Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
b. Kết quả đánh giá tổ chức công tác kế toán theo số liệu khảo sát

b. Kết quả đánh giá tổ chức công tác kế toán theo số liệu khảo sát

Tải bản đầy đủ - 0trang

cho thấy có đến 37% đối tượng khảo sát đánh giá tiêu cực về mức độ hợp lý của bộ

máy quản lý tài chính nhà trường, trong đó có 9/100 đối tượng rất không đồng ý

(chiếm tỷ lệ 9%), 28/100 đối tượng không đồng ý, chiếm tỷ lệ 29%. Mức độ đồng ý,

đánh giá tích cực chỉ chiếm khoảng 42% trong đó có 35/100 đối tượng đánh giá ở

mức hợp lý và 7/100 đối tượng đánh giá ở mức rất hợp lý. Điều này là do nhiều cán

bộ đã nhận thấy có sự khác biệt về tính hiệu quả của bộ máy quản lý tài chính tại

doanh nghiệp. Nhiều doanh nghiệp lớn với quy mô và hoạt động thu chi tài chính

lớn hơn trường tuy nhiên nhân sự của bộ máy cũng chỉ dừng lại ở mức tương đương

như bộ máy của trường,

Bảng 2.14: Đánh giá của cán bộ công nhân viên đơi với tính hợp lý của bộ tài

quản lý tài chính của trường

Chỉ tiêu

Tổ chức bộ máy quản lý tài chính

của Trường Đại học Nghệ thuật, Đại

học Huế hiện nay là hợp lý và hoạt

động có hiệu quả?



Tần suất đánh giá (%)



GTT

B



1



2



3



4



5



3,03



9



28



21



35



7



(Nguồn: Số liệu điều tra khảo sát)

 Đánh giá công tác quản lý và sử dụng nguồn thu

Hiện tại, nguồn thu của trường có từ ngân sách nhà nước, nguồn thu từ học

phí, lệ phí sinh viên; và các nguồn khác, trong đó từ ngân sách nhà nước chiếm tỷ lệ

khoảng 55% tổng thu của nhà trường. Với cơ cấu nguồn thu như vậy, đánh giá về

tính đa dạng của nguồn thu, kết quả khảo sát cho thấy mức độ đồng ý của cán bộ

nhân viên nhà trường đối với tính đa dạng nguồn thu của nhà trường khá thấp, trong

đó có 47% cán bộ cơng nhân viên chức nhà trường đánh giá tiêu cực (27% hoàn

toàn không đồng ý và 20% không đồng ý). Mức độ đánh giá trung bình đạt 2,81 trên

5 mức độ. Điều này một phần là do nhiều cán bộ nhà trường nhận thức được khi

ngân sách nhà nước ngày càng cắt giảm, nguồn thu từ học phí, lệ phí ít do tình hình

tuyển sinh khó khăn thì vấn đề quản lý tài chính gặp khó khăn là dễ hiểu.



87



Về tính minh bạch của nguồn thu, kết quả khảo sát đánh giá của cán bộ

công nhân viên nhà trường đối với các quy định mức thu được công khai rõ ràng,

kết quả khảo sát cho thấy đa phần cán bộ công nhân viên của nhà trường đều đồng

ý về vấn đề này. Có 28/100 cán bộ rất đồng ý, chiếm tỷ lệ 28%, 34/100 đối tượng

khảo sát đồng ý, chiếm tỷ lệ 34% và 28/100 đối tượng trả lời trung lập. Với tiêu

chí này, mức độ đánh giá trung bình đạt 3,6. Điều này là do nhà trường

thực hiện chủ trương 3 công khai nhằm đảm bảo chất lượng giáo dục nên trên

website của nhà trường đã thiết lập chuyên mục riêng, cơng khai dữ liệu tài chính

hàng năm về nguồn thu, chi tiết.

Với thực trạng nguồn thu trường đang quá lệ thuộc vào nguồn ngân sách

nhà nước, nguồn thu phí lệ phí nên khi khảo sát về việc tăng nguồn thu từ các hoạt

động dịch vụ hay không, kết quả khảo sát cho thấy hầu hết cán bộ đều nhận thấy

tính hình và đánh giá ở mức cần thiết rất cao. Thống kê cho thấy có đến 60% cán

bộ cơng nhân viên của nhà trường đồng ý với ý kiến này và 22% rất đồng ý. Nhà

trường tổ chức buổi triễn lãm, trưng bày và bán các tác phẩm nghệ thuật để tăng

nguồn thu. Mức độ thống nhất ý kiến về sự cần thiết phát triển dịch vụ để gia tăng

nguồn thu là rất cao.

Đối với chương trình chất lượng cao, có đến 36% cán bộ cơng nhân viên

chức đánh giá định hướng này là không phù hợp do đặc thù thị trường miền Trung

có thu nhập thấp, trường chúng ta là trường non trẻ, khơng có lợi thế về hình ảnh,

địa phương để phát triển sản phẩm chất lượng cao. Mức độ đánh giá trung bình khá

cao, đạt 4,04 trên 5 mức độ. Tuy nhiên cũng có nhóm ngược lại cho rằng là cần

thiết để gia tăng nguồn thu cho nhà trường với 41% đối tượng khảo sát đánh giá từ

mức đồng ý trở lên với ý kiến này.

Đánh giá này cũng tương tự với chương trình liên kết khi có đến 44% đánh

giá việc gia tăng nguồn thu bằng chương trình liên kết là khơng cần thiết. Chương

trình này có mức độ khơng đồng ý cao hơn so với chương trình chất lượng cao một

phần là bởi vì chi phí để đào tạo cho chương trình này lớn như việc mời giảng từ

giáo viên ở nước ngoài sang Việt Nam. Mức độ đánh giá trung bình chỉ đạt 2,92.



88



Bảng 2.15: Đánh giá của cán bộ công nhân viên đôi với tính hợp lý của việc

quản lý và sử dụng nguồn thu



Chỉ tiêu

Nguồn thu đa dạng?

Mức thu cần được công khai rộng

rãi?

Tăng nguồn thu từ các hoạt động

dịch vụ?

Sự cần thiết phải phát triển các

chương trình chất lượng cao để tăng

nguồn thu?

Nên phát triển các chương trình liên

kết để tăng nguồn thu?



Tần suất đánh giá (%)



GTT

B



1



2



3



4



5



2,81



27



20



17



17



19



3,6



0



0



28



34



28



4,04



0



0



18



60



22



2,92



14



11



23



18



23



3,07



13



21



30



18



18



(Nguồn: Số liệu điều tra khảo sát)

 Đánh giá hoạt động quản lý và sử dụng các khoản chi

Đánh giá về mức độ phù hợp cơ cấu giữa các nhóm chi, kết quả khảo sát

cho thấy có nhiều ý kiến trái chiều, trong đó 33% không đồng ý, 33% trung lập,

34% đồng ý trong mẫu khảo sát. Với cơ cấu nguồn chiếm hơn 65% chi cho thanh

toán cá nhân, 26 % chi đầu tư chuyên môn, 9% chi mua sắm, sửa chữa và chi

khác. Mức đánh giá trung bình đạt 3,03 trên 5 mức độ. Đối với cán bộ hành chính

và các giảng viên trẻ cho rằng trong điều kiện nguồn thu có hạn nên ưu tiên chi

thanh toán cá nhân là hợp lý. Tăng mức chi lương tăng thêm, phúc lợi cho cán bộ

nhân viên để họ yên tâm công tác. Đối với các bộ quản lý cho rằng cần tăng chi

cho nghiệp vụ chuyên môn để tăng chất lượng đội ngũ giảng viên. Đầu tư cơ sở

vật chất khang trang hiện tại, chất lượng dịch vụ mới thu hút được tuyển sinh cũng

như hợp tác quốc tế.

Đánh giá về việc chi trả các khoản liên quan thu nhập cá nhân (lương,

thưởng, làm thêm…) đầy đủ và đúng hạn, kết quả khảo sát cho thấy đa phần đối

tượng kháo sát có mức độ khơng đồng ý cao chiếm 50% đối với tiêu chí này. Mức



89



đánh giá trung bình khá thấp, đạt 2,62. Trong đó có 23/100 cán bộ rất khơng đồng ý,

chiếm tỷ lệ 27%, 27/100 đối tượng khảo sát không đồng ý. Theo quy định, tiền

lương được trả dao động trong 10 ngày đầu tháng và các khoản thưởng cho các dịp

ngày lễ trong năm được chuyển cùng lương vào đầu tháng. Tuy nhiên, vẫn xảy ra

tình trạng nợ lương vào những tháng đầu năm. Nguyên nhân là do NSNN cấp

muộn, các thủ tục thẩm định, phê duyệt dự toán mất nhiều thời gian, chưa thu được

học phí nên khơng có nguồn để chi lương vào tháng đầu năm.

Đánh giá về ý kiến liên quan thu nhập cán bộ viên chức ở trường Đại học

Nghệ thuật, đảm bảo tính cơng bằng kết quả khảo sát cho thấy mức độ đồng ý

chiếm 35% đối tượng khảo sát. Điều này là do một bộ phận giảng viên của trường

nếu giảng dạy một số môn cơ bản, số lớp quy đổi thành tiết giảng ít thì thu nhập chủ

yếu chỉ là lương cơ bản ở trường. Đối với cán bộ hành chính được hưởng mức

lương cơ bản , khơng có các khoản phụ cấp khác như giảng viên nên rất thiệt thòi.

Đánh giá về tính hợp lý trong việc xác định định mức chi thanh toán giờ

giảng, kết quả khảo sát cho thấy mức độ đồng ý của đối tượng khảo sát khơng cao

trong đó đặc biệt có 21% đối tượng phản hồi tiêu cực.Với tiêu chí này, mức độ đánh

giá trung bình đạt 3,49. Điều này là do trường quy định mức thanh toán theo định

mức cố định trong khi nhiều giảng viên mong muốn cơ chế định mức chi thanh toán

giờ giảng sẽ được xây dựng theo từng mức, với mỗi mức sẽ áp dụng một mức thanh

tốn khác nhau và có xu hướng tăng dần khi tiến đến các mức cao.

Các tiêu chí liên quan chính sách khốn, các đối tượng trong mẫu khảo sát

thể hiện mức độ đồng ý khá cao. Mức độ đánh giá trung bình đạt 4,09 trên 5 mức

độ. Có 41/100 đối tượng chiếm tỷ lệ 40% rất đồng ý và 27/100 đối tượng, chiếm tỷ

lệ 27% đồng ý với việc khoán chi và mở rộng khoán chi để tăng tính minh bạch

và cơng bằng. Điều này là do quy định về các hóa đơn, chứng từ hồn ứng khá

phức tạp và đơi khi khơng phù hợp với tình hình thực chi nên chính sách khốn và

mở rộng khốn sẽ tạo điều kiện thuận lợi hơn cho cán bộ công nhân viên của

nhà trường trong việc thực hiện chi các nhiệm vụ theo dự trù kinh phí.



90



Bảng 2.16: Đánh giá của cán bộ cơng nhân viên đơi với tính hợp lý của việc

quản lý và sử dụng các khoản chi

Chỉ tiêu

Cơ cấu chi giữa 4 nhóm chi (chi

thanh tốn cá nhân; chi chuyên môn

nghiệp vụ; chi mua sắm, sửa chữa;

chi khác) hiện nay là hợp lý?

Chi trả thu nhập đầy đủ và đúng

hạn?

Thu nhập hiện tại là đảm bảo tính

cơng bằng

Mức chi tiền lương tăng thêm và

thanh tốn giờ giảng được ban hành

là hợp lý?

Hồn thiện chính sách khốn chi để

đảm bảo tính minh bạch



GTT

B



Tần suất đánh giá (%)

1



2



3



4



5



3,03



16



17



33



16



18



2,62



23



27



25



15



10



2,89



21



20



24



19



16



3,49



11



10



24



29



26



4,09



0



0



32



27



41



(Nguồn: Số liệu điều tra khảo sát)

 Đánh giá về công tác lập dự tốn hằng năm

Nhìn chung các tiêu chí liên quan đến cơng tác lập dự tốn, mức độ đồng ý

khơng cao, trong đó chỉ có 29% ý kiến của cán bộ cơng nhân viên phản hồi tích cực

về tính chính xác của cơng tác lập dự tốn của trường, 33% ý kiến đồng tình về việc

lập dự tốn đảm bảo đúng thời gian quy định.Công tác lập dự tốn của trường thực

hiện đúng quy trình, cơ bản đáp ứng yêu cầu đặt ra và phản ánh tương đối đầy đủ

các nguồn tài chính và kế hoạch chi tiêu của đơn vị. Tuy nhiên, nhà trường chưa

quan tâm đúng mức cơng tác này, một phần do trình độ chun môn của cán bộ

chưa chuyên sâu nên công tác lập dự tốn còn hạn chế: chưa tính đúng, tính đủ các

chỉ tiêu kế hoạch, chưa nắm bắt được nhu cầu trang bị về cơ sở vật chất, thiết bị

phục vụ giảng dạy, khả năng huy động nguồn vốn từ bên ngồi. Mức độ đánh giá

trung bình của các tiêu chí về cơng tác lập dự tốn đạt từ 2,88 đến 2,98.



91



Bảng 2.17: Đánh giá của cán bộ công nhân viên về cơng tác

lập dự tốn hằng năm

Chỉ tiêu

Cơng tác lập dự toán hàng năm của đơn vị đảm bảo được tính chính xác?

Cơng tác lập dự tốn hàng năm của đơn vị đảm bảo đúng thời gian quy định?

(Nguồn: Số liệu điều tra khảo sát)

 Công tác lập báo cáo, thẩm tra, kiểm tra tài chính và quyết tốn



Đánh giá mức độ thực hiện cơng tác hạch tốn, quyết tốn hàng năm của nhà

trường, kết quả khảo sát cho thấy có 32/100 đối tượng khơng biết rõ tiêu chí này.

Đối với 68 đối tượng ít nhiều có biết về cơng tác hạch tốn kế tốn hàng năm thì đa

phần đối tượng đều đánh giá từ mức trung lập trở lên trong đó có 40/100 đối tượng

có biết đánh giá rất đồng ý, 41/100 đối tượng đánh giá ở mức đồng ý và 19/100 đối

tượng đánh giá ở mức trung lập. Với tiêu chí này, mức đánh giá trung bình đạt 3,79.

Bởi trong nhóm này vẫn có một số đối tượng chưa hiểu rõ về cơng tác hạch tốn kế

tốn của đơn vị nên đánh giá ở mức trung lập.

Về công tác phân tích báo cáo tài chính đáp ứng được yêu cầu quản lý, kết

quả đánh giá của cán bộ công nhân viên chức nhà trường cho thấy mức độ đánh gía

khá cao, trong đó đặc biệt lưu ý có đến 61% đối tượng khảo sát cho rằng công tác

phân tích tài chính đã đáp ứng được yêu cầu. Tiêu chí này có mức đánh giá trung

bình đạt 3,14 trên 5 mức độ. Nguyên nhân của vấn đề này là nhiều cán bộ nhà

trường thiếu quan tâm đến báo cáo phân tích tài chính của đơn vị, việc tìm hiểu và

đọc báo cáo này thường chỉ dành cho các vị trí quản lý trong nhà trường và một số

ít cán bộ giảng viên quan tâm.

Đánh giá mức độ công tác thẩm tra quyết toán đã chấn chỉnh kịp thời những sai

sót, nâng cao hiệu quả cơng tác quản lý tài chính, kết quả khảo sát cho thấy có 22/100

đối tượng đánh giá trung lập, 20/100 đối tượng đồng ý, 23/100 đối tượng đánh giá rất

đồng ý. Mức độ đánh giá trung bình của các đối tượng khảo sát đối với tiêu chí này là



92



3,14/5 mức độ đồng ý. Sau khi Đại học Huế thẩm tra quyết toán, đơn vị đã điều chỉnh

theo biên bản thẩm tra, nâng cao hiệu quả cơng tác quản lý tài chính.

Đánh giá về thực hiện tốt cơng tác tự kiểm tra tài chính, kết quả khảo sát cho

thấy có đến 48% đối tượng khảo sát không biết rõ về vấn đề này. Mức độ đánh giá

trung bình chỉ đạt 2,69 trên 5 mức độ. Trong 100 đối tượng khảo sát thì có đến

48/100 đối tượng đánh giá tiêu cực cụ thể có 23 đối tượng rất không đồng ý và 9

đối tượng không đồng ý. Thời gian tự kiểm tra ngắn, nên nội dung kiểm tra còn đơn

giản, sơ sài. Do vậy, cơng tác tự kiểm tra tài chính chưa thực sự hiệu quả, còn mang

nặng tính hình thức.

Bảng 2.18: Đánh giá của cán bộ công nhân viên về công tác lập báo cáo, thẩm

tra, kiểm tra tài chính và quyết tốn hằng năm



(Nguồn: Số liệu điều tra khảo sát)

 Công tác khác liên quan đến quản lý tài chính

Đánh giá về mức độ am hiểu về chế độ chính sách trong cơng tác quản lý tài

chính, đa phần các cán bộ nhân viên nhà trường không nắm rõ. Mức độ đánh

giá trung khá thấp là 2,75 trên 5 mức độ. Kết quả khảo sát cho thấy chỉ

có khoảng 28% cán bộ cơng nhân viên chức nhà trường phản hồi tích cực, trong

đó có 18/100 đối tượng đồng ý, chiếm tỷ lệ 18% và 10/100 đối tượng rất đồng ý,

chiếm tỷ lệ 10%. Nhóm đối tượng ít hiểu rõ về tự chủ tài chính của trường đại học

cơng lập có tỷ lệ khá cao trong mẫu khảo sát với 20/100 người rất không đồng ý

và 23/100 người khơng đồng ý, tỷ lệ cán bộ ít hiểu rõ về vấn này chiếm tỷ lệ đến

43%. Nhóm đối tượng có mức độ am hiểu vừa, phản hồtrung lập cũng chiếm tỷ lệ

khá cao với 29/100 đối tượng tương ứng tỷ lệ 29%. Điều này là do trong thực tế



93



nhiều cán bộ giảng viên- bộ phận chiếm tỷ trọng lớn trong đội ngũ nhà trường

thường chỉ tập trung chuyên môn giảng dạy và nghiên cứu, các vấn đề liên quan tài

chính họ thường ít nắm rõ.

Đánh giá mức độ ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý tài chính, kết

quả khảo sát cho thấy có 32/100 đối tượng đánh giá trung lập, 33/100 đối tượng

đồng ý, 35/100 đối tượng đánh giá rất đồng ý. Mức độ đánh giá trung bình của các

đối tượng khảo sát đối với tiêu chí này là 4,03/5 mức độ đồng ý. Hiện nay, đơn vị

đang sử dụng phần mềm MISA thay cho phần mềm chung của Đại học Huế đã lạc

hậu, không còn phù hợp với các quy định.

Do mặt bằng chung sự am hiểu của đối tượng khảo sát về công tác quản lý

tài chính khá thấp nên khi đề cập đến vấn đề chất lượng của cán bộ làm công tác

quản lý tài chính tại đơn vị đáp ứng được yêu cầu đặt ra hay không, kết quả đánh

giá cho thấy nhìn chung cán bộ cơng nhân viên của nhà trường có xu hướng trung

lập. Mức độ đồng ý trung bình khá thấp, chỉ đạt 2,94 trên 5 mức độ. Có 29% cán bộ

đánh giá tiêu cực, trong đó có 12 người rất không đồng ý và 17 người không đồng ý

với quan điểm này. Nhóm đối tượng có sự phân vân đối với vấn đề này cũng chiếm

tỷ lệ khá cao, lên đến 44% đối tượng chọn trung lập, Chỉ có khoảng 27% đối tượng

khảo sát đánh giá tốt chất lượng của công tác quản lý.

Đánh giá về công tác đào tạo, bồi dưỡng để nâng cao trình độ chuyên môn cho

đội ngũ cán bộ làm công tác tài chính, kết quả thống kê cho thấy có 38 đối tượng

khảo sát đánh giá rất đồng ý (chiếm tỷ lệ 38%), 32 đối tượng đánh giá đồng ý (chiếm

tỷ lệ 32%) và 30 đối tượng đánh giá trung lập (chiếm tỷ lệ 30%).Thống kê mức đánh

giá trung bình về cơng tác đào tạo nâng cao trình độ là 4,02. Đây là tiêu chí cho thấy

nhà trường rất quan tâm đến cơng tác đào tạo, bồi dưỡng để nâng cao trình độ chuyên

môn cho đội ngũ cán bộ làm công tác tài chính. Cán bộ Tổ Kế hoạch tài chính tham

gia đầy đủ các buổi tập huấn chế độ kế toán do Đại học Huế tổ chức.

Đánh giá về tính dân chủ khi tiến hành soạn thảo quy chế chi tiêu nội bộ, kết

quả thống kê cho thấy cán bộ công nhân viên của nhà trường đánh giá rất cao về

việc tổ chức thảo luận rộng rãi, dân chủ, công khai khi soạn thảo quy chế chi tiêu



94



nội bộ. Có 41/100 đối tượng đánh giá rất đồng ý với ý kiến này, 30/100 đối tượng

đánh giá ở mức đồng ý, 29/100 đối tượng đánh giá ở mức trung lập; hầu như khơng

có trường hợp nào trong mẫu khảo sát đánh giá tiêu cực về tiêu chí này. Yếu tố này

được đánh giá trung bình ở mức độ 4,12/5 mức độ. Điều này là do khi xây dựng,

ban hành quy chế chi tiêu nội bộ, bao giờ nhà trường cũng gửi thông tin về các

khoa, phòng ban và có thời hạn để tiếp nhận góp ý. Chính cách thức này đã giúp cán

bộ công nhân viên nhà trường cảm thấy sự minh bạch, dân chủ cao trong việc xây

dựng quy chế chi tiêu nội bộ.

Bảng 2.19: Đánh giá của cán bộ công nhân viên về công tác khác liên quan đến

quản lý tài chính

Chỉ tiêu

Các chế độ, chính sách nhà nước

ban hành đã tạo điều kiện thuận lợi

cho công tác quản lý tài chính tại

Đại học Huế?

Đơn vị đã thực hiện tốt việc ứng

dụng công nghệ thông tin vào công

tác quản lý tài chính hiện nay?

Chất lượng của cán bộ làm cơng tác

quản lý tài chính tại đơn vị đáp ứng

được yêu cầu đặt ra?

Đơn vị đã làm tốt công tác đào tạo,

bồi dưỡng để nâng cao trình độ

chun mơn cho đội ngũ cán bộ làm

cơng tác tài chính?

Đảm bảo tính dân chủ, công khai

khi soạn thảo quy chế chi tiêu nội bộ



GTT

B



Tần suất đánh giá (%)

1

2

3

4

5



2,75



20



23



29



18



10



4,03



0



0



32



33



35



2,94



12



17



44



19



8



4,02



0



0



29



40



31



4,12



0



0



29



30



41



(Nguồn: Số liệu điều tra khảo sát)



95



2.3.2. Kết quả đạt được và hạn chế của công tác quản lý tài chính tại Trường

Đại học Nghệ thuật

a. Những kết quả đạt được - nguyên nhân

Qua nghiên cứu và phân tích ở phần trên cho thấy cơng tác QLTC của

Trường Đại học Nghệ thuật, Đại học Huế đã đạt được những kết quả sau:

- Về tổ chức bộ máy QLTC: Mơ hình tổ chức cơng tác QLTC của Trường Đại

học Nghệ thuật, Đại học Huế đã phát huy vai trò điều hành, quản lý của trường vừa

phát huy tính độc lập, tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính của các đơn vị thành

viên theo tinh thần của Nghị định số 43/NĐ-CP ngày 25/04/2006 của Chính phủ. Bộ

máy QLTC của Trường Đại học Nghệ thuật, Đại học Huế đã đi vào nền nếp, đảm

bảo sự điều hành, quản lý thống nhất và sử dụng có hiệu quả nguồn lực tài chính.

Trường Đại học Nghệ thuật đã chú trọng đến đào tạo chuyên môn nghiệp vụ cho đội

ngũ cán bộ làm công tác QLTC bằng cách cử cán bộ tham gia lớp tập huấn, bồi

dưỡng nghiệp vụ do cấp trên tổ chức, đồng thời cử cán bộ đi học ở bậc học cao hơn

như thạc sỹ, tiến sỹ. Do vậy, trình độ của đội ngũ cán bộ QLTC ngày càng được

nâng lên, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.

- Về quản lý nguồn thu: Trên cơ sở quy định về mức thu học phí, lệ phí và

thu khác của nhà nước, Trường Đại học Nghệ thuật, Đại học Huế đã kịp thời áp

dụng mức thu học phí các loại hình đào tạo chính quy, lệ phí tuyển sinh hệ chính

quy theo đúng quy định. Trường Đại học Nghệ thuật quy định mức thu học phí

khơng chính quy và các loại thu khác nhưng không trái với quy định của Nhà nước

và trình Đại học Huế phê duyệt, đồng thời khơng thu thêm các loại phí, lệ phí khơng

có trong danh mục quy định của Nhà nước.

- Về quản lý nội dung chi: Trường Đại học Nghệ thuật, Đại học Huế đã tiến

hành xây dựng quy chế chi tiêu nội bộ hằng năm nhằm quản lý công tác thu - chi tài

chính một cách khoa học, đúng mục đích, có hiệu quả và phù hợp với tình hình thực tế,

khả năng tài chính của đơn vị. Một số nội dung được thực hiện theo phương thức

khốn chi phí quản lý hành chính cho từng cá nhân, bộ phận sử dụng như: sử dụng văn

phòng phẩm, điện thoại, xăng xe, điện, nước, cơng tác phí... nhằm đổi mới cơ cấu chi



96



thường xuyên để tăng cường chi cho đầu tư cơ sở vật chất, mua sắm thiết bị và hoạt

động chuyên môn nghiệp vụ mà đặc biệt là chi cho công tác giảng dạy và học tập.

- Về trích lập và sử dụng các quỹ: Việc trích lập các qũy thực hiện theo

hướng dẫn tại nghị định 43/2006/NĐ-CP ngày 25/04/2006 của Chính phủ đã tạo

điều kiện cho đơn vị thực hiện tốt chế độ, chính sách đối với CBCNV, thu nhập của

cán bộ, giáo viên ngày càng tăng;

- Về công tác tự kiểm tra tài chính: Trường Đại học Nghệ thuật đã chủ động

tổ chức công tác tự kiểm tra tài chính hàng năm, đưa cơng tác QLTC, kế tốn đi vào

nề nếp, hạn chế được những sai sót trong QLTC, chống tham nhũng, lãng phí.

- Về ứng dụng cơng nghệ thông tin vào công tác QLTC: Đã triển khai ứng

dụng công nghệ thôn tin, phần mềm QLTC vào công tác QLTC ở Trường, do đó

thuận lợi cho việc quản lý, điều hành, các thông tin báo cáo được thống nhất, kịp

thời và nhanh chóng.

- Về lập và phân tích báo cáo tài chính: Thống nhất phương pháp và biểu

mẫu báo cáo tài chính, do đó việc lập và phân tích báo cáo tài chính dễ dàng, khoa

học, hợp lý. Các thông tin đã được báo cáo thống nhất và phản ánh đầy đủ, tạo điều

kiện thuận lợi cho công tác điều hành, quản lý và công tác quản trị của đơn vị.

b. Một số hạn chế - nguyên nhân

Bên cạnh kết quả đạt được, QLTC của Trường Đại học Nghệ thuật còn một

số hạn chế sau:

- Về tổ chức bộ máy QLTC

+ Chưa có bộ phận kiểm tốn nội bộ trực thuộc Trường Đại học Nghệ thuật,

Đại học Huế nhằm tăng cường cơng tác kiểm tra, kiểm sốt tình hình QLTC của các

đơn vị trực thuộc.

- Về nguồn tài chính: Nguồn tài chính của Trường Đại học Nghệ thuật, Đại học

Huế vẫn còn phụ thuộc nhiều vào nguồn NSNN cấp hàng năm. Nguồn NSNN cấp tăng

chậm chưa chưa đảm bảo hoạt động thường xuyên của đơn vị. Bình quân các trường

đại học thành viên của Đại học Huế tự đảm bảo cân đối chi thường xuyên được



97



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

b. Kết quả đánh giá tổ chức công tác kế toán theo số liệu khảo sát

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×
x