Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Tổng quan các nghiên cứu trong cùng lĩnh vực của các tác giả trước đây

Tổng quan các nghiên cứu trong cùng lĩnh vực của các tác giả trước đây

Tải bản đầy đủ - 0trang

CHƯƠNGhương 1 I:

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ TÀI CHÍNH

DOANH NGHIỆP



I1.1. Những vấn đề lý luận cơ bản về tài chính doanh

nghiệpNHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ TÀI CHÍNH DOANH

NGHIỆP

11.1.1. Những vấn đề cơ bản về doanh nghiệp

1.1.1.1. Doanh nghiệp

Trong thực tế có nhiều khái niệm hay định nghĩa khác nhau về doanh

nghiệp, tùy thuộc vào những quan niệm hay cách nhìn nhận khác nhau về vai

trò, vị trí hay chức năng của một doanh nghiệp trong xã hội. Xét trên góc độ

quản lý về mặt nhà nước và đặc điểm hoạt động, doanh nghiệp có thể được định

nghĩa như sau (Luật Doanh nghiệp số 68/2014/QH13 hiệu lực từ 01/07/2015):

Doanh nghiệp là tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, được

đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh

1.1.1.2. Phân loại doanh nghiệp

Có nhiều hình thức và tiêu chí khác nhau được sử dụng để phân loại

doanh nghiệp trong xã hội. Về tư cách pháp nhân và trách nhiệm pháp lý

chung đối với hoạt động của doanh nghiệp thì doanh nghiệp được chia thành

04 loại sau (Luật Doanh nghiệp, 2014):

(1) Công ty trách nhiệm hữu hạn ( một thành viên hay hai thành viên trở lên)

(2) Công ty cổ phần

(3) Công ty hợp danh



Trang 7



(4) Doanh nghiệp tư nhân

Ngoài phân loại chung như trên, các doanh nghiệp còn có thể được

phân loại theo các tiêu chí khác nhau:

* Theo sở hữu vốn: Các doanh nghiệp ở Việt Nam hiện nay được phân

loại thành doanh nghiệp Nhà nước (doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100%

vốn điều lệ) và doanh nghiệp ngồi Nhà nước.

* Theo quy mơ: Các doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp lớn. Việc

phân loại theo quy mô chủ yếu dựa trên quy mô vốn và nhân lực sử dụng

trong doanh nghiệp.

* Theo phạm vi kinh doanh và phương thức hình thành: Các doanh nghiệp

có thể là doanh nghiệp liên doanh, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, doanh

nghiệp kinh doanh quốc tế hay các cơng ty, tập đồn đa quốc gia,…

Theo Eugene F.Brigham & Joel F.Houston (2009) [3, tr. 46], các khía

cạnh của quản trị là như nhau cho tất cả các loại doanh nghiệp, không phụ

thuộc và quy mô và cơ cấu tổ chức. Mặc dù vậy, các loại doanh nghiệp khác

nhau sẽ tác động lên một số mặt hoạt động của cơng ty nên cần phải được

nhận biết.

1.1.2. Tài chính doanh nghiệp

1.1.2.1. Khái niệm

Khái niệm tài chính, hiểu theo nghĩa thơng thường thì đó là những hoạt

động huy động vốn, sử dụng, phát triển và quản lý tiền vốn. Có nghĩa là

doanh nghiệp cần tích luỹ vốn, sau đó đầu tư vào hoạt động sản xuất và kinh

doanh làm số tiền đó tăng lên - tức là tiền sinh tiền. Từ đó, doanh nghiệp có

được lợi nhuận thơng qua hoạt động sản xuất kinh doanh. Tuy nhiên, nhà

doanh nghiệp không được hưởng toàn bộ lợi nhuận này mà phải phân phối

một phần cho ngân sách nhà nước, nhân viên và cả nội bộ doanh nghiệp.

Những hoạt động nói trên đã hình thành nên tài chính doanh nghiệp.



Trang 8



Dưới góc độ quản lý thì tài chính là hoạt động huy động, sử dụng, sắp

xếp, phân phối vốn và là các mối quan hệ giá trị giữa doanh nghiệp với các

chủ thể trong nền kinh tế.

1.1.2.2. Bản chất của tài chính doanh nghiệp

Trong quá trình hoạt động kinh doanh, doanh nghiệp phải đảm bảo sự

phối hợp đồng bộ, ăn khớp về những hoạt động liên quan đến thị trường hàng

hoá dịch vụ, thị trường vốn, thị trường lao động và tổ chức nội bộ trong doanh

nghiệp, nhằm tạo ra sự tăng trưởng, đạt được tỷ suất lợi nhuận tối đa. Chính

trong quá trình đó đã làm nảy sinh hàng loạt những quan hệ kinh tế với các

chủ thể khác thông qua sự vận động của vốn tiền tệ.

 Quan hệ tài chính giữa doanh nghiệp với nhà nước:

Mối quan hệ này thể hiện ở chỗ nhà nước cấp phát, hỗ trợ vốn và góp

vốn cổ phần theo những nguyên tắc và phương thức nhất định để tiến hành sản

xuất kinh doanh và phân chia lợi nhuận. Đồng thời, các mối quan hệ tài chính

này còn phản ánh những quan hệ kinh tế dưới hình thức giá trị phát sinh khi

thực hiện quá trình phân phối và phân phối lại tổng sản phẩm xã hội và thu

nhập quốc dân giữa ngân sách nhà nước với các doanh nghiệp. Điều này được

thể hiện thông qua các khoản thuế mà doanh nghiệp có nghĩa vụ pháp lý phải

nộp cho ngân sách nhà nước. Lợi nhuận của doanh nghiệp đạt được phụ thuộc

rất lớn vào chính sách thuế. Mặt khác, sự thay đổi về chính sách tài chính vĩ mơ

của nhà nước sẽ làm thay đổi mơi trường đầu tư, từ đó cũng ảnh hưởng đến cơ

cấu vốn kinh doanh, chi phí hoạt động của từng doanh nghiệp, chẳng hạn như

chính sách đầu tư, hỗ trợ tài chính của nhà nước đối với doanh nghiệp.

 Quan hệ tài chính giữa doanh nghiệp với thị trường tài chính:

Doanh nghiệp thực hiện q trình trao đổi mua bán các sản phẩm nhằm

thoả mãn mọi nhu cầu về vốn của mình. Trong q trình đó, Doanh nghiệp

ln phải tiếp sxúc với thị trường tài chính mà chủ yếu là thị trường tiền tệ và



Trang 9



thị trường vốn.

 Thị trường tiền tệ: thông qua các hệ thống ngân hàng, Doanh nghiệp

có thể tạo được nguồn vốn ngắn hạn và trung hạn để tài trợ cho mọi hoạt động

sản xuất kinh doanh của mình. Bên cạnh đó, mỗi doanh nghiệp phải mở tài

khoản tại một ngân hàng nhất định và thực hiện các giao dịch mua bán qua

chuyển khoản.

 Thị trường vốn: thơng qua thị trường này các doanh nghiệp có thể tạo

được nguồn vốn dài hạn bằng cách phát hành chứng khốn của cơng ty như

cổ phiếu, kỳ phiếu,… Mặt khác, doanh nghiệp có thể tiến hành kinh doanh

chứng khốn trên thị trường này để kiếm lời.

 Quan hệ tài chính của doanh nghiệp với các thị trường khác:

Trong nền kinh tế, doanh nghiệp có quan hệ chặt chẽ với các doanh

nghiệp khác trên thị trường hàng hoá, dịch vụ, thị trường sức lao động. Tại

các thị trường này doanh nghiệp tiến hành mua sắm máy móc thiết bị, nhà

xưởng, tìm kiếm lao động, v.v… Thơng qua đây, doanh nghiệp còn có thể xác

định lượng nhu cầu hàng hố, và dịch vụ cần thiết cung ứng. Trên cơ sở đó,

doanh nghiệp hoạch định ngân sách đầu tư, kế hoạch sản xuất, tiếp thị nhằm

thoả mãn nhu cầu thị trường.

 Quan hệ tài chính trong nội bộ doanh nghiệp:

Bao gồm các mối quan hệ tài chính như:

 Quan hệ của những doanh nghiệp mẹ và doanh nghiệp con.

 Quan hệ của những doanh nghiệp với người hoặc nhóm người có

khả năng chi phối ra quyết định, hoạt động của doanh nghiệp đó thơng qua

các cơ quan quản lý doanh nghiệp.

 Quan hệ của những doanh nghiệp với quản lý doanh nghiệp.

 Quan hệ của những doanh nghiệp với người lao động.



Trang 10



Các mối quan hệ này được biểu hiện thông qua chính sách tài chính của

doanh nghiệp như sau:

- Chính sách phân phối thu nhập cho người lao động

- Chính sách chia lãi cho các Cổ Đơng

- Chính sách cơ cấu nguồn vốn

- Chính sách đầu tư và cơ cấu đầu tư

Nhìn chung, các quan hệ kinh tế nêu trên đã khái qt hố tồn bộ

những khía cạnh về sự vận động của vốn trong hoạt động kinh doanh của

doanh nghiệp. Đặc trưng của sự vận động của vốn luôn luôn gắn liền chặt chẽ

với quá trình phân phối các nguồn tài chính của doanh nghiệp và xã hội nhằm

tạo lập, phân phối và sử dụng quỹ tiền tệ của doanh nghiệp phục vụ cho q

trình kinh doanh.

Trên cơ sở đó, có thể định nghĩa bản chất của tài chính doanh nghiệp là

hệ thống các quan hệ kinh tế phát sinh trong q trình phân phối các nguồn lực

tài chính, được thực hiện thơng qua các q trình huy động và sử dụng các loại

vốn, quỹ tiền tệ nhằm phục vụ cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.

1.1.3. Chức năng của tài chính doanh nghiệp

1.1.3.1. Tổ chức huy động chu chuyển vốn, đảm bảo cho sản xuất kinh

doanh được tiến hành liên tục

Doanh nghiệp là đơn vị kinh tế cơ sở có nhiệm vụ sản xuất kinh doanh

nên có nhu cầu về vốn, tuỳ theo từng loại hình doanh nghiệp mà vốn được

dhuy động từ những nguồn sau:

- Ngân sách Nhà nước cấp

- Vốn cổ phần

- Vốn liên doanh

- Vốn tự bổ sung

- Vốn vay



Trang 11



Nội dung của chức năng này:

- Căn cứ vào nhiệm vụ sản xuất, định chức mức tiêu chuẩn để xác định

nhu cầu vốn cần thiết cho sản xuất kinh doanh.

- Cân đối giữa nhu cầu và khả năng về vốn.

Nếu nhu cầu lớn hơn khả năng về vốn thì doanh nghiệp phải huy động

thêm vốn (tìm nguồn tài trợ với chi phí sử dụng vốn thấp nhưng đảm bảo có

hiệu quả).

Nếu nhu cầu nhỏ hơn khả năng về vốn thì doanh nghiệp có thể mở rộng

sản xuất hoặc tìm kiếm thị trường để đầu tư mang lại hiệu quả.

- Lựa chọn nguồn vốn và phân phối sử dụng vốn hợp lý để sao cho với

số vốn ít nhất nhưng mang lại hiệu quả cao nhất.

1.1.3.2. Chức năng phân phối thu nhập của tài chính doanh nghiệp

Thu nhập bằng tiền từ bán sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ, lợi tức cổ

phiếu, lãi cho vay, thu nhập khác của doanh nghiệp được tiến hành phân phối

như sau:

Bù đắp hao phí vật chất, lao động đã tiêu hao trong q trình sản xuất

kinh doanh bao gồm:

- Chi phí vật tư như nguyên vật liệu, nhiên liệu, động lực, cơng cụ lao

động nhỏ,…

- Chi phí khấu hao tài sản cố định

- Chi phí tiền lương và các khoản trích theo lương

- Chi phí dịch vụ mua ngồi, chi phí khác bằng tiền (kể cả các khoản

thuế gián thu)

Phần còn lại là lợi nhuận trước thuế được phân phối tiếp như sau:

- Nộp thuế thu nhập doanh nghiệp theo luật định (hiện nay tính bằng

28% trên thu nhập chịu thuế)

- Bù lỗ năm trước không được trừ vào lợi nhuận trước thuế (nếu có)

- Nộp thuế vốn (nếu có)

Trang 12



- Trừ các khoản chi phí khơng hợp lý, hợp lệ

- Chia lãi cho đối tác góp vốn

- Trích vào các quỹ doanh nghiệp

1.1.3.3. Chức năng giám đốc (kiểm soát) đối với hoạt động sản xuất

kinh doanh

Giám đốc tài chính là việc thực hiện kiểm sốt q trình tạo lập và sử

dụng các quỹ tiền tệ của doanh nghiệp.

Cơ sở của giám đốc tài chính:

- Xuất phát từ tính quy luật phân phối sản phẩm quyết định (ở đâu có

phân phốíi tài chính thì ở đó có giám đốc tài chính).

- Xuất phát từ tính mục đích của việc sử dụng vốn trong sản xuất kinh

doanh.

Muốn cho đồng vốn có hiệu quả cao, sinh lời nhiều thì tất yếu phải

giám đốc tình hình tạo lập sử dụng quỹ tiền tệ trong doanh nghiệp.

Nội dung

- Thơng qua chỉ tiêu vay trả, tình hình nộp thuế cho Nhà nước mà Nhà

nước, Ngân hàng biết được tình hình sử dụng vốn của doanh nghiệp tốt hay

chưa tốt.

- Thông qua chỉ tiêu giá thành, chi phí mà biết được doanh nghiệp sử

dụng vật tư, tài sản, tiền vốn tiết kiệm hay lãng phí.

- Thơng qua chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận (tỷ suất lợi nhuận doanh thu, giá

thành, vốn) mà biết được doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả hay khơng?

1.1.4. Vai trò của tài chính doanh nghiệp

Tài chính doanh nghiệp là một phạm trù kinh tế tồn tại khách quan

trong nền kinh tế hàng hố - tiền tệ. Sự vận động của nó một mặt phải tuân

theo những quy luật kinh tế khách quan, mặt khác do tài chính doanh nghiệp

là các quan hệ nằm trong hệ thống những quan hệ kinh tế gắn liền với hoạt



Trang 13



động kinh doanh nên tài chính doanh nghiệp còn phải chịu sự chi phối bởi các

mục tiêu và phương hướng kinh doanh của các chủ thể doanh nghiệp. Nhưng

đến lượt mình, tài chính doanh nghiệp lại có tác động theo hướng thúc đẩy

hay kìm hãm hoạt động kinh doanh. Trên góc độ này, tài chính doanh nghiệp

được xem là một trong những cơng cụ có vai trò quan trọng trong quản lý

kinh doanh.

Vai trò của tài chính doanh nghiệp được biểu hiện qua các mặt sau:

 Tổ chức huy động và phân phối sử dụng các nguồn lực tài chính

có hiệu quả.

Đối với một doanh nghiệp, vốn là yếu tố vật chất cho sự tồn tại và phát

triển. Do vậy, vấn đề tổ chức huy động và phân phối sử dụng sao cho có hiệu

quả trở thành nhiệm vụ rất quan trọng đối với công tác quản lý tài chính

doanh nghiệp. Trong nền kinh tế thị trường, vốn cũng là một loại hàng hoá,

cho nên việc sử dụng vốn của doanh nghiệp đều phải trả giá một khoản chi

phí nhất định. Vì thế, doanh nghiệp cần phải chủ động xác định nhu cầu vốn

cần huy động, từ đó có kế hoạch hình thành cơ cấu nguồn vốn tài trợ cho hoạt

động kinh doanh một cách hiệu quả.

Song song với quá trình huy động vốn, đảm bảo vốn tài chính doanh

nghiệp còn có vai trò tổ chức phân phối sử dụng để đạt hiệu quả kinh doanh

cao nhất –- đây là vấn đề có tính quyết định đến sự sống còn của doanh

nghiệp trong q trình cạnh tranh “khắc nghiệt” theo cơ chế thị trường trong

kinh doanh, tính hiệu quả của việc sử dụng vốn được biểu hiện ra là:

 Về mặt kinh tế: lợi nhuận tăng, vốn của doanh nghiệp khơng ngừng

được bảo tồn và phát triển.

 Về mặt xã hội: các doanh nghiệp không chỉ làm tròn nghĩa vụ của

mình đối với Nhà nước mà còn không ngừng nâng cao mức thu nhập của

người lao động.



Trang 14



Để đạt được các yêu cầu trên đòi hỏi doanh nghiệp phải chủ động nắm

bắt tín hiệu của thị trường, lựa chọn phương án kinh doanh thích hợp và hiệu

quả. Trên cơ sở phương án kinh doanh đã được xác định, doanh nghiệp tổ

chức bố trí sử dụng vốn theo phương châm: Tiết kiệm, Nnâng cao vòng quay

và khả năng sinh lời của đồng vốn.



 Tạo lập các đòn bẩy tài chính để kích thích điều tiết các hoạt động

kinh tế trong doanh nghiệp.

Hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp ln ln cần có sự phối hợp

đồng bộ của nhiều người, nhiều bộ phận với nhau đặt trong các mối quan hệ

kinh tế. Vì́ vậy, nếu sử dụng linh hoạt, sáng tạo các quan hệ phân phối của tài

chính để tác động đến các chính sách tiền lương, tiền thưởng và các chính

sách khuyến khích vật chất khác sẽ có tác động tích cực đến việc tăng năng

suất; kích thích tiêu dùng, tăng vòng quay vốn và cuối cùng là tăng được lợi

nhuận của doanh nghiệp. Ngược lại, nếu người quản lý phạm phải những sai

lầm trong việc sử dụng các đòn bẩy tài chính và tạo nên cơ chế quản lý tài

chính kém hiệu quả, thì chính tài chính doanh nghiệp lại trở thành “vật cản”

gây kìm hãm hoạt động kinh doanh [???].[Lưu Thị Hương –- Vũ Duy Hào, 5].

 Kiểm tra đánh giá hiệu quả các hoạt động kinh doanh của doanh

nghiệp.

Xuất phát từ vấn đề có tính nguyên lý là : khi đầu tư vốn kinh doanh

bất kỳ nhà doanh nghiệp nào cũng đều mong muốn đồng vốn của mình mang

lại hiệu quả kinh tế cao nhất, do vậy với tư cách là một công cụ quản lý hoạt

động kinh doanh tài chính nhất thiết phải có vai trò kiểm tra để nâng cao tính

tiết kiệm và hiệu quả củaảu đồng vốn.

Tài chính doanh nghiệp thực hiện kiểm tra bằng đồng tiền và tiến hành



Trang 15



thường xuyên liên tục thơng qua phân tích các chỉ tiêu tài chính. Cụ thể các

chỉ tiêu đó là chỉ tiêu tài chính, chỉ tiêu về các khả năng thanh tốn, chỉ tiêu

đặc trưng về hoạt động, sử dụng các nguốn lực tài chính; chỉ tiêu đặc trưng về

khả năng sinh lời,… Bằng việc phân tích các chỉ tiêu tài chính cho phép

doanh nghiệp có căn cứ quan trọng để đề ra kịp thời các giải pháp tối ưu làm

lành mạnh hoá tình hình tài chính của doanh nghiệp, cụ thể:

 Đảm bảo cung ứng đủ vốn cho quá trình kinh doanh

 Sử dụng vốn có hiệu quả

 Giảm thấp chi phí kinh doanh và giá thành sản phấm

 Nâng cao tỷ suất lợi nhuận của doanh nghiệp

II1.2. Những vấn đề lý luận về quản lý tài chính doanh

nghiệpNHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ TÀI CHÍNH

DOANH NGHIỆP

1.2.1. Khái niệm quản lý tài chính doanh nghiệp

Theo PGS.TS. Thái Thanh Hà (2010) [10, tr.2], Quản trị tài chính là

q trình quản trị mà trọng tâm của nó được đặt vào các quyết định đầu tư,

mua sắm, tài trợ và quản lý tài sản doanh nghiệp nhằm đạt mục tiêu đề tra.

Nói một cách khác, q trình quản trị tài chính có liên quan đến 3 loại quyết

định chính: quyết định đầu tư, quyết định nguồn vốn và quyết định quản lý tài

sản trong một doanh nghiệp.

1.2.2. Mục tiêu của quản lý tài chính doanh nghiệp

Một doanh nghiệp tồn tại và phát triển vì nhiều mục tiêu khác nhau như:

tối đa hố lợi nhuận, tối đa hoá doanh thu trong ràng buộc tối đa hóa lợi nhn,

tối đa hố hoạt động hữu ích của các nhà lãnh đạo doanh nghiệp… Song tất cả

các mục tiêu cụ thể đó đều nhằm một mục tiêu bao trùm nhất là tối đa hoá giá

trị tài sản cho các chủ sở hữu hay tối đa hoá tài sản doanh nghiệp.

Tối đa hoá tài sản doanh nghiệp cũng còn gọi là tối đa hố giá trị doanh



Trang 16



nghiệp là chỉ doanh nghiệp áp dụng chính sách tài chính tối ưu để không

ngừng tăng nhanh tài sản doanh nghiệp và làm cho tổng giá trị doanh nghiệp

đạt mức tối đa thơng qua việc tăng trưởng nguồn vốn có tình đến những giá trị

thời gian và sự đền bù của rủi ro.

Coi tối đa hoá tài sản doanh nghiệp làm mục tiêu quản lý tài chính

doanh nghiệp có những ưu điểm sau:

 Mục tiêu tối đa hoá tài sản doanh nghiệp có thể khắc phục

những hành vi ngắn hạn trong quá trình theo đuổi lợi nhuận.

Sở dĩ như vậy là vì nhân tố ảnh hưởng đến giá trị doanh nghiệp không

chỉ là lợi nhuận hiện tại hay quá khứ mà dự đốn lợi nhuận tương lai ngày

càng có ảnh hưởng lớn đến giá trị doanh nghiệp. Với mục tiêu tối đa hoá tài

sản doanh nghiệp, các nhà kinh doanh buộc phải xem xét đến sự phát triển lâu

dài của doanh nghiệp, không ngừng tạo nên sự tăng trưởng lợi nhuận mới

trong tương lai. [Lưu Thị Hương –- Vũ Duy Hào, [5]

 Mục tiêu tối đa hố tài sản khơng những xem xét lợi nhuận cao

hay thấp mà còn càng chú ý đến lưu lượng vốn nhiều hay ít.

Điều mà tối đa hóa tài sản doanh nghiệp mưu cầu đó là nhu cầu lượng

tiền mặt đầu vào không ngừng gia tăng và tốc độ quay vòng vốn ngày càng

nhanh. Xét về sự tồn tại và phát triển lâu dài của doanh nghiệp, vốn nhiều hay

ít quan trọng hơn là lợi nhuận ít hay nhiều. Doanh nghiệp chỉ có tăng nhanh lưu

lượng tiền mặt đầu vào thì mới có thể liên tục phát triển. Hơn nữa lưu lượng

tiền mặt đầu vào lại xem xét nhân tố thời gian của tiền vốn hay khơng, đồng

thời tiến hành tính tốn một cách khoa học trên nguyên tắc giá trị thời gian của

tiền vốn, hiệu quả doanh nghiệp đã được xác nhận càng chân thực hơn.

 Mục tiêu tối đa hố tài sản có lợi cho việc bảo vệ quyền lợi cơ

bản cho nhà đầu tư và cổ đơng, có lợi cho sự phát triển của doanh nghiệp.

Tối đa hố tài sản khơng ngoại trừ những doanh nghiệp có lợi nhuận



Trang 17



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tổng quan các nghiên cứu trong cùng lĩnh vực của các tác giả trước đây

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×
x