Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Phòng và trị bệnh cho cá

Phòng và trị bệnh cho cá

Tải bản đầy đủ - 0trang

- Do khơng có hoặc thiếu các chất rất cần để duy trì cơ thể sống cơ thể cá có

thể biến đổi rất nhanh chóng, thậm chí có thể làm cho cá chết đột ngột như thiếu oxy,

nước…

- Do thiếu một số chất hoặc do điều kiện sống lúc đầu cơ thể cá chưa có biến

đổi rõ nhưng cứ kéo dài liên tục thì sẽ làm cho quá trình trao đổi chất bị trở ngại,

hoạt động của các hệ men bị rối loạn, cơ thể không thể phát triển được và phát

sinh ra bệnh như thiếu chất đạm, mỡ, đường, vitamin, chất khoáng,...nếu trong

thức ăn của cá thiếu Canxi và Photpho thì cá sẽ chết. Ngồi ra còn ảnh hưởng đến

men tiêu hố.

4.1.2.3. Do bản thân cơ thể cá có sự thay đổi dẫn đến bị bệnh

Có một số chất và một số tác dụng kích thích trong điều kiện bình thường là yếu

tố cần thiết để đáp ứng nhu cầu cơ thể phát triển nhưng do cơ thể cá có sự thay đổi

hoặc một số tổ chức cơ quan có bệnh lý các yếu tố đó trở thành nguyên nhân gây

bệnh.

4.1.3. Điều kiện phát sinh bệnh

Nước là môi trường sống của cá, khi các yếu tố môi trường biến đổi như:

Nhiệt độ, pH, oxy hoà tan, các yếu tố hố học như kim loại nặng (chì, thuỷ ngân..),

chất thải công nghiệp, chất thải nông nghiệp, chất thải sinh hoạt biến đổi quá giới

hạn, tạo môi trường bất lợi, vượt qua phạm vi thích ứng của cơ thể cá, cá trở nên suy

yếu, sức đề kháng giảm và trở thành một trong những tác nhân gây bệnh cho cá. Lúc

này tác nhân gây bệnh (vi sinh vật gây bệnh) có điều kiện phát triển và tấn công gây

bệnh cho cá ni trong ao. Yếu tố mơi trường như oxy hồ tan, pH, nhiệt độ, các khí

độc…đều có ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp lên cơ thể cá.

Kỹ thuật nuôi khơng phù hợp, ni thả mật độ cao, trình độ quản lý kém, vận

chuyển xa làm cho cá yếu, nhiễm bệnh và chết.

Các sinh vật gây bệnh xâm nhập vào cơ thể làm cho cá bị nhiễm bệnh. Chúng

có thể là các loại vi khuẩn, nấm, ký sinh trùng, vi rút và các sinh vật gây hại khác...

Môi trường



Mầm bệnh

Bệnh



Ký chủ



117



Sơ đồ 4.1: Mối quan hệ giữa các nhân tố gây bệnh

Mối quan hệ của ba yếu tố trên nếu thiếu một trong ba nhân tố thì cá khơng

bị mắc bệnh. Tuy cá có mang mầm bệnh nhưng mơi trường thuận lợi cho cá và

bản thân cá có sức đề kháng tốt với mầm bệnh thì bệnh khơng thể phát sinh được,

bệnh chỉ xuất hiện khi có đầy đủ ba điều kiện:

- Có mầm bệnh trong mơi trường.

- Mơi trường thuận lợi cho mầm bệnh phát triển và bất lợi cho điều kiện sống

của cá.

- Cá suy yếu và mẫn cảm với mầm bệnh

Để ngăn cản những yếu tố trên khơng thay đổi xấu cho cá thì người ni cần

phải tác động vào ba yếu tố như cải tạo ao tốt, tẩy trùng ao nuôi, diệt mầm bệnh,

thả giống tốt, cung cấp thức ăn đầy đủ về chất và lượng...

Khi xem xét nguyên nhân gây bệnh cho cá không nên kiểm tra một yếu tố

đơn độc nào mà cần phải xem xét cả ba yếu tố: môi trường, mầm bệnh, ký chủ.

Đồng thời yếu con người rất quan trọng trong nuôi cá. Bởi lẽ con người chủ động

tác động vào hệ thống nuôi như: chuẩn bị con giống, cho cá ăn, quản lý môi

trường, theo dõi hàng ngày hoạt động của cá trong ao nuôi... mọi tác động không

phù hợp của con người đều có thể gây hại cho cá ni. Khi đưa ra biện pháp

phòng và trị bệnh cũng cần quan tâm đến ba yếu tố trên, yếu tố nào dễ xử lý

chúng ta tiến hành trước.

Ví dụ: thay đổi mơi trường tốt cho cá là biện pháp phòng bệnh, tiêu diệt mầm

bệnh bằng hoá chất, thuốc sẽ ngăn được bệnh không phát triển nặng. Cuối cùng chọn

những giống cá có sức đề kháng với những bệnh thường gây nguy hiểm.

4.2. Phương pháp phòng trị bệnh tổng hợp cho cá

Động vật thuỷ sản sống trong nước nên vấn đề phòng bệnh khơng giống với

động vật trên cạn. Khi chữa bệnh cho động vật thủy sản thường gặp một số khó

khăn sau:

- Mỗi khi trong ao động vật thuỷ sản bị bệnh, không thể chữa trị cho từng

con mà phải tính cả ao hay khối lượng cả đàn để chữa bệnh nên tính lượng thuốc

khó chính xác, tốn kém.

- Các loại thuốc chữa bệnh ngoài da cho động vật thuỷ sản thường phun trực

tiếp xuống ao nhưng chỉ áp dụng với thuỷ vực mặt nước nhỏ còn đối với diện tích

mặt nước lớn khơng sử dụng được.



118



- Các loại thuốc chữa bệnh nội kí sinh thường phải trộn vào thức ăn, nhưng

lúc bị bệnh động vật thuỷ sản không ăn.

- Có một số thuốc có thể chữa bệnh cho động vật thuỷ sản, tiêu diệt được

nguồn gốc gây bệnh nhưng kèm theo các phản ứng phụ. Đặc biệt những con cá

khoẻ mạnh cũng phải chịu tác dụng của thuốc làm ảnh hưởng đến sinh trưởng.

Bởi lẽ đó mà các nhà ni thuỷ sản ln đặt vấn đề phòng bệnh cho động vật thuỷ

sản lên hàng đầu hay nói một cách khác: phòng bệnh là chính, chữa bệnh khi

cần thiết.

Cơng tác phòng bệnh cho động vật thuỷ sản cần phải sử dụng các biện pháp

tổng hợp nhưng trước tiên cần chú ý đến:

- Cải tạo môi trường ao nuôi động vật thủy sản.

- Tiêu diệt nguồn gốc gây bệnh.

- Tăng cường sức đề kháng cho động vật thuỷ sản.

4.2.1. Phòng bệnh

4.2.1.1. Cải tạo môi trường ao nuôi

Địa điểm xây dựng các trạm trại ni cá trước tiên phải có nguồn nước

quanh năm và sạch sẽ không độc hại với tôm cá. Mỗi ao ni nên có hệ thống

nước vào ra độc lập để mỗi khi có ao cá bị bệnh thì có thể dễ dàng cách ly khơng

cho lây nhiễm bệnh cho các ao khác.

Trước khi ương nuôi hay thả giống các ao nuôi cần phải được cải tạo và tẩy dọn

nhằm mục đích:

- Diệt địch hại và sinh vật là ký chủ trung gian: cá dữ, cơn trùng, nòng nọc.

- Diệt sinh vật gây bệnh cho cá: vi khuẩn, nấm, tảo đơn bào, ký sinh trùng.

- Cải tạo lại chất đáy làm tăng các muối dinh dưỡng, giảm độc tố tích tụ ở

đáy ao.

- Đắp lại chỗ rò rỉ, tránh thất thoát nước ao, xoá bỏ nơi ẩn nấp của sinh vật.

Dùng vôi để dọn tẩy đáy ao, thông thường dùng 1.000 -1.500kg/ha. Vôi bột

rải đều khắp ao, vôi sống thì cho vào các hố giữa ao, khi vơi tan dùng gáo múc rải

khắp đáy ao.

4.2.1.2. Tiêu diệt nguồn gốc gây bệnh

Các giống cá khi chuyển từ vùng này sang vùng khác phải tiến hành qua

kiểm dịch. Khi có bệnh phải dùng biện pháp xử lý nghiêm túc để khỏi mang sinh

119



vật gây bệnh vào nước ao cũng như mang mầm bệnh từ địa phương này qua địa

phương khác.

Khi cá có vi sinh vật ký sinh trên cơ thể thì tuỳ theo kết quả kiểm tra mà

chọn thuốc trị bệnh cho thích hợp. Thường thì người ta dùng phương pháp tắm

cho cá bằng các loại thuốc sau đây: Muối ăn 2 - 4 0/0 thời gian từ 5 - 10 phút, phèn

xanh (CuSO4. 5H2O) 2 - 5 ppm thời gian 30 - 60 phút.

4.2.1.3. Sát trùng thức ăn và nơi cá đến ăn

Thức ăn để cho cá phải tươi, sạch và qua sát trùng. Xung quanh nơi cho cá

ăn thường có thức ăn bị thừa, thối rữa, gây nhiễm bẩn đồng thời tạo điều kiện cho

sinh vật gây bệnh phát triển. Vì vậy cần rửa sạch sàng ăn và thường xuyên khử

trùng địa điểm cho ăn. Loại thuốc và liều lượng được sử dụng nhiều ít còn tuỳ

thuộc vào chất lượng nước, độ sâu, nhiệt độ nước... Tốt hơn hết là thường xuyên

dùng vôi nung hoặc Clorua vôi treo 2 - 3 túi xung quanh chỗ ăn để tẩy trùng, liều

lượng 2 - 4kg vôi nung/túi hoặc 100- 200 gr Clorua vơi/túi.

4.2.1.4. Sát trùng dụng cụ

Sinh vật gây bệnh có thể theo dụng cụ lây lan từ ao, bể bị bệnh sang ao, bể

khơng nhiễm bệnh. Vì vậy, dụng cụ nên dùng riêng biệt từng ao, bể. Nếu thiếu thì

sau khi sử dụng xong phải có biện pháp khử trùng mới đem đi dùng ở ao khác.

4.2.1.5. Dùng thuốc phòng ngừa trước mùa phát triển bệnh

Đại bộ phận các loại bệnh của cá nói chung và của động vật thuỷ sản nói riêng

đều phát triển mạnh trong một mùa nhất định, thường mạnh nhất vào mùa xuân đầu

mùa hè, mùa thu đối với miền Bắc, mùa mưa đối với miền Nam. Do đó phải có biện

pháp dùng thuốc phòng ngừa dịch bệnh để hạn chế tổn thất.

Trước mùa phát sinh bệnh dùng thuốc rải khắp ao để phòng ngừa bệnh.

Ngồi ra có thể dùng túi thuốc xung quanh nơi cho ăn hình thành một vùng khử

trùng các sinh vật gây bệnh.

4.2.1.6. Tiêu diệt vật chủ trung gian

Một số sinh vật ký sinh giai đoạn ký chủ trung gian là động vật xương sống,

thuỷ sinh và cá. Vật chủ cuối cùng là động vật trên cạn như chim, người và một số

động vật có vú khác.

- Thường dùng các biện pháp săn bắn, dỡ bỏ các tổ của chim ăn cá.

- Dọn sạch cỏ rác, san bằng quanh ao để không còn nơi ẩn nấp và đẻ trứng.

- Xử lý phân hữu cơ theo đúng kỹ thuật trước khi bón xuống ao ương và nuôi cá.

120



4.2.1.7. Tăng cường sức đề kháng cho cá

Nguyên nhân gây bệnh xâm nhập vào những cơ thể có phát sinh bệnh hay

khơng còn tuỳ thuộc vào nhân tố môi trường và bản thân vật chủ.

Nếu vật chủ có sức đề kháng tốt có khả năng chống đỡ lại yếu tố gây bệnh

nên không mắc bệnh hoặc bệnh nhẹ. Ngược lại, khả năng chống đỡ yếu, dễ dàng

nhiễm bệnh. Do đó, một trong những khâu quan trọng để phòng bệnh cho cá là

phải tăng cường sức đề kháng cho cá.

- Cải tiến phương pháp quản lý, nuôi dưỡng cá: tiến hành thả ghép và mật độ

thả thích hợp, nuôi xen canh các động vật thuỷ sản, cho cá ăn theo phương pháp 4

định (định lượng thức ăn, định thời gian, chỗ ăn, chất lượng thức ăn), thường

xuyên chăm sóc quản lý, thao tác đánh bắt vận chuyển nhẹ nhàng tránh xây xát

- Chọn giống có sức đề kháng tốt: chọn giống cá có khả năng miễn dịch tự

nhiên, cho lai tạo giống cá để có con giống khoẻ, gây miễn dịch nhân tạo.

4.2.2. Trị bệnh

Việc trị bệnh dựa trên việc chuẩn đốn bệnh chính xác cùng với sự tính tốn

kinh tế để giải quyết phương án chữa trị cho thích hợp. Việc quyết định cách trị

bệnh nên dựa trên kết quả xét nghiệm ký sinh trùng trên kính hiển vi tại chỗ hay

tại các cơ quan chuyên mơn có mẫu hướng dẫn. Trước khi trị bệnh cần lưu ý một

số vấn đề sau:

- Về chẩn đoán: Việc chọn hoá chất hay thuốc để trị bệnh cho cá cần phải dựa

vào sự chẩn đốn chính xác. Việc trị bệnh thất bại phần lớn là do chẩn đoán sai

nguyên nhân gây bệnh hoặc dùng thuốc và hố chất khơng đúng. Ghi nhận đúng

dấu hiệu ban đầu của bệnh như khả năng bắt mồi và các hoạt động khác của cá.

- Về môi trường nước: Các yếu tố như nhiệt độ, oxy hoà tan, pH, hàm lượng

hữu cơ trong ao... là các yếu tố ảnh hưởng đến tác dụng của thuốc.

Ví dụ: nhiệt độ cao tác dụng của thuốc mạnh, ngưỡng oxy của cá ngày càng cao.

Hàm lượng chất hữu cơ trong ao ảnh hưởng đến tác dụng của thuốc CuSO4, KMnO4.

- Liều lượng thuốc: Hầu hết các hoá chất và thuốc dùng trị bệnh cho cá đều độc

nếu không dùng đúng liều lượng. Liều lượng của thuốc còn tuỳ thuộc vào từng loài, cỡ

cá, chất lượng nước và cách trị liệu. Khi dùng thuốc để ngâm hoặc tắm cho cá thì nồng

độ thuốc càng cao (trong phạm vi cho phép) thời gian tác dụng càng ngắn.

Ví dụ: Dùng Xanh malachite để trị bệnh ngoại ký sinh trùng cho cá giống ở

nồng độ 1-2 gr/m3 nước trong vòng 30 phút, còn khi dùng ở nồng độ 0,1-0,2 gr/m 3

nước thì thời gian kéo dài hơn. Tốt nhất, nên thử nghiệm nồng độ thuốc với cá

121



quy mô nhỏ, các thử nghiệm như vậy sẽ cung cấp các giá trị chính xác về tác dụng của

thuốc.

- Loài cá: Những loài cá khác nhau và cỡ cá khác nhau thì sức chịu đựng đối

với thuốc sẽ khác. Cần theo dõi chặt chẽ tình trạng của cá trước khi xuất hiện

bệnh, cách chuẩn bị và quản lý ao ni…Ví dụ: Cùng cỡ cá hương (2 - 3cm) khi

nồng độ muối là 40/0 (4kg/100 lít nước) thì cá Rophi sống được 2giờ30 phút còn

cá mè trắng chỉ sống trong vòng 1 giờ.

Chú ý: Cùng lồi cá, cá càng lớn sức chịu đựng của cá đối với thuốc càng

cao, cá có vẩy khả năng chịu đựng tác dụng của thuốc cao hơn cá không vẩy và cá

sống đáy chịu tốt hơn cá sống tầng mặt.

Để trị bệnh cho cá và các động vật thuỷ sản người ta dùng các phương pháp

sau đây:

4.2.2.1. Phương pháp tắm cho cá

Dụng cụ tắm cho cá có thể là bể xây, giai chứa cá, bể lót nilon, thau. Tập

trung cá trong dụng cụ tắm, pha thuốc nồng độ tương đối cao tắm cho cá trong

thời gian ngắn để trị các bệnh ngoại ký sinh. Phương pháp này có ưu điểm là tốn

ít thuốc khơng ảnh hưởng đến sinh vật phù du là thức ăn của cá trong thuỷ vực

nhưng muốn trị bệnh phải kéo lưới bắt cá, cá dễ bị trầy xước. Phương pháp này

thích hợp lúc chuyển cá từ ao này sang ao khác, lúc cần vận chuyển đi xa hoặc

con giống trước khi thả nuôi ở các thuỷ vực cần sát trùng tiêu độc. Tuỳ từng loại

bệnh, loại thuốc sử dụng mà quyết định thời gian dài ngắn.

Đối với các ao nuôi thuỷ sản nước chảy cần hạ thấp mức nước, cho nước

chảy chậm lại hay dừng hẳn. Rắc thuốc xuống tắm cho cá một thời gian rồi nâng

dần mực nước lên và cho nước chảy như cũ. Cũng có thể sau khi tắm xong cho

ngay cá vào mơi trường nước mới. Nồng độ thuốc nên thấp hơn nồng độ tắm

nhưng lại cao hơn nồng độ rắc xuống ao.

4.2.2.2. Phương pháp phun thuốc xuống ao

Sử dụng phổ biến cho ao ni, hay đầm ni có diện tích lớn. Phương pháp

này tuy tốn ít thuốc nhưng tiện lợi, dễ tiến hành, trị bệnh kịp thời, không tốn nhân

công. Phương pháp phun thuốc xuống ao có thể tiêu diệt sinh vật gây bệnh ở các cơ

quan bên ngoài của cá và sinh vật gây bệnh tồn tại trong thuỷ vực tương đối triệt để.

Tuy nhiên có một số thuỷ vực khơng có hình dạng nhất định thường thì thể tích

khơng chính xác gây khó khăn cho việc định lượng thuốc dùng. Dùng một số loại

thuốc phun xuống ao có thể tiêu diệt mầm bệnh nhưng làm nghèo nguồn thức ăn tự

nhiên trong thuỷ vực. Thuốc dùng tương tự như tắm nhưng nồng độ giảm đi 10 lần.

122



4.2.2.3. Bôi thuốc lên cơ thể cá

Cá bị cảm nhiễm một số bệnh ngoài da, vây.. thường dùng thuốc có nồng độ

cao bơi trực tiếp vào vết lở loét hay nơi có ký sinh trùng để giết sinh vật gây bệnh: do

trùng mỏ neo, trùng bánh xe, giun tròn ký sinh. Phương pháp này có thể dùng lúc

đánh bắt cá bố mẹ để kiểm tra hay cho đẻ nhân tạo hoặc phòng trị bệnh lở loét nhiễm

trùng cho Ba ba. Ưu điểm ít tốn thuốc, độ an tồn cao, thuận lợi và ít bị ảnh hưởng

đến các sinh vật khác trong ao.

4.2.2.4. Phương pháp ngâm dầm xuống ao

Dùng một số cây thuốc nam ngâm xuống nhiều nơi trong ao hay ngâm vào

gần bờ, đầu gió, nhờ gió đẩy lui ra tồn bộ ao sau đó vớt dầm ra khỏi ao. Phương

pháp này có thể tiêu diệt sinh vật gây bệnh trong thuỷ vực và ký sinh trùng trên

cơ thể cá. Trong thực tiễn người ta thường dùng lá cây xoan bón xuống làm phân

đồng thời cũng có tác dụng phòng và trị bệnh ký sinh trùng: trùng bánh xe

(Trichodina), trùng mỏ neo (Lernaea) đặc biệt là khi ương nuôi cá giống hoặc

dùng cây thuốc cá để tiêu diệt các loài cá tạp ở trong ao.

4.2.2.5. Phương pháp treo túi

Đây là phương pháp sử dụng chủ yếu đối với các ao có nước vào ra, ni cá trên

lồng bè. Xung quanh sàn cho ăn treo các túi thuốc để tạo ra khu vực sát trùng, cá lui

tới bắt mồi nên sinh vật ký sinh bên ngoài cơ thể bị loại trừ. Nó thích hợp với việc

phòng trị bệnh lúc bệnh mới phát sinh. Phương pháp này tiết kiệm thuốc lại tiến hành

đơn giản, động vật thuỷ sản trong ao ít bị ảnh hưởng bởi thuốc. nhưng chỉ tiêu diệt

được sinh vật gây bệnh ở trong vùng có cá hay lui tới kiếm mồi. Cần chọn liều lượng

thuốc cao nhất nhưng khơng ức chế cá tìm đến gần nguồn thức ăn để bắt mồi. Nồng

độ thuốc yêu cầu từ 2-3 giờ và treo liên tục trong vòng 3 ngày.

4.2.2.6. Chế biến thuốc vào thức ăn

Dùng thuốc hoặc vacxin trộn vào thức ăn có trộn thêm chất kết dính, sau đó

đóng thành viên để cho cá ăn theo liều lượng quy định. Thuốc cũng có thể dùng

để tẩm vào thức ăn. Tuy nhiên phương pháp này có thể gây ô nhiễm môi trường

ao nuôi và dễ gây kháng thuốc nếu liều dùng không đúng. Thường dùng cho việc

trị các bệnh ký sinh trùng bên trong cơ thể cá. Lúc cá bị bệnh nặng thậm chí

ngừng ăn nên hiệu quả trị liệu sẽ thấp, chủ yếu là phòng bệnh.

4.2.2.7. Tiêm thuốc

Dùng thuốc tiêm trực tiếp vào trong xoang bụng hoặc cơ của cá và động vật

thuỷ sản kích thước lớn. Phương pháp này liều lượng chính xác, thuốc dễ hấp thụ

nên tác dụng nhanh, hiệu quả trị liệu cao nhưng lại khó khăn vì phải bắt từng con.

Phương pháp này áp dụng khi trị bệnh cho cá bố mẹ hoặc số lượng cá bị bệnh

nặng không nhiều hay một số giống lồi thuỷ sản q hiếm, có giá trị kinh tế cao.

123



4.3. Một số bệnh thường gặp ở cá

4.3.1. Bệnh xuất huyết do virut ở cá trắm cỏ

4.3.1.1. Tác nhân gây bệnh

Tác nhân gây bệnh xuất huyết ở cá Trắm cỏ mới được xác định, chúng làm

chết cá trắm cỏ ở giai đoạn cá giống và cá thịt. Virut gây bệnh là Reovirut có cấu trúc

acid nucleic nhân là ARN khơng có vỏ, đường kính khoảng 60-70 nm.

Bệnh phát triển rất nhanh và trầm trọng, cá bị chết sau 3 - 5 ngày, tỷ lệ chết

60-80 /0, nhiều ao chết 1000/0. Mùa vụ xuất hiện thường vào cuối xuân đầu hè,

mùa thu khi nhiệt độ nước 24-30 0C, bệnh xuất hiện nhiều và gây chết cá hàng

loạt. Đặc biệt bệnh xuất huyết chết nhiều ở cá trắm cỏ giống và thịt dưới 1 tuổi.

0



4.3.1.2. Dấu hiệu bệnh lý

Dấu hiệu bên ngồi: Khi cá có hiện tượng chết, mắt lồi và xuất huyết, mang

nhợt nhạt, nắp mang, vây xuất huyết. Da cá có màu tối sẫm, cá nổi lờ đờ trên tầng

mặt. Nhìn chung, dấu hiệu bên ngồi khơng thay đổi nhiều.

Dấu hiệu bên trong: Toàn bộ hệ thống cơ xuất huyết và trong xoang cơ thể,

gan, thận, lá lách xuất huyết. Ruột khơng có thức ăn, thành ruột xuất huyết nhưng

không hoại tử (thành ruột chắc chắn, không thối nát) máu biến đổi. Khi cá nhiễm

bệnh, hồng cầu huyết tương và urea đều giảm đi sau 4-5 ngày, sau 8 ngày hồng

cầu, Hemoglobin giảm tới mức thấp nhất nhưng Glucose máu khơng thay đổi.

4.3.1.3. Phòng trị bệnh

Biện pháp tốt nhất để phòng trị bệnh đốm đỏ là tuân thủ đúng theo quy trình ni

và quy trình phòng bệnh tổng hợp. Sau đây là một số yêu cầu cần được quan tâm:

- Làm sạch môi trường ao nuôi:

Ao nuôi phải luôn quang đãng, cần phạt cỏ, cây, bụi rậm xung quanh ao.

Sau mỗi chu kỳ nuôi, ao cần được tẩy dọn kỹ. Tháo cạn nước, phơi đáy ao

và dùng vôi bột khử trùng đáy ao, khi cải tạo ao với liều lượng 10 - 12 kg

vôi/100m2 đáy ao. Đối với nuôi cá lồng sau mỗi vụ nuôi cần kéo lồng lên cạn, cọ

rửa và quét vôi lên thành lồng để tiêu diệt mầm bệnh. Nguồn nước phải sạch nên

tránh lấy từ ao nuôi khác hoặc nguồn nước bị nhiễm bẩn, không nên đặt lồng quá

dày, phải hớt hết các cọng cỏ, lá thừa sau mỗi ngày cho ăn.

- Tăng cường sức đề kháng cho cá



124



Cần chọn những con giống khoẻ mạnh, khơng xây sát, khơng bị dị hình,

khơng có dấu hiệu bệnh lý. Trong trường hợp nuôi cá thịt, không nên thả cá có

kích thước q bé, khơng nên ni quá dày.

Ngoài việc cho cá ăn cỏ, lá xanh, cần bổ xung thêm thức ăn tinh.

Khi thả cá nuôi cần tránh tối đa việc làm cá bị sốc về nhiệt độ, pH cũng như

oxy. Tránh làm thay đổi nước đột ngột, tránh kéo lưới nhiều lần

- Tiêu diệt mầm bệnh

Tắm nước muối (2 - 50/0) cho cá trước khi thả, đặc biệt là đối với những

trường hợp cá bị xây sát trong quá trình vận chuyển.

Nếu dùng phân chuồng để bón lót thì cần ủ phân chuồng với vơi (4 - 5 kg

vôi /100 kg phân) khoảng 20 ngày trước khi bón.

Trong q trình ni cần bón vơi định kỳ 2 tuần/lần với liều lượng 2 - 3 kg

vôi/100m2 nước bằng cách hồ vơi vào nước rồi té đều khắp ao buổi chiều tối hay

sáng sớm. Nếu là nuôi lồng thì cần thường xun treo túi vơi.

4.3.2. Bệnh đốm đỏ ở cá trắm cỏ

4.3.2.1. Tác nhân gây bệnh

Đối với bệnh đốm đỏ đã xác định tác nhân gây bệnh là vi khuẩn aeromonas

hydrophyla, A. cavuae, Pseudomonas fluorescens, Steptococus spp. Các chủng vi

khuẩn này khi phân lập được ở cá bệnh và cảm nhiễm lại trên cá khoẻ thì cá đã bị

phát bệnh. aeromonas hydrophyla có dạng hình que, mẫn cảm với các loại kháng

sinh như Chlotetracyline, Neomycine, Streptomycine và một số cấy thuốc nam

như: sài đất, nhọ nồi, tỏi, trầu không…

Ký sinh trùng: Một số ký sinh trùng đơn bào (Trichodina, Chidonella,

Ichthyoptyryus, Epistylis…), sán lá đơn chủ (Gyrodactylus), giáp xác (Lernaea,

argulus, alitropus…) chúng có thể làm cho cá bị thương tạo điều kiện cho cá dễ bị

nhiễm bệnh lở loét.

Các yếu tố môi trường: nhiệt độ, chất lượng, mức độ dinh dưỡng, các sản

phẩm trao đổi chất của cá, sự ô nhiễm công nghiệp, thuốc trừ sâu là những nguyên

nhân đáng lo ngại tác động mạnh đến môi trường.

Bệnh đốm đỏ ở cá Trắm cỏ vẫn được mọi người cho là hội chứng lở loét (EUS)

4.3.2.2. Dấu hiệu bệnh lý

Cá kém ăn hoặc bỏ ăn. Trên thân xuất hiện các đốm đỏ hoặc vẩy bị tuột,

các tia vây bị cụt dần, hậu mơn sưng đỏ. Khơng có các vết xuất huyết dưới da khi

125



bóc lớp da ngồi của cá. Cá bị bệnh nặng các gốc vây xuất huyết, các đốm xuất

huyết lở loét, các vây dần rách nát và cụt, đôi khi mang cũng bị xuất huyết

Các cơ quan nội tạng bị xuất huyết, chứa đầy hơi có thể bị hoại tử, bệnh

xuất hiện chủ yếu ở cá 1 tuổi. Khi bị bệnh năng cá có thể chết nhưng hầu như cá

bị bệnh ở dạng mãn tính và tỉ lệ chết có thể lên tới 400/0.

Mùa xuất hiện bệnh: Xuất hiện rải rác quanh năm nhưng xuất hiện chủ yếu

vào tháng 3 - 5, 10 - 11.

Bệnh xuất hiện trên cá Trắm cỏ và một số đối tượng khác.

4.3.2.3. Phòng trị bệnh

Phòng bệnh tổng hợp như đối với bệnh xuất huyết.

Khi cá bị bệnh cần cho cá ăn KN 04-12 liên tục trong 6-10 ngày với liều

thuốc 0,2 kg/100kg cá/ngày.

Các nguồn nước cấp cho ao phải khử trùng và nước ao thải ra ngoài đều

phải khử trùng để hạn chế lây lan bệnh.

Các con giống khi vận chuyển và thả vào ao phải kiểm tra bệnh và tẩy trùng

cho cá trước khi thả vào ao. Cá bị bệnh không cho vận chuyển từ vùng chưa có

bệnh, ngăn chặn khơng cho dịch bệnh lở loét phát tán.

4.3.3. Bệnh thối mang ở cá

4.3.3.1. Tác nhân gây bệnh

Là vi khuẩn dạng sợi Myxoccus piscicolas. Vi khuẩn có hình sợi mềm, dễ

uốn cong, hai đầu tròn thường hơi cong, có lúc thành nửa vòng tròn hình chữ U.

Kích thước vi khuẩn 0,8 x 2-2,4m, cá biệt có vi khuẩn dài tới 37m. Vi khuẩn

sinh trưởng tốt trong mơi trường có tính pH =7. Nhiệt độ 53 0C sinh trưởng tốt

nhưng tính độc giảm dần. Bệnh thường gặp ở cá trắm cỏ, ngoài ra bệnh còn gặp ở

cá chép, mè hoa. Bệnh xuất hiện vào mùa xuân, đầu hè, mùa thu, nhiệt độ nước

28-350C. Bệnh xuất hiện nhiều ở cá nuôi lồng, cá nuôi ao có nhiều mùn bã hữu

cơ.

4.3.3.2. Dấu hiệu bệnh lý

Các tia mang thối nát, có dính bùn, lớp biểu bì phía trong mang xung huyết.

Các tế bào mang bị thối nát ăn mòn dần và xung huyết. Vi khuẩn Myxoccus

piscicolas có men phân giải tế bào, do đó các tế bào mơ nhanh chóng thối rữa.

Bệnh thối mang thường kết hợp bệnh nhiễm trùng máu xuất huyết do vi khuẩn

aeromonas spp di động và P. seudomonas spp.



126



4.3.3.3. Phòng trị bệnh

Bệnh thối mang thường cùng phát sinh với bệnh nhiễm khuẩn máu do vi

khuẩn và virut nên có thể áp dụng biện pháp phòng trị của bệnh nhiễm trùng máu

(đốm đỏ) do vi khuẩn aeromonas; Họ saprolegniaceae; Bộ Saprolegniales

4.3.4. Bệnh nấm thuỷ my

4.3.4.1. Tác nhân gây bệnh

Tác nhân gây bệnh là các loài thuộc 4 giống: Leptolegnia, Aphanomyces,

Saprolegnia và Achylya; Họ Saprolegniaceae; Bộ Saprolegniales. Cả hai giống

nấm đều có sợi phân nhánh, sợi nấm cấu tạo đa bào, nhưng giữa các tế bào khơng

có vách ngăn nên sợi nấm giống như một tế bào khổng lồ. Đường kính sợi nấm 414 m, kích thước bào tử 3-4 x 8-11m.

Sợi nấm chia làm hai phần: phần gốc bám vào tổ chức cơ thể của ký chủ,

phần ngọn tự do ngồi mơi trường nước. Nấm có khả năng sinh sản bằng nhiều

hình thức khác nhau. Sinh sản dinh dưỡng bào tử, sinh sản vô tính bằng bào tử

kín, sinh sản vơ tính bằng cách tiếp hợp. Bào tử nấm có nhiều tiêm mao, cơ thể có

thể vận động trong nước nên khả năng lây lan bệnh rất cao.



127



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Phòng và trị bệnh cho cá

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×