hoạt........................................37

Hình 3.5. Hàm lượng sắt tổng số trung bình của các mẫu nước sinh hoạt...............38

Hình 3.6. Chỉ số Permanganat trung bình của các mẫu nước sinh hoạt...................39

Hình 3.7. Ma trận Swot...........................................................................................44



ii



DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

COD:



Chemical Oxygen Demand



NO3- :



Nitrat



NH4+ :



Amoni



PO43-:



Photphat



T-N:



Nitơ tổng số



T-P:



Photpho tổng số



TCVN:



Tiêu chuẩn Việt Nam



TSS:



Total Suspended Solid



QCVN:



Qui chuẩn Việt Nam



BTNMT:



Bộ Tài nguyên - Môi trường



iii



MỞ ĐẦU

1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

Nước sạch và vệ sinh môi trường là nhu cầu rất cần thiết trong đời sống hàng

ngày của con người. Nước sạch cho người dân nơng thơn là một trong những tiêu

chí quan trọng của Bộ tiêu chí Quốc gia về xây dựng nơng thơn mới. Hiện nay, một

số vùng nông thôn ở nước ta, người dân đang sử dụng nguồn nước sinh hoạt chủ

yếu từ sông, hồ, nước mưa và nước ngầm từ giếng khơi, giếng khoan... Nếu nguồn

nước không bảo đảm vệ sinh sẽ gây nên nguy cơ mắc các bệnh đường ruột, bệnh

ngoài da và một số bệnh khác. Chính vì thế, vai trò của nước sạch ở các vùng nơng

thơn ln quan trọng và cần thiết hơn bao giờ hết.

Trà Thủy là một xã miền núi đặc biệt khó khăn (diện 135), thuộc huyện Trà

Bồng, tỉnh Quảng Ngãi. Xã gồm 6 thôn với dân số là 3.265 người, trong đó người

dân tộc thiểu số chiếm 91,2% (Dân tộc Cor là 90,6% và một số dân tộc thiểu số

khác chiếm 0,6%). Ở đây nguồn nước dùng cho sinh hoạt của người dân chủ yếu

là nước giếng, nước tự chảy hoặc sử dụng nước suối... đây là những nguồn nước

có nguy cơ bị ô nhiễm bởi các hoạt động sinh hoạt và sản x́t nơng nghiệp của

người dân.

Việc xây dựng các cơng trình cấp nước và quản lý chất lượng nước dùng cho

sinh hoạt hàng ngày của người dân nơi đây chưa nhận được sự quan tâm đúng mức

từ chính quyền, phần lớn người dân vẫn quen sử dụng trực tiếp nước tự chảy từ khe

suối, sông và giếng mà chưa qua quá trình xử lý nào cả, do vậy sẽ ảnh hưởng đến

sức khỏe nên người dân ở đây mong muốn có được một nguồn nước sạch cho sinh

hoạt hàng ngày.

Do vậy, đề tài: “Đánh giá chất lượng nước sinh hoạt ở xã Trà Thủy, huyện

Trà Bồng, tỉnh Quảng Ngãi và đề xuất các giải pháp cải thiện” được thực hiện

nhằm khảo sát tình hình sử dụng, đánh giá chất lượng nước sinh hoạt tại xã Trà

Thủy, đồng thời đưa ra những giải pháp khai thác phù hợp góp phần quan trọng vào

công tác quản lý, đảm bảo chất lượng nước sinh hoạt đạt tiêu chuẩn sử dụng.



1



2. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU

Đánh giá được hiện trạng sử dụng và chất lượng các nguồn nước sinh hoạt

của người dân tại xã Trà Thủy, huyện Trà Bồng, tỉnh Quảng Ngãi nhằm đề xuất các

giải pháp khai thác nước sinh hoạt đạt tiêu chuẩn cho người dân, phù hợp với định

hướng phát triển nông thôn mới trong giai đoạn hiện nay.

3. Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN

+ Ý nghĩa về mặt khoa học



Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ góp phần làm sáng tỏ hiện trạng chất lượng

các nguồn nước sinh hoạt ở xã Trà Thủy thuộc huyện Trà Bồng tỉnh Quảng Ngãi, từ

đó làm cơ sở để đề xuất các giải pháp khai thác tạo nguồn nước an toàn phục vụ cho

mục đích sinh hoạt của người dân trong khu vực.

+ Ý nghĩa về mặt thực tiễn

- Kết quả nghiên cứu sẽ cung cấp những thông tin cần thiết về hiện trạng



chất lượng nước sinh hoạt ở xã Trà Thủy thuộc huyện Trà Bồng, tỉnh Quảng Ngãi.

- Kết quả của đề tài là tài liệu tham khảo cho những người làm công tác



quản lý, quy hoạch, khai thác và cung cấp nước sạch, phục vụ mục tiêu xây dựng

nông thôn mới tại địa phương.

4. PHẠM VI NGHIÊN CỨU

Đề tài tập trung nghiên cứu chủ yếu về chất lượng các nguồn nước sinh hoạt

của người dân hiện đang sử dụng (giếng đào, nước tự chảy, sông, suối...) tại xã Trà

Thủy thuộc huyện Trà Bồng, tỉnh Quảng Ngãi. Trong đề tài tập trung phân tích các

chỉ tiêu chất lượng đối với nước sử dụng cho mục đích sinh hoạt thơng thường theo

QCVN 02:2009/BYT của Bộ Y tế bằng cách đánh giá các thông số chất lượng nước

gồm: mùi vị, màu sắc, pH, độ đục, độ cứng (tính theo CaCO 3), chỉ số KMnO4

(CODMn), hàm lượng amoni, hàm lượng clorua, hàm lượng asen tổng số, hàm lượng

sắt tổng số (FeII,III), coliform tổng số và E. coli.

5. CẤU TRÚC LUẬN VĂN

Luận văn được trình bày trong 70 trang, bố cục như sau:

Mở đầu: 3 trang

Chương 1: Tổng quan tài liệu: 25 trang

2



Chương 2: Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: 4 trang

Chương 3: Kết quả nghiên cứu và thảo luận: 25 trang

Kết luận và đề nghị: 2 trang

Tài liệu tham khảo và phụ lục

Trong luận văn có 11 bảng, 7 hình là các đồ thị, biểu đồ, sơ đồ. Có tổng

cộng 41 tài liệu tham khảo (33 tài liệu tiếng Việt và 8 tài liệu nước ngoài) để minh

họa cho kết quả nghiên cứu.



3



Chương 1.

TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. KHÁI NIỆM

1.1.1. Khái niệm liên quan đến nước

Nước: là một hợp chất hóa học của oxy và hydro, không màu, không mùi,

không vị, là một chất rất quan trọng đối với sự sống và con người.

Nước sạch: là nguồn nước trong, không màu, không mùi, không vị, không

chứa các độc chất và vi khuẩn gây bệnh.

Nước hợp vệ sinh: là nước không màu, không mùi, không vị, không chứa các

thành phần có thể gây ảnh hưởng đến sức khỏe của con người, có thể dùng để ăn

uống sau khi đun sơi.

Ơ nhiễm nước: là sự biến đổi các thành phần của nước khác biệt với trạng

thái ban đầu. Đó là sự biến đổi các chất hóa, lý, sinh vật và sự có mặt của chúng

trong nước làm cho nước trở lên độc hại..

1.1.2. Phân loại nguồn nước

+ Nước ngọt.

Nước ngọt là loại nước chứa một lượng tối thiểu các muối hòa tan, đặc biệt

là NaCl (thường có nồng độ các loại muối hay còn gọi là độ mặn trong khoảng 0,01

- 0,5 ppt hoặc tới 1 ppt), vì thế nó được phân biệt tương đối rõ ràng với nước lợ hay

nước mặn.

Tất cả các nguồn nước ngọt có xuất phát điểm là từ các cơn mưa được tạo ra

do sự ngưng tụ tới hạn của hơi nước trong khơng khí, rơi xuống ao, hồ, sơng của

mặt đất cũng như trong các nguồn nước ngầm hoặc do sự tan chảy của băng hay

tuyết. Nước ngọt là nguồn tài nguyên tái tạo, tuy vậy mà việc cung cấp nước ngọt

và sạch trên thế giới đang từng bước giảm đi. Nhu cầu nước đã vượt cung ở một vài

nơi trên thế giới, trong khi dân số thế giới vẫn đang tiếp tục tăng làm cho nhu cầu

nước càng tăng. Sự nhận thức về tầm quan trọng của việc bảo vệ nguồn nước cho

nhu cầu hệ sinh thái chỉ mới được lên tiếng gần đây. Trong suốt thế kỷ 20, hơn một

nửa các vùng đất ngập nước trên thế giới đã bị biến mất cùng với các môi trường hỗ



4



trợ có giá trị của chúng. Các hệ sinh thái nước ngọt mang đậm tính đa dạng sinh học

hiện đang suy giảm nhanh hơn các hệ sinh thái biển và đất liền [36].

+ Nước mặn.

Nước mặn là thuật ngữ chung để chỉ nước chứa một hàm lượng đáng kể các

muối hòa tan (chủ yếu là NaCl). Hàm lượng này thông thường được biểu diễn dưới

dạng phần nghìn (ppt) hay phần triệu (ppm) hoặc phần trăm (%) hay g/l.

Trên trái đất, nước biển trong các đại dương là nguồn nước mặn phổ biến

nhất và cũng là nguồn nước lớn nhất. Độ mặn trung bình của đại dương là khoảng

35.000 ppm hay 35 ppt hoặc 3,5%, tương đương với 35 g/l.

+ Nước mặt.

Nước mặt là nước trong sông, hồ hoặc nước ngọt trong vùng đất ngập nước.

Nước mặt được bổ sung một cách tự nhiên bởi giáng thủy và chúng mất đi khi chảy

vào đại dương, bốc hơi và thấm xuống đất.

Lượng nước giáng thủy này được thu hồi bởi các lưu vực, tổng lượng nước

trong hệ thống này tại một thời điểm cũng tùy thuộc vào một số yếu tố khác. Các

yếu tố này là khả năng chứa của các hồ, vùng đất ngập nước và hồ chứa nhân tạo,

độ thấm của đất dưới các thể chứa này, các đặc điểm của dòng chảy mặn trong lưu

vực, thời lượng giáng thủy và tốc độ bốc hơi tại địa phương.

Sự bốc hơi nước trong đất, ao, hồ, sơng, biển; sự thốt hơi nước ở thực vật và

động vật... hơi nước vào trong khơng khí sau đó bị ngưng tụ lại trở về thể lỏng rơi

xuống mặt đất hình thành mưa, nước mưa chảy tràn trên mặt đất từ nơi cao đến nơi

thấp tạo nên các dòng chảy hình thành nên thác, ghềnh, suối, sơng và được tích tụ

lại ở những nơi thấp trên lục địa hình thành hồ hoặc được đưa thẳng ra biển hình

thành nên lớp nước trên bề mặt của vỏ trái đất.

Trong q trình chảy tràn, nước hòa tan các muối khống trong các nham

thạch nơi nó chảy qua, một số vật liệu nhẹ khơng hòa tan được cuốn theo dòng chảy

và bồi lắng ở nơi khác thấp hơn, sự tích tụ muối khoáng trong nước biển sau một

thời gian dài của quá trình lịch sử của quả đất dần dần làm cho nước biển càng trở

nên mặn. Có hai loại nước mặt là nước ngọt hiện diện trong sông, ao, hồ trên các

lục địa và nước mặn hiện diện trong biển, các đại dương mênh mông, trong các hồ

nước mặn trên các lục địa

5



Nước mặt tự nhiên có thể được tăng cường thông qua việc cung cấp từ các

nguồn nước mặt khác bởi các kênh, đường ống dẫn nước hoặc bổ cấp nhân tạo từ

các nguồn khác.

+ Nước ngầm.

Nước ngầm là một dạng nước dưới đất, là nước ngọt được chứa trong các lỗ

rỗng của đất hoặc đá. Nó cũng có thể là nước chứa trong các tầng ngậm nước bên

dưới mực nước ngầm. Đơi khi người ta còn phân biệt nước ngầm tầng nông, nước

ngầm sâu và nước chôn vùi.

Nước ngầm cũng có những đặc điểm giống nước mặt như: nguồn vào, nguồn

ra và chứa. Sự khác biệt chủ yếu với nước mặt là do tốc độ luân chuyển chậm (dòng

thấm rất chậm so với nước mặt), khả năng giữ nước ngầm nhìn chung lớn hơn nước

mặt khi so sánh về lượng nước đầu vào.

Theo độ sâu phân bố, có thể chia nước ngầm thành nước ngầm tầng mặt và

nước ngầm tầng sâu. Ðặc điểm chung của nước ngầm là khả năng di chuyển nhanh

trong các lớp đất xốp, tạo thành dòng chảy ngầm theo địa hình. Nước ngầm tầng

mặt thường khơng có lớp ngăn cách với địa hình bề mặt. Do vậy, thành phần và

mực nước biến đổi nhiều, phụ thuộc vào trạng thái của nước mặt.

Có hai loại nước ngầm: nước ngầm không có áp lực và nước ngầm có áp lực.

Nước ngầm không có áp lực: là dạng nước được giữ lại trong các lớp đá ngậm nước

và lớp đá nầy nằm bên trên lớp đá không thấm như lớp diệp thạch hoặc lớp sét nén

chặt. Loại nước ngầm nầy có áp suất rất yếu, nên muốn khai thác nó phải thì phải

đào giếng xuyên qua lớp đá ngậm rồi dùng bơm hút nước lên. Nước ngầm loại nầy

thường ở không sâu dưới mặt đất, có nhiều trong mùa mưa và ít dần trong mùa khơ.

Nước ngầm có áp lực: là dạng nước được giữ lại trong các lớp đá ngậm nước và lớp

đá nầy bị kẹp giữa hai lớp sét hoặc diệp thạch không thấm. Do bị kẹp chặt giữa hai

lớp đá không thấm nên nước có một áp lực rất lớn vì thế khi khai thác người ta dùng

khoan xuyên qua lớp đá không thấm bên trên và chạm vào lớp nước này nó sẽ tự

phun lên mà không cần phải bơm. Loại nước ngầm nầy thường ở sâu dưới mặt đất,

có trử lượng lớn và thời gian hình thành nó phải mất hàng trăm năm thậm chí hàng

nghìn năm.

6



1.2. VAI TRỊ CỦA NƯỚC ĐỐI VỚI ĐỜI SỐNG CON NGƯỜI

Nước là nguồn tài nguyên vô cùng quan trọng cho tất cả các sinh vật trên quả

đất. Nếu khơng có nước thì chắc chắn khơng có sự sống xuất hiện trên quả đất,

thiếu nước thì cả nền văn minh hiện nay cũng không tồn tại được. Từ xưa, con

người đã biết đến vai trò quan trọng của nước; các nhà khoa học cổ đại đã coi nước

là thành phần cơ bản của vật chất và trong quá trình phát triển của xã hội loài người

thì các nền văn minh lớn của nhân loại đều xuất hiện và phát triển trên lưu vực của

các con sông lớn như: nền văn minh Lưỡng hà ở Tây Á nằm ở lưu vực hai con sông

lớn là Tigre và Euphrate (thuộc Irak hiện nay); nền văn minh Ai Cập ở hạ lưu sông

Nil; nền văn minh sông Hằng ở Ấn Ðộ; nền văn minh Hoàng Hà ở Trung Quốc; nền

văn minh sơng Hồng ở Việt Nam...

Nước có vai trò đặc biệt quan trọng với cơ thể, con người có thể nhịn ăn

được từ 1-2 ngày, nhưng không thể thiếu uống nước. Nước chiếm khoảng 70%

trọng lượng cơ thể, 65-75% trọng lượng cơ, 50% trọng lượng mỡ, 50% trọng lượng

xương. Nước tồn tại ở hai dạng: nước trong tế bào và nước ngoài tế bào. Nước

ngoài tế bào có trong huyết tương máu, dịch limpho, nước bọt… Huyết tương

chiếm khoảng 20% lượng dịch ngoài tế bào của cơ thể (3-4 lít). Nước là chất quan

trọng để các phản ứng hóa học và sự trao đổi chất diễn ra không ngừng trong cơ thể.

Nước là một dung môi, nhờ đó tất cả các chất dinh dưỡng được đưa vào cơ thể, sau

đó được chuyển vào máu dưới dạng dung dịch nước. Một người nặng 60 kg cần

cung cấp 2-3 lít nước để đổi mới lượng nước của có thể và duy trì các hoạt động

sống bình thường.

Vai trò chính của nước:

+ Nước cần thiết cho đời sống và nhu cầu sinh lý của cơ thể. Nước chiếm

thành phần quan trọng trong cơ thể con người (63%), trong huyết tương và các phủ

tạng có tỷ lệ cao hơn. Nước tham gia vào các q trình chuyển hố các chất, đảm

bảo sự cân bằng các chất điện giải, điều hoà thân nhiệt. Trung bình một ngày mỗi

người cần từ 1,5-2,5 lít nước. Những người làm công việc nặng nhọc hay trong thời

tiết nóng bức thì số lượng nước được hấp thụ cần nhiều hơn để bù đắp số lượng nước bài

tiết qua da, phổi, thận.

7



+ Nhờ nước mà các chất bổ được đưa vào cơ thể để duy trì sự sống. Nước

cung cấp cho cơ thể các nguyên tố cần thiết như: iod, flour, mangan, kẽm, sắt,

vitamin và các acid amin.

+ Nước cần thiết cho nhu cầu vệ sinh cá nhân, vệ sinh xã hội, cho cứu hỏa và

các yêu cầu xã hội khác.

Tuy nhiên nước cũng là môi trường trung gian lan truyền các bệnh dịch như:

thương hàn, tả, lỵ, viêm gan, bại liệt. Nước hoà tan các chất thải, các chất độc

hoá học, các chất phóng xạ, chất gây ung thư có thể tác hại đến con người.

Theo tính tốn hiện nay tài nguyên nước ở trên thế giới là 1,39 tỷ km 3, tập

trung trong thủy quyển 97,2% (1,35 tỷ km3), còn lại trong khí quyển và thạch

quyển. 97% lượng nước là nước mặn, 2% là nước ngọt tập trung trong băng ở hai

cực, 0,6% là nước dưới đất, còn lại là nước sơng và hồ. Lượng nước trong trong khí

quyển khoảng 0,001%, trong sinh quyển 0,002%, trong sông, suối 0,00007% tổng

lượng nước trên Trái đất. Lượng nước con người sử dụng trong một năm khoảng

35.000 km3, trong đó 8% cho sinh hoạt, 23% cho công nghiệp và 63% cho hoạt

động nông nghiệp [33].

Tài nguyên nước phân bổ không đều trên bề mặt Trái đất. Lượng mưa ở sa

mạc dưới 100 mm/năm, trong khi ở nhiều vùng nhiệt đới (Ấn Độ) có thể đạt 500

mm/năm. Do vậy có nơi thiếu nước, hạn hán, trong khi nhiều nơi mưa lụt thường

xuyên. Nhiều nước Trung Đông phải xây dựng nhà máy để cất nước ngọt hoặc mua

nước ngọt từ quốc gia khác. Sự biến đổi khí hậu do con người gây ra đang làm trầm

trọng thêm sự phân bố không đều tài nguyên nước trên Trái đất. Con người ngày

càng khai thác và sử dụng nhiều hơn tài nguyên nước. Lượng nước dưới đất khai

thác trên thế giới năm 1990 gấp 30 lần so với năm 1960, đã dẫn đến nguy cơ suy

giảm trữ lượng nước, gây ra các thay đổi lớn về cân bằng nước.

Tài nguyên nước của Việt Nam nhìn chung khá phong phú. Việt Nam là nước

có lượng mưa trung bình vào loại khá cao, khoảng 2000 mm/năm, gấp 2,6 lần lượng

mưa trung bình của vùng lục địa trên thế giới. Tổng lượng mưa trên toàn lãnh thổ là

650 km3/năm, tạo ra ra dòng chảy mặt trong vùng nội địa là 324 km 3/năm. Vùng có

lưu lượng mưa cao là Bắc Quang 4.000 - 5.000 mm/năm, tiếp đó là vùng núi cao

8



Hoàng Liên Sơn, Tiên Yên, Móng Cái, Hoành Sơn, Phú Quốc…3.000 - 4.000

mm/năm. Vùng ít mưa nhất là Ninh Thuận và Bình Thuận, vào khoảng 600 - 700

mm/năm. Ngoài dòng chảy phát sinh trong vùng nội địa, hàng năm lãnh thổ Việt

Nam nhận thêm một lưu lượng từ Trung Quốc và Lào khoảng 550 km 3. Do vậy, tài

nguyên nước mặt và nước dưới đất có thể khai thác và sử dụng ở Việt Nam rất

phong phú, khoảng 150 km3 nước mặt một năm và 10 triệu m 3 nước dưới đất một

ngày. Tuy nhiên, do mật độ dân số vào loại cao, nên lượng nước phát sinh trong

lãnh thổ trên đầu người là 4200 m3/người vào loại trung bình thấp trên thế giới. Tình

trạng thiếu nước về mùa khô và lũ lụt về mùa mưa đang diễn ra các vùng nước ta.

Tình trạng trên có tác động tiêu cực tới các hoạt động canh tác nông nghiệp, sản

xuất công nghiệp và đời sống dân cư. Các kết quả tính tốn cân bằng nước cho thấy:

vào các năm 2000 - 2010 nhu cầu nước trong mùa khô các vùng trong nước đều

vượt 30% so với lượng nước đến. Trong đó, vùng Nam Trung Bộ có nhu cầu nước

vượt 70 - 90% lượng nước đến vào mùa khô. Nếu theo tiêu chuẩn của FAO, lượng

nước sử dụng không vượt quá 30% tổng lượng nước đến thì nước ta đang có nguy

cơ thiếu nước về mùa khô [33].

Nước sạch đóng vai trò rất quan trọng đối với sức khỏe và cuộc sống của con

người. Nước sạch giúp cho con người duy trì cuộc sống hàng ngày bởi con người sử

dụng nước sạch để cung cấp cho các nhu cầu ăn uống, hoặc sử dụng cho các hoạt

động sinh hoạt như tắm rửa, giặt giũ, rửa rau, vo gạo... Để thỏa mãn các nhu cầu vệ

sinh cá nhân và sinh hoạt, mỗi người cần tới khoảng 120 lít nước/ngày. Nước sạch

khơng chỉ là trong, khơng màu, khơng mùi, khơng vị mà còn phải an toàn đối với

sức khỏe của người sử dụng. Nếu sử dụng nước khơng sạch thì sẽ ảnh hưởng rất lớn

tới sức khỏe, vì nước là mơi trường trung gian chuyển tải các chất hóa học và các

loại vi khuẩn, vi rút, ký sinh trùng gây bệnh mà mắt thường khơng nhìn thấy được.

Con người cần một lượng nước nhất định để duy trì cuộc sống nếu khơng sức

khỏe sẽ bị ảnh hưởng. Nước là yếu tố thứ hai quyết định sự sống chỉ sau khơng khí,

vì vậy con người không thể sống thiếu nước. Nước chiếm khoảng 58-67% trọng

lượng cơ thể người lớn và đối với trẻ em lên tới 70-75%, đồng thời nước quyết định

tới toàn bộ quá trình sinh hóa diễn ra trong cơ thể con người. Khi cơ thể mất nước,

9



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Bảng 3.1: Cơ cấu các nguồn nước hiện đang sử dụng ở các hộ gia đình 31

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×