Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
sản xuất cá giống

sản xuất cá giống

Tải bản đầy đủ - 0trang

chung, quá trình sinh sản chủ yếu chịu tác động của các yếu tố sinh lý của cơ thể.

Đối với các lồi cá, q trình sinh sản thường rất phức tạp, liên quan đến hàng

loạt biến động của các yếu tố bên trong cơ thể và điều kiện sinh thái của mơi

trường sống. Vì vậy, để điều khiển được q trình sinh sản của các lồi cá, chủ

động tạo ra nguồn con giống cung cấp cho quá trình sản xuất thì việc hiểu biết về

kĩ thuật sản xuất giống là rất cần thiết.

Nghề nuôi cá trên thế giới và ở Việt Nam đã có từ lâu đời. Do yêu cầu của

sản xuất nên vấn đề sinh sản nhân tạo để tạo ra con giống cung cấp chủ động cho

nuôi cá thịt trở thành một nhu cầu cấp thiết của sản xuất.

Hiện nay, nghề nuôi cá ở nước ta không ngừng được mở rộng và phát triển

trong cả nước. Có hàng trăm trạm, trại sản xuất giống, nuôi cá thịt, bên cạnh đó có

hợp tác xã, các tư doanh có nghề ni cá phát triển.

Trong quy trình sinh sản nhân tạo gồm 4 khâu kĩ thuật chủ yếu:

- Kĩ thuật nuôi vỗ cá bố mẹ

- Kĩ thuật cho cá đẻ

- Kĩ thuật ấp trứng

- Kĩ thuật ương cá giống



32



2.1. Cơ sở của sự sinh sản các lồi cá ni

2.1.1. Đặc điểm sự thành thục của cá

2.1.1.1. Tuổi thành thục

Quy luật chung về phát dục của sinh vật nhiệt đới là tuổi thành thục thấp, chu

kỳ sinh sản ngắn. Do vậy hầu hết các lồi cá kinh tế ở nước ta có tuổi thành thục

thấp. Có thể chia các lồi cá ở nước ta theo nhóm tuổi thành thục lần đầu như sau:

- Nhóm cá thành thục khi đủ 12 tháng tuổi: cá Trê, cá Sặc rằn, cá Mè vinh, cá

He, cá Bống tượng.

- Nhóm cá thành thục khi đạt 24 tháng tuổi như: cá Tai tượng, Mè trắng, Chép

- Nhóm cá thành thục từ 3 năm trở lên: cá Tra, cá Basa.

Mặc dù vậy vẫn có một số cá thể đạt tới mức chín muồi sinh dục rất sớm so

với tuổi thành thục lần đầu của các loài như cá Mè vinh có thể thành thục lúc 8

tháng tuổi, cá Trê vàng sau 8 tháng tuổi có thể mang sản phẩm sinh dục.

2.1.1.2. Đặc điểm sự phát dục của tuyến sinh dục

Các kết quả nghiên cứu về tổ chức học của buồng trứng một số lồi cá cho

thấy q trình phát triển của tuyến sinh dục cũng trải qua tuần tự các giai đoạn từ

thấp đến cao.

Sự phân chia giai đoạn thành thục của noãn sào

Dựa vào sự phân chia tuyến sinh dục cá theo 6 thang bậc của Kixelevits

(1925), Sakun và Butskaia (1968) và Nguyễn Khoa Diệu Thu (1975) có thể phân

chia như sau:

- Giai đoạn I: Tuyến sinh dục chỉ là 2 sợi nhỏ, màu sắc trong, nằm sát hai

bên xương sống và thường dính sát với hai dãy mỡ chạy dọc hai bên xương sống.

Mắt thường không phân biệt được đực cái.

- Giai đoạn II: Tuyến sinh dục vẫn là hai dãy mỏng liên kết chặt chẽ với mô

mỡ, mạch máu và mô liên kết kém phát triển. Mắt thường vẫn chưa phân biệt được

đực cái.

ở giai đoạn I và II độ béo của cá cao nhất, thường ở Ball 4- 5

- Giai đoạn III: Kích thước và trọng lượng buồng trứng tăng lên rõ rệt, mắt

thường đã phân biệt được đực cái. Các tế bào trứng ở giai đoạn này đã thể hiện mức

độ không đồng đều về mức độ phát triển, kích thước và màu sắc giữa các tế bào

trứng không đồng nhất. Trong buồng trứng đã có một số ít tế bào trứng ở giai đoạn

IV, tế bào ở giai đoạn III chiếm 20- 30%, còn lại tế bào trứng ở giai đoạn I, II.

33



- Giai đoạn IV: Buồng trứng đạt kích cỡ cực đại, chiếm 2/3 xoang bụng.

Mạch máu và mô liên kết rất phát triển, tế bào trứng đạt kích thước tối đa, tròn và

rời. Tuỳ theo mức độ phát triển của tế bào trứng mà người ta chia giai đoạn IV

làm nhiều giai đoạn phụ khác:

+ Giai đoạn IVa: Nỗn hồng mới tích luỹ từ trong ra, bụng đã to nhưng

cứng, phát triển trong 20 ngày.

+ Giai đoạn IVb: Nhân ở giữa, bụng đã mềm, có con hậu mơn đã hơi lồi lên.

+ Giai đoạn IVc: Nỗn hồng phát triển tối đa, nhân chuyển về cực động vật.

Chỉ khi nào tuyến sinh dục đạt đến cuối giai đoạn IV thì tồn bộ hoạt động

sinh lý của cá mới ở trạng thái sẵn sàng sinh sản.

- Giai đoạn V: Là giai đoạn buồng trứng ở trạng thái sinh sản, các tế bào đã

chín và rụng ở trạng thái lưu động. Trong buồng trứng ngồi các tế bào trứng ở

giai đoạn này còn gặp các tế bào trứng ở giai đoạn IV cùng với các màng follicle.

- Giai đoạn VI: Là giai đoạn cá đã đẻ xong, noãn sào teo nhỏ lại, trên bề mặt

nỗn sào có màu đỏ bầm, mạch máu dần to. Trong buồng trứng có nhiều bọc

follicle rỗng. Các tế bào trứng ở giai đoạn IV và tế bào trứng ở các pha khác.

Sau khi cá đẻ xong q trình thối hoá và tái hấp thu xảy ra liên tục. Tuỳ

theo đặc điểm sinh sản của từng loài mà sau khi thối hố tuyến sinh dục có thể

trở về giai đoạn II hoặc III và ở ngồi tự nhiên q trình thoái hoá và tái hấp thu

tương đương với thời gian tạo trứng.

Quy luật biến đổi thành phần sinh hoá trong chu kỳ phát dục của tuyến sinh dục

Buồng trứng phát triển theo giai đoạn và theo chu kỳ nhất định, đó là sự

chuyển biến bên trong cơ thể nói chung và trong buồng trứng nói riêng. Trọng

lượng buồng trứng ở giai đoạn IVc gấp 160 lần giai đoạn I, trọng lượng vật chất

này chủ yếu được cung cấp từ thức ăn ở bên ngoài và được cơ thể cá hấp thụ và

chuyển hoá thành. Nghiên cứu một số chất cơ bản trong buồng trứng, gan và

trong cơ qua các giai đoạn phát triển ta thấy:

- Từ giai đoạn II đến giai đoạn IVa, thành phần protein, gluxit, lipit đều tăng

ở cả 3 bộ phận, chứng tỏ cá ở giai đoạn này tồn bộ cơ thể đều tích luỹ chất dinh

dưỡng. Chính vì vậy đòi hỏi phải cung cấp đầy đủ thức ăn.

- Từ giai đoạn IVb đến giai đoạn IVc, sự tích luỹ các chất dinh dưỡng ở tuyến

sinh dục tăng mạnh, còn ở gan và ở cơ giảm đi rõ rệt.

Vì vậy có thể chia q trình phát triển của cơ thể cá thành 2 giai đoạn chính:



34



- Giai đoạn sinh trưởng (giai đoạn II- IVa ): Cần tập trung thức ăn và cho ăn

tốt để cá tích luỹ mỡ cao, tạo điều kiện cho cá phát dục thành thục.

- Giai đoạn thành thục (giai đoạn IVb – IVc ): Chủ yếu xảy ra q trình

chuyển hố nội tại, các chất dinh dưỡng đã tích luỹ ở gan, cơ được chuyển hố để

cung cấp cho q trình phát triển của buồng trứng. Giai đoạn này cường độ hấp

thụ thức ăn của cá giảm đi. vì vậy, lượng thức ăn cung cấp cho cá cũng giảm theo.

2.1.1.3. Mùa vụ sinh sản của cá và các điều kiện sinh thái sinh sản của cá

Mùa vụ sinh sản của cá

Đại đa số các lồi cá đều có chung mùa sinh sản, tập trung vào tháng 3- 5

sau đó giảm dần và có thể chấm dứt vào tháng 9- 10. Tuỳ theo nhu cầu sinh thái

sinh sản của từng loài đơn giản hay phức cá tạp mà cá chọn cho mình thời điểm

đẻ cho mình thích hợp. Dựa vào những đặc điểm mơi trường sống và đặc tính sinh

sản của cá có thể chia ra như sau:

- Nhóm cá đẻ một lần trong năm: Những lồi này có u cầu về các điều

kiện sinh thái phức tạp và phần lớn cá có tập tính di cư sinh sản. Thuộc nhóm này

bao gồm các lồi cá phân bố ở các sơng lớn, hoặc các thuỷ vực có liên hệ với

sơng cá Tra…

- Nhóm cá đẻ rải rác trong năm: những lồi cá có đặc điểm như vậy thường

tập chung ở thuỷ vực nước nông, lưu tốc nước khơng đáng kể, thậm chí đó là thuỷ

vực nước đứng như cá Chép, cá Trê… những loài cá này thường đẻ rải rác quanh

năm nhưng tập chung mạnh nhất vào tháng 3-7 hàng năm.

Điều kiện sinh thái sinh sản.

Việc phân tích điều kiện tự nhiên bãi đẻ của cá có ý nghĩa rất lớn đối với vấn

đề nghiên cứu ứng dụng trong sinh sản nhân tạo hoặc lợi dụng các điều kiện sẵn

có trong ao để thúc đẩy cá thành thục tốt hơn.

Qua những kết quả nghiên cứu về sinh học một số loài, đặc điểm của tế bào

trứng sau khi thụ tinh và đối chiếu với các tài liệu trong, ngồi nước, ta thấy mơi

trường bãi đẻ tự nhiên của cá chủ yếu mang vị trí, chiều rộng, độ sâu, tính chất

thuỷ văn ở đó.

Vị trí

Bất cứ lồi cá nào khi sinh sản đều tìm đến một mơi trường nào đó có các

điều kiện thích hợp để đẻ trứng.

Những lồi có tập tính đẻ trứng bán trơi nổi, đẻ với số lượng lớn thường tìm tới nơi

có điều kiện thuỷ văn phức tạp, lưu tốc nước lớn, độ sâu nước lớn, diện tích lớn… để đẻ

35



trứng như cá Mè vinh, cá He, cá Chài,... Trong khi đó một số lồi lại tìm đến những khu

vực có vực nước nơng hơn, có cây cỏ thuỷ sinh và điều kiện làm tổ, làm hang để đẻ

trứng. Đó là những thuỷ vực vốn bị ngập nước vào mùa mưa nhưng khơ cạn vào mùa

nắng. Nhóm cá đẻ trứng như vậy có cá Trê, cá Tra.

Những nơi có đủ điều kiện sinh thái sẽ thu hút được nhiều lồi có tập tính

sinh sản giống nhau đến đẻ trứng. Như vậy khơng phải mỗi lồi có bãi đẻ riêng

cho mình mà chỉ có một vị trí nào đó trong bãi đẻ tự nhiên của cả quần xã cá tham

gia đi đẻ.

Ví dụ: Trong một bãi đẻ bị ngập nước ven sông, nơi có mực nước nơng ta có

thể gặp cá Leo tìm tới các hang hốc, gốc cây để đẻ, cá Trê trắng đào đất ở bờ làm

hang để đẻ, cá Sặc rằn tìm đến những nơi có mực nước 0,2- 0,3m có cỏ để phun

bọt đẻ trứng.

Diện tích và độ sâu

Ngồi tự nhiên diện tích bãi đẻ của cá biến thiên rất lớn. Đây là điều kiện cần

cho cá đẻ. Theo những tài liệu điều tra về bãi đẻ tự nhiên của cá Mè trắng trên

sông Hồng cho thấy bãi đẻ giao động từ vài chục đến vài ngàn mét vng. Trong

khi đó độ sâu của bãi đẻ giao động khơng lớn. Như vậy, chúng ta có thể thấy rằng

độ sâu và diện tích của bãi đẻ của cá là điều kiện cần cho cá sinh sản, chính những

nơi này chỉ khi nào các điều kiện môi trường khác xuất hiện mới có tác dụng thu

hút cá đến đẻ trứng.

Lưu tốc dòng nước

Lưu tốc dòng nước đặc biệt quan trọng đối với những lồi cá đẻ trứng bán

trơi nổi như cá Mè vinh, cá Mè, Trắm cỏ…Thông thường bãi đẻ của các loài cá

này tập trung ở những nơi gặp nhau của các con sơng hoặc một vị trí nào đó thuộc

vùng trung lưu hoặc thượng lưu của các con sơng lớn. ở những nơi này lưu tốc

nước có thể đạt tới 1,0- 1,5 m/s.

Khi lưu tốc nước tăng vào mùa mưa hoặc sau các trận mưa lớn kéo dài ở gần

khu vực cá đẻ thường kéo theo các điều kiện thuỷ văn khác xuất hiện như mực

nước đột ngột dâng cao, kèm theo đó lưu tốc dòng chảy cũng bị thay đổi, độ trong

thay đổi…khi các điều kiện này xuất hiện đồng thời và có tác động đến cá sẽ có

tác dụng thúc đẩy cá đẻ trứng.

Nhiệt độ nước

Nhiệt độ nước là yếu tố có tác động đối với sự sinh sản của cá. Cá chỉ đẻ

trứng trong một phạm vi nhiệt độ thích hợp. Mặt khác tuỳ từng loài mà nhiệt độ



36



sinh sản của cá cũng khác nhau. Đối với những loài cá ở nước ta thường nhiệt độ

sinh sản thích hợp từ 26- 300C.

Một số yếu tố khác

Các yếu tố mơi trường khác có tác dụng tham gia vào việc kích thích sinh

sản của cá như độ trong, ánh sáng, pH… chỉ phản ánh ở góc độ thích nghi của cá

đối với q trình bảo vệ nòi giống chứ khơng có tác dụng quyết định tới sự đẻ

trứng của cá.

Tóm lại ở tự nhiên khi cá đẻ trứng thì bất cứ một yếu tố riêng biệt nào đều

không thể làm cho cá sinh sản được, mà cần đòi hỏi có sự tác động đồng thời của

nhiều yếu tố môi trường.

2.1.2. Các yếu tố ảnh hưởng tới sự thành thục của cá

Cá là động vật thuỷ sinh biến nhiệt, do vậy tất cả các hoạt động của cá chịu

sự tác động rất lớn của các yếu tố bên ngoài và bên trong, đồng thời tuỳ theo từng

giai đoạn phát triển của tế bào trứng mà một hoặc vài yếu tố tác động có tính chất

quyết định đến cả một quá trình hay một giai đoạn của buồng trứng.

2.1.2.1. Các yếu tố bên ngoài ảnh hưởng tới sự thành thục của cá

Nhiệt độ

Nhiệt độ là yếu tố bên ngoài tác động đến cá trên một diện rộng, hầu như

tất cả các hoạt động của cá diễn ra hàng ngày chịu sự ảnh hưởng của nhiệt độ. Do

nhiệt độ là yếu tố biến đổi có tính quy luật, cho nên các hoạt động của cá, đặc biệt

quá trình thành thục cũng mang tính quy luật.

Trong giới hạn nhiệt độ thích hợp, khi nhiệt độ tăng quá trình trao đổi chất

của cá tăng. Nikonski (1967) cho biết: “Mỗi giai đoạn phát triển của cá nói chung

và của buồng trứng nói riêng đòi hỏi mức độ nhiệt độ khác nhau”, và ơng còn

khẳng định “khi nhiệt độ thấp thích hợp cho sự sinh trưởng và tích luỹ vật chất

dinh dưỡng, còn khi nhiệt độ cao lại thích hợp cho q trình thành thục của tuyến

sinh dục”.

Như vậy ở một giai đoạn phát triển của cơ thể hay của tế bào trứng đòi hỏi một

tổng nhiệt nhất định. Sự thích nghi này mang tính chất quy luật và được phát triển thành

quy luật tổng nhiệt: “Tổng nhiệt là tích số giữa thời gian phát triển với hiệu ứng nhiệt độ

là một hằng số trong một giai đoạn phát triển hay cả cuộc đời của một lồi sinh vật nào

đó”. Quy luật tổng nhiệt được tính theo cơng thức:

S



=



D ( T - T0 )



37



S: Tổng nhiệt độ bình quân theo ngày của một giai đoạn phát triển hay cả

một đời.

D: Thời gian phát triển (tính bằng ngày)

T: Nhiệt độ trung bình của từng ngày trong thời gian quan sát

T0 : Nhiệt độ không sinh học, tức là tại nhiệt độ sinh vật chỉ có trao đổi chất

duy trì.

Đối với mỗi lồi cá có một khoảng nhiệt độ thích hợp cho sự phát triển của

tuyến sinh dục và sinh sản. Ngồi khoảng nhiệt độ đó cá có thể sống nhưng khơng

thể thành thục và sinh sản được. Trong phạm vi nhiệt độ thích hợp nhiệt độ càng

cao càng rút ngắn thời gian nuôi vỗ cá bố mẹ. ở miền Bắc nước ta, một mùa đơng

có nhiều ngày ấm áp có thể làm cho các lồi cá sinh sản trong vụ xuân- hè như cá

Mè, Trắm cỏ thành thục sớm. Ngược lại khi mùa rét kéo dài, số ngày nắng ít cá bố

mẹ được ni vỗ sẽ thành thục trễ và cho đẻ muộn.

Ví dụ: Quá trình phát dục của phơi cá Mè Trắng

ở nhiệt độ nước 20oC, sau 50 giờ trứng nở.

ở nhiệt độ nước 25oC, sau 24 giờ trứng nở.

ở nhiệt độ nước 30oC, sau 16 giờ trứng nở.

ở cá bột cũng như vậy, sự hình thành các cơ quan phát triển nhanh khi nhiệt

độ tăng.

ảnh hưởng của thức ăn đến sự thành thục của cá.

Thức ăn bổ xung cho cá trong ao nuôi vỗ đóng vai trò quyết định đối với sự

sinh sản sớm và tái thành thục của cá. Lượng thức ăn bổ xung có thành phần cân

đối về tỉ lệ sẽ có tác dụng tốt đối với q trình phát triển của trứng. Ngược lại có

thể gây ra những rối loạn nghiêm trọng về thành thục. Vì vậy, ni vỗ cá cần phải

có sự kết hợp giữa thức ăn thích hợp của lồi với thức ăn tinh một cách hài hồ.

Ví dụ: khi nuôi vỗ cá Mè vinh nếu được cung cấp thức ăn xanh thoả mái,

thức ăn tinh chiếm 3- 4% khối lượng thân sẽ đem lại chất lượng trứng cao hơn so

với cá được ni vỗ hồn tồn bằng thức ăn tinh.

Bên cạnh đó cũng có một số lồi đặc biệt là ăn tạp và thiên về mùn bã hữu cơ

và động vật như cá Chép, cá Trôi ấn Độ thức ăn tinh ở đây lại đóng vai trò lớn trong

quá trình thành thục và sinh sản của cá. Lúc đó ta có thể coi thức ăn tinh thừa dưới

đáy như là vật chất hữu cơ đặc biệt có chất lượng dinh dưỡng cao.



38



ảnh hưởng của một số khí hồ tan

Trong các loại khí hồ tan trong nước, Oxy là yếu tố quan trọng giúp cho q

trình ơxy hố các phản ứng trong cơ thể và tạo ra năng lượng cung cấp cho các

hoạt động sống của cá như: kiếm mồi, sinh trưởng, phát triển, phát dục, sinh

sản…

Các loài cá ở thời kỳ phát dục có nhu cầu Oxy khác nhau. Do đó tạo mơi

trường trong sạch cung cấp Oxy đầy đủ là yêu cầu cần thiết cho cá thành thục và

sinh sản tốt. Trong thực tế, sự gia tăng nhiệt độ và thức ăn, phân bón cho ao nuôi

đã làm tiêu hao một lượng lớn Oxy trong nước. Do vây, bơm nước thường xuyên

hay định kỳ là biện pháp tích cực nhằm thay đổi nước, cung cấp Oxy thúc đẩy q

trình thành thục của cá.

ảnh hưởng của dòng nước đối với sự thành thục của cá.

Một số loài cá chỉ có thể thành thục và đẻ trứng tốt khi có dòng nước kích

thích, đặc biệt đối với những lồi có tập tính di cư sinh sản với qng đường dài.

Rerjava đã có nhận định "cơng do cá sinh ra trong q trình di cư sinh sản có liên

quan đến sự tiêu phí chất sống, tạo điều kiện thuận lợi cho q trình sinh hố, làm

điều kiện cho sự thành thục".

Sự giảm chuyển động của cá trong các bể chứa sẽ dẫn đến những rối loạn của quá

trình này và tích luỹ mỡ trong tuyến sinh dục kèm theo sự giảm hàm lượng Protein, suy

yếu q trình ơxy hố và sự thiếu máu, kết quả là cá không đẻ được.

Như vậy vai trò của dòng nước đối với sự thành thục của cá rất quan trọng.

Chính vì vậy mà lồi cá ở tự nhiên đều sinh sản khi có sự thay đổi về dòng nước,

chất nước và thường tập trung vào mùa mưa. Trong quá trình di cư ngược dòng đi

đẻ như vậy, cường độ bắt mồi của cá giảm dần theo sự phát triển buồng trứng,

theo đó độ béo của cá cũng giảm do sự chuyển hoá các chất dinh dưỡng cho

buồng trứng.

Từ lý luận và thực tiễn sản xuất giống của nhiều loài cá cho thấy rằng: những

ao thường xuyên kích thích nước cá sẽ thành thục tốt, sức sinh sản cao, chất lượng

trứng và ấu trùng tốt. Cũng có thể giải thích hiệu quả của kích thích nước là khi

dùng dòng nước để kích thích cá trong ao tức là đã sử dụng biện pháp tổng hợp để

làm thay đổi toàn bộ điều kiện trong ao ni bởi vì khi thay nước có thể sẽ:

- Thay đổi chế độ khí hồ tan, tăng cường lượng O 2 hồ tan, đào thải được

các khí độc tích tụ trong ao.

- Thay đổi được thành phần muối dinh dưỡng, bổ xung cho ao những muối

dinh dưỡng cần thiết cho cá như: NH4+, P2O5-…

39



- Tăng cường thức ăn tự nhiên cho cá.

Mặt khác việc thay đổi nước mới cho ao còn tạo điều kiện cho sự vận động,

chuyển hố các chất dinh dưỡng đã tích tụ sang cho tế bào trứng.

- Biện pháp thay nước mới hoặc kích thích bằng dòng nước đặc biệt quan

trọng đối với những ao ni vỗ cá bố mẹ có mật độ cao, diện tích nhỏ và độ sâu

của ao thấp.

2.1.2.2. Các yếu tố bên trong ảnh hưởng tới sự thành thục của cá.

Các hoạt động bên trong của cá đặc biệt là khi cá thành thục chịu sự chi phối

rất nhiều của cơ quan nội tiết. Các yếu tố ảnh hưởng tới cá cũng phải thông qua sự

hoạt động của các cơ quan này, đặc biệt là hệ thần kinh trung ương. Như vậy

trong q trình phát triển để ngày càng thích ứng với điều kiện mơi trường ln

thay đổi cá đã hình thành hệ thống nội tiết rõ rệt và dần dần hình thành hệ thống

điều khiển thần kinh thể dịch. Trong hệ thống nội tiết của cá về hình thái cũng

như chức năng, não thuỳ thể phát triển hoàn chỉnh hơn các tuyến khác. Các tuyến

khác như tuyến giáp trạng, tuy vẫn còn trong giai đoạn tương đối nguyên thuỷ

nhưng chức năng sinh lý của chúng tương tự như tuyến của động vật cao đẳng.

Dưới sự diều khiển của thần kinh trung ương và nhờ tương hỗ giữa các tuyến

thể, tuyến nội tiết tiết ra kích tố, các kích tố này hoặc ức chế hoặc kích thích sự

hoạt động của tổ chức cơ quan nào đó, điều tiết các cơ năng sinh lý trong cơ thể,

làm cho cơ thể thích ứng với ngoại cảnh tốt hơn.

Cá cũng giống như các động vật khác, não thuỳ thể là trung khu của hệ nội

tiết, nó khơng những trực tiếp khống chế nhiều cơ năng sinh lý quan trọng của cơ thể

mà còn khống chế được phần lớn sự hoạt động của các tuyến thể khác.

Não thuỳ của cá

Não thuỳ của cá cũng giống như động vật cao đẳng khác, nó được chia thành

2 bộ phận: bộ phận tuyến thể và bộ phận thần kinh. Bộ phận thần kinh nối liền với

não trung gian và có các sợi thần kinh ăn sâu vào tuyến thể. Bộ phận tuyến thể lại

chia ra thành:

- Thuỳ trước (Proadenohypophysis)

- Thuỳ giữa (Mesoadenohypophysis)

- Thuỳ sau (Metaadenohypophysis)

Người ta đã chứng minh được chính xác tế bào ưa kiềm (Basophyl) của thuỳ

giữa tiết ra được kích thích tố. Kích thích tố này có thể kích thích sự phát triển của

tuyến sinh dục và gây rụng trứng ở cá. Não thuỳ còn tiết ra chất kích thích sự sinh

40



trưởng. Nếu cắt bỏ não thuỳ cá sẽ ngừng sinh trưởng, tuyến sinh dục ngừng phát

triển. Ngồi ra não thuỳ còn tiết ra tuyến giáp trạngvà kích tố vỏ để khống chế sự

hoạt động của các tuyến nội tiết khác.

Chính thuỳ giữa là bộ phận tiết chủ yếu của não thuỳ, kích thích tố của

chúng đóng nhiều vai trò và chức năng khác nhau.

Các thí nghiệm đã chứng minh rằng các tế bào ưa kiềm (tế bào  và ) có tác

dụng trực tiếp tới q trình thành thục, chín và rụng của tế bào trứng. Còn các tế

bào ưa acid có liên quan đến q trình thẩm thấu hoặc điều hồ các phản ứng sinh

hố trong cơ thể cá.

Kích thích tố do tế bào ưa kiềm của thuỳ giữa tiết ra là FSH và LH đã có tác

dụng trực tiếp đến sự lớn lên của tế bào trứng và cuối cùng là quá trình rụng trứng

của cá. Đồng thời người ta cũng chứng minh được LH chỉ tác dụng sau khi FSH

đã tác dụng.

Nang trứng là nơi tiếp nhận kích thích tố và tự nó biến đổi tiết ra một chất

tương tự như Progesteron làm cho trứng chín và rụng.

ở đầu mùa sinh sản khi độ nhạy cảm của nang trứng còn thấp, những liều

kích tố thấp sẽ khơng có khả năng gây rụng hoặc cá không đẻ trứng khi các điều kiện

sinh thái không xuất hiện, tác động đồng thời với cường độ mạnh.

ở giữa mùa sinh sản do độ nhạy cảm của nang trứng cao nên cá có thể đẻ

trứng bình thường ở những liều kích dục tố tương đối thấp. Cũng có trường hợp

có lồi cá sẽ rụng trứng, đẻ trứng ngay trong ao. Khi có một số điều kiện mơi

trường mới nào đó xuất hiện. Trong khi đó ở đầu mùa sinh sản khơng bao giờ ta

gặp hiện tượng này.

Ví dụ: cá Mè vinh nuôi vỗ trong ao, khi tuyến sinh dục đã chín muồi, khi kích

thích nước cho ao cá có thể đẻ ngay trong ao sau vài tiếng đồng hồ kích thích.

Khi tế bào trứng đã chín muồi mà bị giữ lâu ở gần với ngưỡng trên của nhiệt

độ sinh sản, thì các tế bào ưa kiềm sẽ giảm dần hoạt tính, các tế bào sinh dục sẽ

dần thối hố và kết quả là cá khơng đẻ được.

Vấn đề này cần được chú ý với các loài cá nhập nội và di nhập vào miền

Nam trong mấy năm gần đây như cá Mè trắng. Đối với các loài cá này khi trứng

đã chín muồi nếu khơng cho đẻ kịp thời thì khoảng 10- 15 ngày trứng sẽ thối

hố.

Nếu buồng trứng chưa chuyển sang trạng thái sẵn sàng sinh sản, độ nhạy

cảm của nang trứng còn thấp, thì sau khi tiêm kích tố hiệu quả trước tiên là

Estrogen này tác động lên tuyến yên gây ra sự tiết ACTH. Nếu lượng ACTH tiết

41



ra quá mức sẽ làm rối loạn áp suất thẩm thấu P tt của huyết tương tức là làm rối

loạn nồng độ K+ và Na+ trong máu. Nếu trầm trọng cơ thể cá bị chết. Trong trường

hợp này có thể coi là ngộ độc kích dục tố.

ảnh hưởng của tuyến giáp trạng

Chức năng tuyến giáp trạng của cá cũng tương tự chức năng tuyến giáp trạng

ở động vật bậc cao. Ngồi tác dụng tiết ra kích thích thích tố tăng trưởng, nó còn

có tác dụng gián tiếp đến sự thành thục của tuyến sinh dục.

Kích thích tố tuyến giáp trạng có tác dụng phân giải đường Glucogen thành

Glucose làm tăng khả năng hấp thụ muối và tăng q trình oxy hóa mỡ để chuyển

sang cho tế bào trứng.

tuyến thượng thận

Cá bị cắt bỏ tuyến này sẽ chết, hiện tượng này cũng giống như phản ứng của

động vật bậc cao khác, điều đó chứng tỏ tuyến thượng thận của cá tuy chưa hoàn

chỉnh nhưng chức năng sinh lý của nó có vai trò rất quan trọng trong đời sống của cá.

Tuyến sinh dục

Nhiệm vụ của tuyến sinh dục là sản sinh ra các tế bào sinh dục và nó tiết ra

kích thích tố sinh dục khiến cho cơ quan sinh dục phụ phát triển và hoạt động

bình thường.

Nếu cá bị cắt bỏ tuyến sinh dục thì đặc điểm sinh dục phụ sẽ khơng còn và

các hoạt động sinh dục cũng mất đi. Nhưng nếu tiêm kích tố sinh dục cho cá non

thì có thể làm xuất hiện các đặc điểm sinh dục phụ. Nhưng hiện nay người ta vẫn

chưa xác định chính xác vai trò của kích tố sinh dục ảnh hưởng như thế nào đối

với sự phát triển của tế bào sinh dục do chúng sinh ra.

Tóm lại: Sự thành thục của tế bào trứng là cả một q trình. Trong q trình

đó đòi hỏi sự hoạt động của nhiều cơ quan nội tiết và cần có sự tác động của các

yếu tố bên ngồi thơng qua sự điều khiển của hệ thống thần kinh trung ương.

Đồng thời cũng do sự tác động của các yếu tố ở những mức độ khác nhau mà có

ảnh hưởng nhất định đối với quá trình thành thục của tế bào trứng.

2.1.3. Các yếu tố ảnh hưởng tới sự sinh sản của cá

2.1.3.1. Cơ chế tác dụng của kích dục tố đối với tế bào trứng

Khi tuyến sinh dục của cá đã thành thục và chuyển sang trạng thái sinh sản,

nếu có sự tác động đồng thời của các yếu tố mơi trường.

Q trình xảy ra theo sơ đồ sau:

42



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

sản xuất cá giống

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×