Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Hình1.6: Cá Trôi trắng Việt Nam (Cirrhina mollitorella)

Hình1.6: Cá Trôi trắng Việt Nam (Cirrhina mollitorella)

Tải bản đầy đủ - 0trang

1.6.5. Đặc điểm sinh sản

Cá Trôi cái 3 tuổi, cá đực 2 tuổi bắt đầu thành thục sinh dục. Trong ao nuôi

vỗ, cá Trôi phát dục tuỳ theo khối lượng là chủ yếu. Thông thường cá thành thục ở

3 tuổi, nặng 400 - 600g, một số ao nuôi chỉ đạt 200 - 300g cá vẫn phát dục tốt.

Sức sinh sản tương đối khoảng 15 vạn trứng/1kg cá cái. Trứng cá Trôi

thuộc loại trứng trôi nổi.

Mùa để trứng kéo dài, đẻ nhiều đợt. Trong sông cá bắt đầu đẻ từ tháng 5 đến

hết tháng 7, đôi khi kéo dài đến giữa tháng 8 nhưng tập trung vào tháng 6 đến

giữa tháng 7. Cá thường đẻ ban đêm và buổi sáng sớm.

Trong các ao hồ nhỏ cá khơng có khả năng sinh sản, mức độ thành thục, phát

dục của tuyến sinh dục kém. Trong sinh sản nhân tạo, ở miền Bắc nước ta chưa ổn

định, một số nơi chỉ đẻ thành công vào tháng 6 đến tháng 7, có nơi cho đẻ cuối

tháng 8 đầu tháng 9 vẫn có kết quả.

Cá Trơi đẻ cần có điều kiện sau: lưu tốc nước từ 0,95 - 2,3m/s, mức nước

dâng từ 1,5 - 4m, nhiệt độ thích hợp nhất từ 24 - 28 0 C. Độ trong từ 8 - 20cm,

pH:7 - 7,5, DO: 7 - 8mg/l.

1.7. Cá Rô hu (Labeo rohita Hamilton, 1822)

1.7.1. Vị trí phân loại

Cá Rơhu hay còn gọi là cá Trơi ấn Độ thuộc

Bộ cá Chép

: Cypriniformes

Họ cá Chép

: Cyprinidae

Họ phụ cá Trơi

: Labeoninae

Giống cá Trơi

: Labeo

Lồi cá Rơhu

: Labeo rohita Hamilton, 1822

1.7.2. Hình thái cấu tạo và phân bố

1.7.2.1. Hình thái cấu tạo

Cá Rơhu có hình dạng cân đối, đầu to vừa phải, vẩy mọc đều đặn phủ kín

thân, đường bên chạy từ phía đầu đến giữa vây đi, số vẩy đường bên là 40 - 43.

Vành môi dưới dày, được cấu tạo bằng một lớp sừng, lược mang có dạng hình sợi

ngắn, cơng thức cấu tạo răng hầu của cá Rôhu là 5.4.3 - 3.4.5.

Lưng xanh thẫm, bụng trắng bạc. Đầu phần trên xám, môi và mõm trắng.

Viền mắt đỏ, các vây xám nhạt. Mùa phát dục trên mỗi vẩy thường có một đốm

ánh đỏ. Các vây ngực, vây bụng, vậy hậu môn và vây đuôi mầu hồng, vây lưng

phớt hồng.



21



Hình1.7: Cá Rơhu (Labeo rohita)

1.7.2.2. Phân bố

Cá Rơhu phân bố tự nhiên trong hệ thống sông Hằng và ở phía Bắc ấn Độ,

do việc di giống cho đến nay cá rôhu phân bố phổ biến ở các sông, hồ thuộc ấn

Độ và sau đó lan sang Bănglađet, Pakistan, Nepan....

Năm 1982 Uỷ ban hợp tác sông Mê Kông tiến hành nhập nội cá Rôhu vào

Việt Nam. Tháng 10 năm 1984 về nuôi ở Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thuỷ sản I

và đã được nhân giống phân tán ra nhiều vùng trong cả nước. Đến nay nó đã trở

thành một trong các đối tượng nuôi phổ biến của nhiều địa phương.

1.7.3. Đặc điểm dinh dưỡng và điều kiện môi trường sống

1.7.3.1. Đặc điểm dinh dưỡng

Sau khi nở được 3 ngày cá ăn động vật phù du cỡ nhỏ gồm động vật nguyên

sinh và luân trùng. Từ ngày thứ 5 trở đi cá sử dụng cả tảo đơn bào, giáp xác

Cladocera, Copepoda và một số loại thức ăn nhân tạo như cám, khô dầu, bột cá....

Từ ngày thứ 17 trở đi ruột cá dài hơn chiều dài cơ thể, lúc này tỷ lệ thực vật mục

nát trong ruột cá cũng tăng dần theo kích thước của cá.

Qua phân tích thành phần thức ăn trong ống tiêu hố của cá Rơhu ni tại

Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thuỷ sản I cho kết luận: khi còn nhỏ cá ăn sinh vật

phù du là chủ yếu, càng lớn lên cá càng ăn nhiều mùn bã hữu cơ, nhất là mùn bã

hữu cơ thực vật. Cá Rơhu còn ăn các loại cám gạo, hạt ngũ cốc, các loại bèo râu,

bèo tấm. Cá Rơhu là lồi cá ăn tạp có phổ thức ăn rộng.

1.7.3.2. Điều kiện mơi trường sống

Cá sống ở tầng giữa và tầng đáy, có khả năng lẩn trốn khi bị xua đuổi.

Nhiệt độ thích hợp cho cá phát triển từ 20 - 290C, hàm lượng ôxy từ 3mg/l

trở lên, pH: 6,8 - 8

1.7.4. Đặc điểm sinh trưởng

Cá Rơhu có tốc độ lớn nhanh, trong điều kiện ao ni tốt, được bón phân và

thức ăn đầy đủ 1 năm đạt 0,5 - 1kg, 2 năm đạt 2,6kg, 3 năm đạt 4 - 4,5kg.

ở nước ta nuôi trong ao sau 1 năm đạt 0,6 - 0,8kg, 2 năm đạt 1,5 - 1,8kg.



22



1.7.5. Đặc điểm sinh sản

Cá Rôhu thành thục sinh dục vào 2 tuổi, lúc này cá bố mẹ đạt cỡ 1,2 2kg. Sức sinh sản rất lớn và phụ thuộc vào khối lượng cơ thể, trung bình từ 10

vạn - 15 vạn/ 1kg cá cái.

ở ấn Độ mùa sinh sản của cá rôhu từ tháng 6 đến tháng 8. ở nước ta mùa

sinh sản của cá Rôhu bắt đầu từ tháng 5 kéo dài đến đầu tháng 9. Thời điểm bắt

đầu cho cá đẻ tuỳ thuộc vào từng năm và từng địa phương khác nhau.

Cá Rơhu chỉ có thể đẻ ở ngồi sơng và các hồ chứa lớn. Các bãi đẻ tự nhiên

thường ở giữa và dọc theo sơng, nơi có dòng chảy mạnh, nền đáy đa dạng. Nhiệt

độ thích hợp cho cá Rơhu đẻ trứng từ 28 - 300 C.

1.8. Cá mrigal (Cirrhina mrigala Hamilton, 1822)

1.8.1. Vị trí phân loại. cá Mrigal thuộc

Bộ cá Chép



: Cypriniformes



Họ cá Chép



: Cyprinidae



Phân họ cá Trôi



: Labeoninae



Giống cá Trơi



: Cirrhina



Lồi cá Trơi Mrigal : Cirrhina mrigala Hamilton, 1822

1.8.2. Hình thái cấu tạo và phân bố

1.8.2.1. Hình thái cấu tạo

Về ngoại hình cá Mrigal có thân thon dài, đầu nhỏ, chiều cao thân bằng 23% chiều

dài thân, vẩy cá có mầu sáng xám. Số đường bên 43 - 44, số vẩy trên đường bên là 7 và

số vẩy dưới đường bên là 6, số vẩy cuống đuôi 10 - 12. Số tia vây lưng (D) 3,12 - 13, số

tia vây ngực (P) 1,14 - 17, số tai vây bụng (V) 2,8 và số tia vây hậu mơn (A) 3,5.



23



Hình1.8: Cá Mrigal (Cirrhina mrigala)

1.8.2.2. Phân bố

Cá Mrigal có nguồn gốc tự nhiên ở các thuỷ vực nước ngọt ở phía Bắc ấn

Độ, Bănglađet, Pakistan, Mianma.

ở nước ta cá được nhập vào từ Lào năm 1984 và trở thành đối tượng nuôi

khá phổ biến, đồng thời phát tán ra tự nhiên ở nhiều vùng trong cả nước.

1.8.3. Đặc điểm dinh dưỡng và điều kiện môi trường sống

1.8.3.1. Đặc điểm dinh dưỡng

Cá Mrigal khi còn nhỏ ăn động vật phù du như động vật nguyên sinh, luân

trùng, một số tảo đơn bào, giáp xác Cladocera, Copepoda kể cả ấu trùng và côn

trùng.

Khi trưởng thành cá sống ở tầng đáy và chủ yếu thức ăn hữu cơ. Về đặc điểm

dinh dưỡng cá mrigal có phổ thức ăn như cá trơi Việt, do đó có sự cạnh tranh thức

ăn giữa hai lồi này song tốc độ sinh trưởng của cá Mrigal cao hơn nhiều so với cá

Trôi Việt.

1.8.3.2. Điều kiện môi trường sống

Cá sống ở tầng nước giữa và kề tầng đáy, thích sống ở các vực nước ao,

sơng, suối chảy. Nhiệt độ thích hợp từ 20 - 300C, pH: 7 - 7,5.

1.8.4. Đặc điểm sinh trưởng

Tốc độ sinh trưởng của cá mrigal lớn nhanh hơn cá trơi ta. Cá ni 1 năm có

thể đạt cỡ 0,5 - 1kg/ con.

1.8.5. Đặc điểm sinh sản

Cá Mrigal 2 tuổi bắt đầu phát dục, tuỳ từng lứa tuổi nhưng cá đực thường

phát dục sớm hơn cá cái. ở lần đẻ đầu tiên cá cái có khối lượng trung bình từ 800 900g, cá đực có khối lượng trung bình 600 - 700g.

Sức sinh sản lớn, ở lần đẻ chính vụ có thể cho 25 - 30 vạn trứng /1kg cá cái.

Mùa đẻ của cá Mrigal từ tháng 4 đến tháng 8, trùng với gió mùa tây nam của ấn

Độ, cá đẻ 2 hoặc 3 lần trong một mùa sinh sản. ở Việt Nam mùa đẻ thường tập

trung vào tháng 5 đến tháng 6, nhiệt độ thích hợp cho cá đẻ và ấp trứng từ 28 310C.



24



1.9. Cá chim trắng nước ngọt (Clossoma brachypomum)

1.9.1. Vị trí phân loại

Cá Chim trắng nước ngọt thuộc

Bộ



: Characiformes



Họ



: Characidae



Giống



: Clossoma



Loài



: Clossoma brachypomum



1.9.2. Đặc điểm hình thái cấu tạo và phân bố

1.9.2.1. Hình thái cấu tạo

Cá có số tia vây lưng(D) 18 - 19, số tia vây bụng (V) 16 - 18, số tia vây hậu

mơn (A) 8, khơng có tia gai cứng.

Hình dạng cá gần giống cá Chim Trắng biển, thân dẹp và cao, đầu nhỏ.

Chiều dài đầu bằng chiều cao đầu, vị trí mõm ở chính giữa, mõm hơi tù, vây đi

cân và có rãnh sâu.

Hàm trên và hàm dưới có hai hàng răng, mặt răng khuyết như lưỡi răng cưa,

nhọn và sắc.

Chỗ khởi điểm của cuống vây đi ở phía lưng có một vây mỡ nhỏ, phần

trên của nó bán trong suốt, phần dưới có vẩy, diềm vẩy mầu đen. Vảy trên thân cá

tròn nhỏ chặt chẽ khó bị rụng. Số vẩy đường bên có 83 - 99. Từ chân vây ngực

đến hậu mơn có vẩy gai nhọn, cứng. Mình cá có mầu xám bạc hoặc mầu ánh bạc

hơi xanh. Các vây ngực, vây bụng, vây hậu mơn có mầu đỏ, vây đi có điểm

vân đen ở diềm vây. Tuy nhiên mầu sắc của cá trưởng thành thay đổi theo mơi

trường.



25



Hình1.9: Cá Chim Trắng (Clossoma brachypomum)

1.9.2.2. Phân bố

Ngồi tự nhiên cá phân bố lưu vực sông Amazon, là một trong nhiều loài cá

thường gặp và được sử dụng làm thực phẩm ở vùng nhiệt đới và á nhiệt đới.

Năm 1982 được nhập vào Đài Loan, năm 1985 được nhập vào Quảng Đông

Trung Quốc. Cá nuôi ở nước ta được nhập từ Trung Quốc tháng 4 và tháng 8 năm

1998, sau đó đưa ra ni thử nghiệm. Năm 2000 - 2001 đã nghiên cứu sinh sản

nhân tạo ở một số nơi, đến nay cá đã được nuôi phổ biến ở miền Bắc và đang nuôi

thử nghiệm ở miền Nam.

1.9.3. Đặc điểm dinh dưỡng và điều kiện môi trường sống

1.9.3.1. Đặc điểm dinh dưỡng

Thời kỳ cá bột, thức ăn tự nhiên của cá là sinh vật phù du nhỏ, có thể cho cá

ăn thêm nước bột trứng, nước bột đậu tương.

Thời kỳ cá hương ăn động vật phù du cỡ lớn, các loại thức ăn chất bột hoặc

dạng hạt nhỏ.

Cá trưởng thành có tính ăn tạp, phổ thức ăn rộng. Cá ăn các loại thức ăn

thực vật như các loại rau cỏ trên cạn và dưới nước, các loại hạt ngũ cốc, các loại

phụ phẩm như vỏ hoa quả, vỏ dưa hấu, mùn bã hữu cơ. Các loại thức ăn động vật

như giun đất, nhộng tằm, tôm cá nhỏ, ốc, hến, thịt phế phẩm.... Ngồi ra có thể

cho cá ăn các loại thức ăn viên công nghiệp hoặc tự chế biến.

1.9.3.2. Điều kiện môi trường sống

Cá Chim trắng sống ở tầng nước giữa và tầng đáy. Nó là lồi cá nhiệt đới

nên tính chịu lạnh kém. Nhiệt độ có thể cho cá sinh trưởng được từ 10 - 35 0C;

nhiệt độ thích hợp nhất từ 28 - 30 0C. Đòi hỏi hàm lượng oxy hòa tan rất cao (từ

4-6 mg/l), ở điều kiện đó cá sinh trưởng và phát triển rất tốt. ở hàm lượng oxy

0,5 mg/l cá sống được vài giờ. Cá có thể sống được ở pH trung tính hoặc axit

26



yếu (pH từ 5,6-7,5). ở cá nước ngọt và cá nước lợ thì độ mặn thích hợp < 15%o

(thích hợp nhất là với độ mặn từ 5-10%o ).

1.9.4. Đặc điểm sinh trưởng

Cá Chim lớn nhất ở vùng sơng Amazon có khối lượng tới 20 kg, ở Trung Quốc

thường cá giống sản xuất tháng 5 - 6 nuôi tới cuối năm có thể đạt cá thương phẩm từ

0,4 - 1 kg (trung bình 0,5 - 0,7 kg). Cá giống thả cỡ 5 - 7 cm, mật độ 900 - 1200

con/ha. Sau 3 tháng ni có thể đạt cỡ 1 kg/con. Cá Chim giống cỡ 70 - 100g nuôi

ghép trong ao nuôi thâm canh, có nơi ni trong 127 ngày đạt 1,2 - 1,5 kg/con. Cá lớn

nhanh trong năm đầu, sau khi đạt khối lượng 1,7 - 1,8 kg thì chậm lớn dần, do vậy khi

nuôi cá thịt nên thu hoạch lúc cá đạt 1-1,5 kg/con.

1.9.5. Đặc điểm sinh sản

Trong tự nhiên cá chim trắng thường đẻ trong sông Amazon. Điều kiện sinh

thái tự nhiên cho cá đẻ là dòng nước chảy và mưa. Cá ni trong ao nhất thiết cần

kích thích nhân tạo cá mới đẻ đợc.

ở các tỉnh phía nam Trung Quốc, cá chim 3 tuổi thành thục. Cá đẻ theo mùa

từ tháng 5 đến tháng 10. Mỗi mùa sinh sản, cá đẻ 2 - 3 lần, mỗi lần cách nhau 35 40 ngày. Cá bố mẹ cho sinh sản thường nặng 3,5 - 4 kg/con.

Cá đẻ lần đầu có sức sinh sản 8 - 10 vạn trứng/kg cá cái.

1.10. Cá Tra (Pangasius hypophthalmus Sauvage, 1878)

1.10.1. Vị trí phân loại

Cá tra thuộc

Lớp



:



Ostelchithes



Bộ



:



Siluriformes



Họ



:



Schilbeidae



Giống



:



Pangasius



Lồi



:



Pangsius hypophthalmus Sauvage, 1878



1.10.2. Đặc điểm hình thái cấu tạo và phân bố

1.10.2.1. Hình thái cấu tạo

Cá Tra thân dài, đầu dẹp, lưng bụng và đuôi dẹp bên, chiều dài thân không

kể đuôi gấp 4,5 - 5 lần chiều cao thân và chiều đài đầu. Răng lá mía, khơng có

vẩy. Mầu xám tro, lưng sẫm, bụng nhạt. Vây lưng cao có một tia gai cứng, vây



27



ngực cũng có một tia gai cứng, có vây mỡ nhỏ, vây hậu mơn dài, vây đi chẻ

sâu nhỏ.



Hình1.10: Cá Tra (Pangasius hypophthalmus)

1.10.2.2. Phân bố

Cá phân bố tự nhiên trên thế giới sông Mêkông, ở Borneo, Sunratra, Java,

Thái Lan, Mã Lai, Campuchia và Đồng Bằng Sông Cửu Long Việt Nam

ở nước ta cá tra là đối tượng nuôi truyền thống ở các tỉnh đồng bằng Nam

Bộ. Trong thời gian gần đây cá được di giống thuần hố ni ở một số tỉnh phía

Bắc.

1.10.3. Đặc điểm dinh dưỡng và điều kiện môi trường sống

1.10.3.1. Đặc điểm dinh dưỡng

Cá thuộc nhóm cá ăn tạp, thiên về ăn động vật, ăn ấu trùng, côn trùng ở

nước, cua, tơm, cá con, trai ốc. Cá tra ni có thể cho ăn cám bã, bí đỏ, cua, tơm,

phế phẩm, rau cải, bã đậu...

1.10.3.2. Điều kiện mơi trường sống

Cá có thể ni ở ao, hồ, bè, có khả năng chịu được mơi trường nước dơ bẩn,

hàm lượng ơxy thấp. Có thể nuôi được với mật độ dày, chịu được nồng độ muối

nhỏ hơn 5%. Trong tự nhiên có thể sống ở vùng nước chảy.

1.10.4. Đặc điểm sinh trưởng

Cá tra cỡ lớn nhất nặng 20kg, dài 1m. Cỡ cá khai thác trung bình từ 1 1,5kg, tốc độ lớn nhanh. Cá ni 6 tháng có trọng lượng 0,5kg. Sau mỗi năm cá

nặng thêm 1 - 1,2kg. Sau 2 năm cá tăng khoảng 3kg.

1.10.5. Đặc điểm sinh sản

Trước kia cá chỉ sinh sản ngoài tự nhiên ở vùng nước chảy xiết. Bãi đẻ tự

nhiên quan trọng là biển Hồ. Cá bột sau khi nở trôi về vùng hạ lưu, nhân dân vớt

về để nuôi. Cá Tra thành thục sau 3 tuổi, trọng lượng 3kg trở lên. Tuy nhiên cá

28



thành thục còn phụ thuộc vào đặc điểm và môi trường sống, cá đẻ trứng dính. Về

mùa vụ sinh sản của cá ngồi tự nhiên sớm hơn nhân tạo từ 1 - 2 tháng, cá thành

thục từ tháng 3 đến tháng 8.

1.11. CÁ Rô PHI (Oreochromis niloticus)

1.11.1. Vị trí phân loại

Cá rơ phi hiện đang nuôi phổ biến ở Việt Nam thuộc :

Bộ cá vược - PerciForms

Họ - Cichlidae

Giống - Oreochromis

Loài - Cỏ rụ phi vằn O.niloticus.











Hiện nay có 3 lồi chính được phổ biến tại Việt Nam là :

Cỏ rụ phi cỏ Oreochromis Mossambicus, được nhập vào Việt Nam năm

1953 qua ngó Thỏi Lan.

Cá rô phi văn ( Rô phi Đài Loan O.niloticus ) được nhập vào Việt Nam

năm 1974 từ Đài Loan.

Cá rô phi đỏ ( red Tilapia ), có màu hồng được nhập vào Việt Nam năm

1985 từ Maliaxia.



1.11.2. Đặc điểm hình thái cấu tạo và phân bố

1.11.2.1. Hình thái cấu tạo

Lồi cá rơ phi Oreochromis niloticus: tồn thân phủ vẩy, ở phần lưng có

màu xám nhạt, phần bụng có màu trắng ngà hoặc xanh nhạt. Trên thân có từ 7-9

vạch chạy từ phía lưng xuống bụng. Các vạch đậm dọc theo vây đi ở từ phía

lưng xuống bụng rất rõ. Cá rơ phi vằn là lồi kích cỡ thương phẩm lớn, lớn nhanh,

đẻ thưa hơn cá rô phi đen. Đây là lồi được ni phổ biến nhất trên thế giới và ở

Việt Nam hiện nay.

Lồi cá rơ phi đen Oreochromis mossambicus, tồn thân phủ vẩy, vẩy ở

lưng có mầu xám, tro đậm hoặc xanh đến hơi nhạt. Phần bụng có màu trắng sáng

hoặc xám ngà. Trên thân và vây đi có các sọc chạy từ lưng xuống bụng như ở

cá rô phi vằn. Cá rơ phi đen còn gọi là cá rơ phi cỏ, cá rơ phi sẻ là lồi lớn chậm,

29



kích cỡ thương phẩm nhỏ, đẻ mau nên khơng được ưa chuộng. Ngồi ra còn có 1

số giống cá rơ phi khác như cá rô phi đỏ (cá diêu hồng) cũng được nuôi khá phổ

biến hiện nay đặc biệt là Đồng bằng sơng Cửu long.

1.11.2.2. Phân bố

Cá rơ phi có nguồn gốc từ Châu Phi thuộc họ Cichlidae, bộ cá vược

Perciformes. Cho đến năm 1964, người ta mới biết khoảng 30 lồi cá rơ phi, hiện

nay con số đó khoảng 100 lồi, trong đó khoảng 10 lồi có giá trị kinh tế. Những

lồi được ni phổ biến là cá rơ phi vằn, rô phi xanh, rô phi đỏ và rô phi đen,

trong đó lồi ni phổ biến nhất là cá rô phi vằn.

Ngày nay cá rô phi không những được nuôi ở Châu Phi mà đã được phán

tán và nuôi ở nhiều nước trên thế giới, đặc biệt là ở các nước nhiệt đới và cận

nhiệt đới. Trong vài chục năm trở lại đây, chúng mới thực sử trở thành lồi cá

ni cơng nghiệp, sản lượng lớn và giá trị kinh tế cao.

Cá rơ phi vằn có tên khoa học là Oreochromis niloticus, là lồi cá có thịt

ngon, giá trị thương phẩm cao, nhanh lớn và dễ nuôi ở các mơ hình ni khác

nhau. Kết quả nghiên cứu trong những năm gần đây cho thấy nuôi đơn cá rô phi

hay ni ghép với các lồi cá khác, cá sinh trưởng nhanh và rất ít khi bị bệnh. Cá

rơ phi có khả năng chống chịu tốt với các môi trường sống khác nhau và cho hiệu

quả kinh tế cao.

1.11.3. Đặc điểm dinh dưỡng và điều kiện môi trường sống

1.11.3.1. Đặc điểm dinh dưỡng

Tính ăn tạp của cá rơ phi thay đổi theo giai đoạn phát triển và môi trường

nuôi. Cá rô phi là loài cá ăn tạp ngiêng về thực vật. Thức ăn chủ yếu là tảo và 1

phần thực vật bậc cao và mùn bã hữu cơ. ở giai đoạn cá con (từ giai đoạn cá bột

lên hương) thức ăn là động thực vật phù du. Từ giai đoạn cá hương đến cá trưởng

thành, thức ăn chủ yếu là mùn bã hữu cơ và thực vật phù du. Cá rô phi có khả

năng tiêu hố các lồi tảo xanh, tảo lục mà một số lồi các khác khơng có khẳ

năng tiêu hố. Ngồi ra cá rơ phi còn ăn được thức ăn bổ sung như cám gạo, bột

ngô, các phụ phẩm nơng nghiệp khác. Đặc biệt cá rơ phi có thể sử dụng có hiệu

quả thức ăn tinh như cám gạo, bột ngô, khô dầu lạc, đỗ tương, bột cá và các phụ

phẩm nông nghiệp khác. Trong nuôi thâm canh, nên cho cá ăn thức ăn có hàm

lượng đạm cao từ 18-35% protein. Cá rơ phi có nhu cầu dinh dưỡng gần giống với

cá chép về thành phần tinh bột (dưới 40%), canxi (1,5 – 2%), phôtpho (1-1,5%),

K, Na. Chỉ có một điều khác là thức ăn của cá rơ phi yêu cầu hàm lượng đạm thấp

hơn. Điều này rất có ý nghĩa khi chế biến thức ăn cơng nghiệp cho cá rô phi.

1.11.3.2. Điều kiện môi trường sống

1.11.4. Đặc điểm sinh trưởng

Tốc độ lớn của cá rô phi phụ thuộc vào nhiệt độ môi trường, thức ăn, mật

độ thả và kỹ thuật chăm sóc. Khi ni thâm canh cá lớn nhanh hơn khi nuôi bán

thâm canh hay nuôi ghép.

Giai đoạn cá hương: trong ao nuôi, cá rô phi vằn từ hương lên giống có tốc

độ sinh trưởng khá nhanh từ 15-20 g/tháng. Từ tháng nuôi thứ 2 đến tháng ni

30



thứ 6, tăng trưởng bình qn ngày có thể đạt 2,8-3,2 g/con/ ngày. Cá rơ phi vằn có

thể đạt trọng lượng bình qn trên 500 g/con sau 5-6 tháng ni.

1.11.5. Đặc điểm sinh sản

Thành thục sinh dục.

Trong điều kiện ao nuôi, cá rô phi thành thục sinh dục vào tháng thứ 3, 4

khi cá có trọng lượng thơng thường là 100-150 g/con (cá cái). Tuy vậy kích thước

thành thục sinh dục của cá rô phi phụ thuộc vào điều kiện chăm sóc, điều kiện

nhiệt độ và độ tuổi. Cá ni trong mơ hình thâm canh năng suất cao. Cá cái tham

gia sinh sản lần đầu trọng lượng đạt hơn 200 g trong khi đó ở điều kiện ni kém,

cá cái bắt đầu đẻ khi trọng lượng cơ thể mới khoảng 100 g.

Chu kỳ sinh sản của cá rô phi.

Hầu hết các lồi cá rơ phi trong giống Oreochromis đều tham gia sinh sản

nhiều lần trong 1 năm. Trong điều kiện khí hậu ấm áp, cá rơ phi đẻ quanh năm (10

– 11 lứa ở các tỉnh phía Nam; 5-7 lứa ở các tỉnh phía Bắc).

Quan sát buồng trứng cá rơ phi cho thấy: trong buồng trứng lúc nào cũng

có tất cả các loại trứng, từ loại non nhất đến loại chín sẵn sàng để đẻ. Vì vậy trong

tự nhiên, ở các ao nuôi cá rô phi chúng ta gặp rất nhiều cá con ở các cỡ khác nhau

(trừ ao nuôi cá rơ phi đơn tính). Số lượng trứng từ vài trăm trứng đến 2000 trứng.

Chu kỳ sinh sản của cá rơ phi thường kéo dài từ 3-4 tuần (tính từ lần đẻ này đến

lần đẻ tiếp theo).

Tập tính sinh sản.

Đến thời kỳ thành thục, vào mùa sinh sản các đặc điểm sinh sản thứ cấp của

cá rô phi rất rõ. Cá đực có màu hồng hoặc hơi đỏ ở dưới cằm, viền vây ngực và

vây lưng, vây đuôi ở con cái có màu hơi vàng. Ngồi ra con cái xoang miệng hơi

trễ xuống. Trước khi đẻ, cá đực đào tổ xung quanh bờ ao, nơi có nền đáy cứng, độ

sâu mực nước 50-60 cm. Hố hình lòng chảo, đường kính tổ đẻ từ 30-40 cm, sâu từ

7-10 cm. Cá cái đẻ trứng vào tổ, cá đực tiến hành thụ tinh. Sau khi thụ tinh cá cái

nhặt hết trứng vào miệng để ấp.

ở nhiệt độ 280C thời gian ấp là 4 ngày.

ở nhiệt độ 300C thời gian ấp là 2-3 ngày.

ở nhiệt độ 200C thời gian ấp là 6 ngày.

Cá sau khi nở, lượng nỗn hồng lớn, cá rất yếu, cá mẹ tiếp tục ấp trong

miệng từ 4- 6 ngày, cá mẹ nhả con và vẫn tiếp tục bảo vệ ở phía dưới trong 1-2

ngày đầu. Cá bột khi còn nhỏ thường bơi thành đàn xung quanh ao, có thể quan

sát được vào lúc sáng sớm.



Chương 2

sản xuất cá giống

Sinh sản là một khâu vơ cùng quan trọng trong q trình tồn tại và phát triển

của giới động vật nói chung cũng như các lồi cá nói riêng. Đối với động vật nói

31



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Hình1.6: Cá Trôi trắng Việt Nam (Cirrhina mollitorella)

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×