Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
3 Cá mè hoa (aristichthys nobilis Richardson, 1844)

3 Cá mè hoa (aristichthys nobilis Richardson, 1844)

Tải bản đầy đủ - 0trang

Hình 1.3: Cá Mè Hoa (aristichihys nobilis)

1.3.2.2. Phân bố

Cá Mè Hoa là lồi cá điển hình của khu hệ cá vùng đồng bằng Trung Quốc. ở

nước ta cá xuất hiện ở sông Kỳ Cùng Lạng Sơn. Năm 1958 đã đưa từ Trung Quốc vào

thuần hoá ở Việt Nam. Hiện nay cá Mè Hoa là một trong những đối tượng nuôi phổ

biến ở nhiều nơi và đã trở thành nguồn lợi tự nhiên ở nhiều sông, hồ.

1.3.3. Đặc điểm dinh dưỡng và điều kiện môi trường sống

1.3.3.1 Đặc điểm dinh dưỡng

Thức ăn của cá bột Mè Hoa chủ yếu là động vật phù du, ngoài thức ăn tự

nhiên cá Mè Hoa bột còn ăn thức ăn nhân tạo như cám gạo, bột đậu tương...

ở giai đoạn trưởng thành cá ăn động vật phù du là chính chiếm 55 - 60% bao gồm

Cladocera, Copepoda, Rotifera... cộng thêm một phần thực vật phù du chiếm 30 -40%.

Cường độ dinh dưỡng của cá mạnh vào mùa thu và mùa xuân, yếu vào mùa hạ.

1.3.3.2 Điều kiện mơi trường sống

Cá Mè Hoa thích sống ở tầng giữa và tầng trên, tính hiền, ít nhảy hơn cá Mè

Trắng. Cá thường sống ở sông nước chảy và những vực nước lớn tương đối tĩnh. Cá

ưa sống ở nơi nước mầu mỡ có nhiều động vật phù du, giầu dưỡng khí.

1.3.4. Đặc điểm sinh trưởng của cá mè hoa

Cá Mè Hoa là lồi có kích thước lớn, con lớn nhất bắt được ở hồ Thác Bà

tới 40 - 50kg, ở Trung Quốc có con nặng tới 60kg. Cá Mè Hoa lớn rất nhanh, ở hồ

chứa nước cá 1 tuổi nặng 2,8kg, cá 2 tuổi nặng 5,2kg. Cá Mè Hoa ni thích hợp

ở sơng, hồ mặt nước lớn. Cá ni trong ao nhỏ thì chậm lớn hơn, cá 1 tuổi nặng 1

- 1,5kg, cá 2 - 3 tuổi nặng 4 - 6kg.

1.3.5. Đặc điểm sinh sản của cá Mè Hoa

Cá cái 3 tuổi thành thục tuyến sinh dục, dài 60cm, nặng 3,6kg. Cá đực 2 tuổi

thành thục tuyến sinh dục, dài 53cm, nặng 2,5kg.



14



Trong điều kiện ao nuôi ở miền Bắc nước ta, cá Mè Hoa nuôi tốt sau 2 tuổi

đã tham gia sinh sản.

Cá Mè Hoa đẻ ở sông vào tháng 5 đến tháng 6. Nuôi trong ao thành thục sinh

dục sớm, có thể cho đẻ vào tháng 4 và đẻ nhiều lần trong năm.

Sức sinh sản tương đối 7 - 10 vạn trứng / 1kg cá cái. Cá đẻ trong điều kiện

lưu tốc nước 0,8 - 1,2m/s, mức nước dâng lên 0,9 - 4m, độ trong 6 - 15cm, nhiệt

độ từ 20 - 300C thích hợp ở 24 - 250C, pH 7-8, oxy hoà tan (DO) 5 - 8mg/l.

1.4. Cá trắm cỏ (Ctenopharyngodon idellus Cuvier & Valencienes, 1844)

1.4.1. Vị trí phân loại

Cá trắm cỏ thuộc

Bộ cá Chép

:

Cypriniformes

Họ cá Chép

:

Cyprinidae

Giống cá Trắm cỏ :

Ctenopharyngodon

Loài cá Trắm cỏ: Ctenopharyngodon idellus Cuvier & Valencienes, 1844

1.4.2. Đặc điểm hình thái cấu tạo và phân bố

1.4.2.1. Đặc điểm hình thái cấu tạo

Thân thon dài, hơi dẹp bên, đầu hơi ngắn, miệng rộng hình cung. Hàm trên

kéo dài xuống dưới ngang với màng ngăn cách giữa hai lỗ mũi. Khơng có râu,

khoảng cách hai mắt rộng, màng mang rộng liền với eo mang. Lược mang thưa

ngắn, răng hầu dẹp bên.

Các vây dài bình thường không chạm các vây sau và tia đơn cuối đều khơng

có tia gai cứng. Vây đi phân thuỳ sâu, hai thuỳ khơng nhọn và đều bằng nhau.

Vẩy to, tròn, mỏng, đường bên hồn tồn. Gốc vây bụng có vẩy nách bụng trắng

hơi vàng, các vây đều xám.nhỏ.

Đốt sống toàn thân có 40 - 42. Lưng có mầu xám khói.



15



Hình1. 4: Cá Trắm Cỏ (Ctenopharyngodon)

1.4.2.2. Phân bố

Cá Trắm cỏ phân bố chủ yếu ở các lưu vực sông hồ thuộc miền Trung á đồng bằng

Trung Quốc và đảo Hải Nam, chúng sống cả ở vùng trung và hạ lưu sông Amua.

ở miền Bắc nước ta cá Trắm cỏ sống ở sông Hồng, sông kỳ Cùng. Năm 1958

nước ta đã nhập nội cá trắm cỏ từ Trung Quốc vào miền Bắc. năm 1967 trạm

nghiên cứu Đình Bảng - Bắc Ninh đã thả hàng loạt cá Trắm Cỏ ra gây nuôi ở sông

Hồng. Cá sinh trưởng và sinh sản được và trở thành nguồn lợi tự nhiên của sông.

1.4.3. Đặc điểm dinh dưỡng và điều kiện môi trường sống

1.4.3.1. Đặc điểm dinh dưỡng

Sau khi nở được 3 ngày thân dài trên 7mm, cá bắt đầu ăn luân trùng, ấu trùng

không đốt và một số tảo.

Khi cá dài 1- 2cm, cá bơi khỏe, ăn luân trùng, động vật phù du cỡ nhỏ, động

vật giáp xác và ấu trùng.

Cá dài 2,5 - 3cm trở lên có thể ăn bèo tấm, bèo trứng hoặc rong, rau bèo thái

nhỏ. Cá từ 8 - 10cm có thể ăn rong rau cỏ trực tiếp như cá trưởng thành.

Cá Trắm cỏ dài 20 - 25cm nặng 135g - 230g ăn thực vật trên cạn, thích ăn cỏ

gà, cỏ mồi, cỏ chỉ, ăn thực vật thủy sinh như rong, bèo.

Lượng thức ăn hàng ngày với thực vật trên cạn từ 22,1 - 28% khối lượng cơ

thể, với thực vật thủy sinh chiếm 79-97% khối lượng cơ thể.

1.4.3.2. Điều kiện môi trường sống

Cá Trắm cỏ sống ở tầng nước giữa, thích những vùng nước ven hồ có nhiều

thực vật thuỷ sinh.

Cá có thể phát triển trong nước lợ có độ mặn 7 - 11‰.

1.4.4. Đặc điểm sinh trưởng

Là lồi cá có kích thước lớn, cá nặng nhất đạt 35 - 40 kg. Cỡ cá khai thác

trung bình đạt 3 - 5kg. Trong các vực nước tự nhiên có nhiều thực vật thủy sinh cá

3 tuổi có thể đạt 9 - 12kg.

Trong ao ni, nếu ni tốt cá có tốc độ lớn khá nhanh, cá 1 tuổi nặng 1kg, 2

tuổi nặng 5 - 8kg. Ngược lại nếu nuôi trong điều kiện không thuận lợi, thiếu thức ăn

hoặc thức ăn không phù hợp, cá lớn rất chậm.

Tương tự cá Mè trắng và Mè hoa, cá Trắm cỏ lớn rất nhanh vào năm thứ 2,

thời gian sinh trưởng của cá Trắm cỏ trong năm dài hơn so với cá Mè trắng, Mè

hoa, có thể kéo dài tới 10 tháng trong năm.



16



1.4.5. đặc điểm sinh sản

Cá đực dài khoảng 53cm, nặng 3kg. Cá cái 4 tuổi dài 60cm nặng 3,5kg tham

gia đẻ trứng lần đầu.

Sức sinh sản tương đối 4-5 vạn trứng/ 1kg cá cái.

Cá Trắm cỏ ở sông Hồng tháng 5-6 đã thấy đẻ trứng và vớt được cá bột.

Trong sinh sản nhân tạo, cá trắm cỏ đẻ sớm hơn, thường vào đầu tháng 3 đã cho

đẻ đạt kết quả, thời gian đẻ tập trung từ giữa tháng 3 đến cuối tháng 4.

Cá Trắm Cỏ là loài đẻ trứng nổi, đẻ nhiều đợt. Nhiệt độ thích hợp để cá đẻ

trứng từ 22 - 280C, lưu tốc nước 1-1,7m/s, tỷ lệ đực cái 1:1.

Sau khi cho cá đẻ lần đầu, chúng ta tiếp tục đưa vào nuôi vỗ tái phát dục

trong thời gian từ 20-30 ngày lại cho cá đẻ lần 2 trong năm.

1.5. Cá trắm đen (Milopharyngodon picens Richardson, 1846)

1.5.1. Vị trí phân loại

Cá Trắm Đen thuộc

Bộ cá Chép



:



Cypriniformes



Họ cá Chép



:



Cyprinidae



Giống cá Trắm Đen :



Milopharyngodon



Loài cá Trắm đen: Milopharyngodon picenus Richardson, 1846

1.5.2. Đặc điểm hình thái cấu tạo và phân bố

1.5.2.1. Hình thái cấu tạo

Đốt sống toàn thân 37, toàn thân và các vây đều có mầu xám đen, mặt bụng

trắng nhạt. Cá Trắm Đen có đặc điểm giống với cá Trắm Cỏ, tuy nhiên Cá Trắm

Đen có đặc điểm khác với cá Trắm Cỏ là thân mập, mầu xám đen, răng hầu chỉ có

một hàng, hình răng cuối rõ ràng.



17



Hình 1.5: Cá Trắm Đen (Milopharyngodon picens)

1.5.2.2 Phân bố

Cá phân bố chủ yếu ở các lưu vực sông lớn như sông Hồng, sông Thái Bình,

sơng Mã, sơng Lam. Cá còn được ni thả trong các đầm ao và ruộng trũng. Lồi

cá này có nhiều ở vùng đồng bằng Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ.

Trên thế giới lồi cá này phân bố từ sơng Hắc Long Giang (Trung Quốc) đến

biên giới Việt Nam.

1.5.3. Đặc điểm dinh dưỡng và điều kiện môi trường

1.5.3.1. Đặc điểm dinh dưỡng

Cá Trắm Đen khi nhỏ ăn động vật phù du, ấu trùng chuồn chuồn. Cá cỡ lớn

chuyển sang ăn động vật đáy, chủ yếu là động vật nhuyễn thể như: ốc, hến, trai...

ngồi ra còn ăn động vật giáp xác như tôm cua và các loại côn trùng, thức ăn tinh

như cám, bột sắn, ngô, đỗ.

1.5.3.2. Điều kiện môi trường sống

Cá sống ở hạ lưu các sông, đầm hồ ven sơng và ruộng, cá còn được ni thả

trong các ao đầm trũng. Thích sống ở tầng nước giữa và tầng nước dưới, rất ít lên

trên mặt nước, sống ở nhiều nơi nước tĩnh và chảy yếu. Mùa đông cá di chuyển

đến vùng nước sâu để tránh rét.

1.5.4. Tốc độ sinh trưởng của cá Trắm Đen

Là lồi cá có kích thước lớn, nặng nhất tới 40 - 50kg. Cá cỡ đánh bắt trung

bình nặng từ 2 - 5kg, có thể gặp những con 20 - 30kg. Tốc độ sinh trưởng phụ

thuộc rất lớn vào số lượng của các loài động vật nhuyễn thể trong ao. Nếu cá trắm

đen được thả nuôi trong các ao đầm có nhiều động vật nhuyễn thể thì sau 1 năm

cá có thể đạt 3 - 4kg với cá giống thả từ 100 - 150g/con. Trong điều kện ao nuôi

cá trắm đen sau 1 năm nặng 0,5kg, sau 2 năm nặng 3kg, sau 3 năm nặng 5kg.

1.5.5. Đặc điểm sinh sản của cá Trắm Đen

Cá thành thục sau 3 năm. Mùa đẻ trứng trên hệ thống sông Hồng từ tháng 5

đến tháng 7, nhưng tập trung nhất là tháng 6 và tháng 7. Cá Trắm Đen không sinh

sản ở vùng hạ lưu mà thường đi lên trung và thượng lưu các con sơng lớn tìm nơi

có điều kiện sinh thái thích hợp để đẻ trứng. Cá đẻ trứng nổi, trứng trơi theo dòng

lũ về hạ lưu và nở thành cá bột. Hiện nay sản lượng cá trong các vực nước tự

nhiên giảm sút nghiêm trọng. Cá Trắm đen là đối tượng cần được bảo vệ phục hồi

và phát triển.



18



1.6. Cá trôi (Cirrhina molitorella Cuvier & Valencienes, 1844)

1.6.1. Vị trí phân loại

Cá trơi thuộc

Bộ cá Chép



: Cypriniformes



Họ cá Chép



: Cyprinidae



Họ phụ cá Trơi : Labeoninae

Giống



: Cirrhina



Lồi cá Trơi trắng Việt Nam: Cirrhina molitorella Cuvier & Valencienes, 1844

1.6.2. Đặc điểm hình thái cấu tạo và phân bố

1.6.2.1. Hình thái cấu tạo

Số tia vây lưng D: III,11- 13, vây hậu môn A: III,5, vây ngực P: I,15 - 16,

vây bụng V: I, 8 - 9. Chiều dài thân bằng 3,4 - 3,7 lần chiều cao thân và bằng 4,6 5,5 lần chiều đài đầu. Lược mang ở cung mang thứ nhất 40 - 45 chiếc, răng hầu 3

hàng 5.4.2 - 2.4.5

Lưng xám xanh hoặc xám nâu, bụng trắng nhạt. Có 8 - 10 vẩy phía trên vây

ngực có sắc tố xanh đen xếp thành 2 - 3 hàng rất đặc biệt. Các vây xám, ngọn xám

hơn gốc.

Thân hình thoi khá cao, dẹp bên. Bụng tròn, mõm tù, có hai đơi râu nhỏ

(râu mõm và râu hàm). Lược mang ngắn, răng hầu hình trụ tròn mọc chen chúc.

Đường bên hồn tồn nằm gần như giữa thân.



19



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

3 Cá mè hoa (aristichthys nobilis Richardson, 1844)

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×