Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Cá Chim trắng nước ngọt thuộc

Cá Chim trắng nước ngọt thuộc

Tải bản đầy đủ - 0trang

Hình1.9: Cá Chim Trắng (Clossoma brachypomum)

1.9.2.2. Phân bố

Ngồi tự nhiên cá phân bố lưu vực sông Amazon, là một trong nhiều loài cá

thường gặp và được sử dụng làm thực phẩm ở vùng nhiệt đới và á nhiệt đới.

Năm 1982 được nhập vào Đài Loan, năm 1985 được nhập vào Quảng Đông

Trung Quốc. Cá nuôi ở nước ta được nhập từ Trung Quốc tháng 4 và tháng 8 năm

1998, sau đó đưa ra ni thử nghiệm. Năm 2000 - 2001 đã nghiên cứu sinh sản

nhân tạo ở một số nơi, đến nay cá đã được nuôi phổ biến ở miền Bắc và đang nuôi

thử nghiệm ở miền Nam.

1.9.3. Đặc điểm dinh dưỡng và điều kiện môi trường sống

1.9.3.1. Đặc điểm dinh dưỡng

Thời kỳ cá bột, thức ăn tự nhiên của cá là sinh vật phù du nhỏ, có thể cho cá

ăn thêm nước bột trứng, nước bột đậu tương.

Thời kỳ cá hương ăn động vật phù du cỡ lớn, các loại thức ăn chất bột hoặc

dạng hạt nhỏ.

Cá trưởng thành có tính ăn tạp, phổ thức ăn rộng. Cá ăn các loại thức ăn

thực vật như các loại rau cỏ trên cạn và dưới nước, các loại hạt ngũ cốc, các loại

phụ phẩm như vỏ hoa quả, vỏ dưa hấu, mùn bã hữu cơ. Các loại thức ăn động vật

như giun đất, nhộng tằm, tôm cá nhỏ, ốc, hến, thịt phế phẩm.... Ngồi ra có thể

cho cá ăn các loại thức ăn viên công nghiệp hoặc tự chế biến.

1.9.3.2. Điều kiện môi trường sống

Cá Chim trắng sống ở tầng nước giữa và tầng đáy. Nó là lồi cá nhiệt đới

nên tính chịu lạnh kém. Nhiệt độ có thể cho cá sinh trưởng được từ 10 - 35 0C;

nhiệt độ thích hợp nhất từ 28 - 30 0C. Đòi hỏi hàm lượng oxy hòa tan rất cao (từ

4-6 mg/l), ở điều kiện đó cá sinh trưởng và phát triển rất tốt. ở hàm lượng oxy

0,5 mg/l cá sống được vài giờ. Cá có thể sống được ở pH trung tính hoặc axit

26



yếu (pH từ 5,6-7,5). ở cá nước ngọt và cá nước lợ thì độ mặn thích hợp < 15%o

(thích hợp nhất là với độ mặn từ 5-10%o ).

1.9.4. Đặc điểm sinh trưởng

Cá Chim lớn nhất ở vùng sơng Amazon có khối lượng tới 20 kg, ở Trung Quốc

thường cá giống sản xuất tháng 5 - 6 nuôi tới cuối năm có thể đạt cá thương phẩm từ

0,4 - 1 kg (trung bình 0,5 - 0,7 kg). Cá giống thả cỡ 5 - 7 cm, mật độ 900 - 1200

con/ha. Sau 3 tháng ni có thể đạt cỡ 1 kg/con. Cá Chim giống cỡ 70 - 100g nuôi

ghép trong ao nuôi thâm canh, có nơi ni trong 127 ngày đạt 1,2 - 1,5 kg/con. Cá lớn

nhanh trong năm đầu, sau khi đạt khối lượng 1,7 - 1,8 kg thì chậm lớn dần, do vậy khi

nuôi cá thịt nên thu hoạch lúc cá đạt 1-1,5 kg/con.

1.9.5. Đặc điểm sinh sản

Trong tự nhiên cá chim trắng thường đẻ trong sông Amazon. Điều kiện sinh

thái tự nhiên cho cá đẻ là dòng nước chảy và mưa. Cá ni trong ao nhất thiết cần

kích thích nhân tạo cá mới đẻ đợc.

ở các tỉnh phía nam Trung Quốc, cá chim 3 tuổi thành thục. Cá đẻ theo mùa

từ tháng 5 đến tháng 10. Mỗi mùa sinh sản, cá đẻ 2 - 3 lần, mỗi lần cách nhau 35 40 ngày. Cá bố mẹ cho sinh sản thường nặng 3,5 - 4 kg/con.

Cá đẻ lần đầu có sức sinh sản 8 - 10 vạn trứng/kg cá cái.

1.10. Cá Tra (Pangasius hypophthalmus Sauvage, 1878)

1.10.1. Vị trí phân loại

Cá tra thuộc

Lớp



:



Ostelchithes



Bộ



:



Siluriformes



Họ



:



Schilbeidae



Giống



:



Pangasius



Lồi



:



Pangsius hypophthalmus Sauvage, 1878



1.10.2. Đặc điểm hình thái cấu tạo và phân bố

1.10.2.1. Hình thái cấu tạo

Cá Tra thân dài, đầu dẹp, lưng bụng và đuôi dẹp bên, chiều dài thân không

kể đuôi gấp 4,5 - 5 lần chiều cao thân và chiều đài đầu. Răng lá mía, khơng có

vẩy. Mầu xám tro, lưng sẫm, bụng nhạt. Vây lưng cao có một tia gai cứng, vây



27



ngực cũng có một tia gai cứng, có vây mỡ nhỏ, vây hậu mơn dài, vây đi chẻ

sâu nhỏ.



Hình1.10: Cá Tra (Pangasius hypophthalmus)

1.10.2.2. Phân bố

Cá phân bố tự nhiên trên thế giới sông Mêkông, ở Borneo, Sunratra, Java,

Thái Lan, Mã Lai, Campuchia và Đồng Bằng Sông Cửu Long Việt Nam

ở nước ta cá tra là đối tượng nuôi truyền thống ở các tỉnh đồng bằng Nam

Bộ. Trong thời gian gần đây cá được di giống thuần hố ni ở một số tỉnh phía

Bắc.

1.10.3. Đặc điểm dinh dưỡng và điều kiện môi trường sống

1.10.3.1. Đặc điểm dinh dưỡng

Cá thuộc nhóm cá ăn tạp, thiên về ăn động vật, ăn ấu trùng, côn trùng ở

nước, cua, tơm, cá con, trai ốc. Cá tra ni có thể cho ăn cám bã, bí đỏ, cua, tơm,

phế phẩm, rau cải, bã đậu...

1.10.3.2. Điều kiện mơi trường sống

Cá có thể ni ở ao, hồ, bè, có khả năng chịu được mơi trường nước dơ bẩn,

hàm lượng ơxy thấp. Có thể nuôi được với mật độ dày, chịu được nồng độ muối

nhỏ hơn 5%. Trong tự nhiên có thể sống ở vùng nước chảy.

1.10.4. Đặc điểm sinh trưởng

Cá tra cỡ lớn nhất nặng 20kg, dài 1m. Cỡ cá khai thác trung bình từ 1 1,5kg, tốc độ lớn nhanh. Cá ni 6 tháng có trọng lượng 0,5kg. Sau mỗi năm cá

nặng thêm 1 - 1,2kg. Sau 2 năm cá tăng khoảng 3kg.

1.10.5. Đặc điểm sinh sản

Trước kia cá chỉ sinh sản ngoài tự nhiên ở vùng nước chảy xiết. Bãi đẻ tự

nhiên quan trọng là biển Hồ. Cá bột sau khi nở trôi về vùng hạ lưu, nhân dân vớt

về để nuôi. Cá Tra thành thục sau 3 tuổi, trọng lượng 3kg trở lên. Tuy nhiên cá

28



thành thục còn phụ thuộc vào đặc điểm và môi trường sống, cá đẻ trứng dính. Về

mùa vụ sinh sản của cá ngồi tự nhiên sớm hơn nhân tạo từ 1 - 2 tháng, cá thành

thục từ tháng 3 đến tháng 8.

1.11. CÁ Rô PHI (Oreochromis niloticus)

1.11.1. Vị trí phân loại

Cá rơ phi hiện đang nuôi phổ biến ở Việt Nam thuộc :

Bộ cá vược - PerciForms

Họ - Cichlidae

Giống - Oreochromis

Loài - Cỏ rụ phi vằn O.niloticus.











Hiện nay có 3 lồi chính được phổ biến tại Việt Nam là :

Cỏ rụ phi cỏ Oreochromis Mossambicus, được nhập vào Việt Nam năm

1953 qua ngó Thỏi Lan.

Cá rô phi văn ( Rô phi Đài Loan O.niloticus ) được nhập vào Việt Nam

năm 1974 từ Đài Loan.

Cá rô phi đỏ ( red Tilapia ), có màu hồng được nhập vào Việt Nam năm

1985 từ Maliaxia.



1.11.2. Đặc điểm hình thái cấu tạo và phân bố

1.11.2.1. Hình thái cấu tạo

Lồi cá rơ phi Oreochromis niloticus: tồn thân phủ vẩy, ở phần lưng có

màu xám nhạt, phần bụng có màu trắng ngà hoặc xanh nhạt. Trên thân có từ 7-9

vạch chạy từ phía lưng xuống bụng. Các vạch đậm dọc theo vây đi ở từ phía

lưng xuống bụng rất rõ. Cá rơ phi vằn là lồi kích cỡ thương phẩm lớn, lớn nhanh,

đẻ thưa hơn cá rô phi đen. Đây là lồi được ni phổ biến nhất trên thế giới và ở

Việt Nam hiện nay.

Lồi cá rơ phi đen Oreochromis mossambicus, tồn thân phủ vẩy, vẩy ở

lưng có mầu xám, tro đậm hoặc xanh đến hơi nhạt. Phần bụng có màu trắng sáng

hoặc xám ngà. Trên thân và vây đi có các sọc chạy từ lưng xuống bụng như ở

cá rô phi vằn. Cá rơ phi đen còn gọi là cá rơ phi cỏ, cá rơ phi sẻ là lồi lớn chậm,

29



kích cỡ thương phẩm nhỏ, đẻ mau nên khơng được ưa chuộng. Ngồi ra còn có 1

số giống cá rơ phi khác như cá rô phi đỏ (cá diêu hồng) cũng được nuôi khá phổ

biến hiện nay đặc biệt là Đồng bằng sơng Cửu long.

1.11.2.2. Phân bố

Cá rơ phi có nguồn gốc từ Châu Phi thuộc họ Cichlidae, bộ cá vược

Perciformes. Cho đến năm 1964, người ta mới biết khoảng 30 lồi cá rơ phi, hiện

nay con số đó khoảng 100 lồi, trong đó khoảng 10 lồi có giá trị kinh tế. Những

lồi được ni phổ biến là cá rơ phi vằn, rô phi xanh, rô phi đỏ và rô phi đen,

trong đó lồi ni phổ biến nhất là cá rô phi vằn.

Ngày nay cá rô phi không những được nuôi ở Châu Phi mà đã được phán

tán và nuôi ở nhiều nước trên thế giới, đặc biệt là ở các nước nhiệt đới và cận

nhiệt đới. Trong vài chục năm trở lại đây, chúng mới thực sử trở thành lồi cá

ni cơng nghiệp, sản lượng lớn và giá trị kinh tế cao.

Cá rơ phi vằn có tên khoa học là Oreochromis niloticus, là lồi cá có thịt

ngon, giá trị thương phẩm cao, nhanh lớn và dễ nuôi ở các mơ hình ni khác

nhau. Kết quả nghiên cứu trong những năm gần đây cho thấy nuôi đơn cá rô phi

hay ni ghép với các lồi cá khác, cá sinh trưởng nhanh và rất ít khi bị bệnh. Cá

rơ phi có khả năng chống chịu tốt với các môi trường sống khác nhau và cho hiệu

quả kinh tế cao.

1.11.3. Đặc điểm dinh dưỡng và điều kiện môi trường sống

1.11.3.1. Đặc điểm dinh dưỡng

Tính ăn tạp của cá rơ phi thay đổi theo giai đoạn phát triển và môi trường

nuôi. Cá rô phi là loài cá ăn tạp ngiêng về thực vật. Thức ăn chủ yếu là tảo và 1

phần thực vật bậc cao và mùn bã hữu cơ. ở giai đoạn cá con (từ giai đoạn cá bột

lên hương) thức ăn là động thực vật phù du. Từ giai đoạn cá hương đến cá trưởng

thành, thức ăn chủ yếu là mùn bã hữu cơ và thực vật phù du. Cá rô phi có khả

năng tiêu hố các lồi tảo xanh, tảo lục mà một số lồi các khác khơng có khẳ

năng tiêu hố. Ngồi ra cá rơ phi còn ăn được thức ăn bổ sung như cám gạo, bột

ngô, các phụ phẩm nơng nghiệp khác. Đặc biệt cá rơ phi có thể sử dụng có hiệu

quả thức ăn tinh như cám gạo, bột ngô, khô dầu lạc, đỗ tương, bột cá và các phụ

phẩm nông nghiệp khác. Trong nuôi thâm canh, nên cho cá ăn thức ăn có hàm

lượng đạm cao từ 18-35% protein. Cá rơ phi có nhu cầu dinh dưỡng gần giống với

cá chép về thành phần tinh bột (dưới 40%), canxi (1,5 – 2%), phôtpho (1-1,5%),

K, Na. Chỉ có một điều khác là thức ăn của cá rơ phi yêu cầu hàm lượng đạm thấp

hơn. Điều này rất có ý nghĩa khi chế biến thức ăn cơng nghiệp cho cá rô phi.

1.11.3.2. Điều kiện môi trường sống

1.11.4. Đặc điểm sinh trưởng

Tốc độ lớn của cá rô phi phụ thuộc vào nhiệt độ môi trường, thức ăn, mật

độ thả và kỹ thuật chăm sóc. Khi ni thâm canh cá lớn nhanh hơn khi nuôi bán

thâm canh hay nuôi ghép.

Giai đoạn cá hương: trong ao nuôi, cá rô phi vằn từ hương lên giống có tốc

độ sinh trưởng khá nhanh từ 15-20 g/tháng. Từ tháng nuôi thứ 2 đến tháng ni

30



thứ 6, tăng trưởng bình qn ngày có thể đạt 2,8-3,2 g/con/ ngày. Cá rơ phi vằn có

thể đạt trọng lượng bình qn trên 500 g/con sau 5-6 tháng ni.

1.11.5. Đặc điểm sinh sản

Thành thục sinh dục.

Trong điều kiện ao nuôi, cá rô phi thành thục sinh dục vào tháng thứ 3, 4

khi cá có trọng lượng thơng thường là 100-150 g/con (cá cái). Tuy vậy kích thước

thành thục sinh dục của cá rô phi phụ thuộc vào điều kiện chăm sóc, điều kiện

nhiệt độ và độ tuổi. Cá ni trong mơ hình thâm canh năng suất cao. Cá cái tham

gia sinh sản lần đầu trọng lượng đạt hơn 200 g trong khi đó ở điều kiện ni kém,

cá cái bắt đầu đẻ khi trọng lượng cơ thể mới khoảng 100 g.

Chu kỳ sinh sản của cá rô phi.

Hầu hết các lồi cá rơ phi trong giống Oreochromis đều tham gia sinh sản

nhiều lần trong 1 năm. Trong điều kiện khí hậu ấm áp, cá rơ phi đẻ quanh năm (10

– 11 lứa ở các tỉnh phía Nam; 5-7 lứa ở các tỉnh phía Bắc).

Quan sát buồng trứng cá rơ phi cho thấy: trong buồng trứng lúc nào cũng

có tất cả các loại trứng, từ loại non nhất đến loại chín sẵn sàng để đẻ. Vì vậy trong

tự nhiên, ở các ao nuôi cá rô phi chúng ta gặp rất nhiều cá con ở các cỡ khác nhau

(trừ ao nuôi cá rơ phi đơn tính). Số lượng trứng từ vài trăm trứng đến 2000 trứng.

Chu kỳ sinh sản của cá rơ phi thường kéo dài từ 3-4 tuần (tính từ lần đẻ này đến

lần đẻ tiếp theo).

Tập tính sinh sản.

Đến thời kỳ thành thục, vào mùa sinh sản các đặc điểm sinh sản thứ cấp của

cá rô phi rất rõ. Cá đực có màu hồng hoặc hơi đỏ ở dưới cằm, viền vây ngực và

vây lưng, vây đuôi ở con cái có màu hơi vàng. Ngồi ra con cái xoang miệng hơi

trễ xuống. Trước khi đẻ, cá đực đào tổ xung quanh bờ ao, nơi có nền đáy cứng, độ

sâu mực nước 50-60 cm. Hố hình lòng chảo, đường kính tổ đẻ từ 30-40 cm, sâu từ

7-10 cm. Cá cái đẻ trứng vào tổ, cá đực tiến hành thụ tinh. Sau khi thụ tinh cá cái

nhặt hết trứng vào miệng để ấp.

ở nhiệt độ 280C thời gian ấp là 4 ngày.

ở nhiệt độ 300C thời gian ấp là 2-3 ngày.

ở nhiệt độ 200C thời gian ấp là 6 ngày.

Cá sau khi nở, lượng nỗn hồng lớn, cá rất yếu, cá mẹ tiếp tục ấp trong

miệng từ 4- 6 ngày, cá mẹ nhả con và vẫn tiếp tục bảo vệ ở phía dưới trong 1-2

ngày đầu. Cá bột khi còn nhỏ thường bơi thành đàn xung quanh ao, có thể quan

sát được vào lúc sáng sớm.



Chương 2

sản xuất cá giống

Sinh sản là một khâu vơ cùng quan trọng trong q trình tồn tại và phát triển

của giới động vật nói chung cũng như các lồi cá nói riêng. Đối với động vật nói

31



chung, q trình sinh sản chủ yếu chịu tác động của các yếu tố sinh lý của cơ thể.

Đối với các lồi cá, q trình sinh sản thường rất phức tạp, liên quan đến hàng

loạt biến động của các yếu tố bên trong cơ thể và điều kiện sinh thái của mơi

trường sống. Vì vậy, để điều khiển được q trình sinh sản của các lồi cá, chủ

động tạo ra nguồn con giống cung cấp cho quá trình sản xuất thì việc hiểu biết về

kĩ thuật sản xuất giống là rất cần thiết.

Nghề nuôi cá trên thế giới và ở Việt Nam đã có từ lâu đời. Do yêu cầu của

sản xuất nên vấn đề sinh sản nhân tạo để tạo ra con giống cung cấp chủ động cho

nuôi cá thịt trở thành một nhu cầu cấp thiết của sản xuất.

Hiện nay, nghề nuôi cá ở nước ta không ngừng được mở rộng và phát triển

trong cả nước. Có hàng trăm trạm, trại sản xuất giống, nuôi cá thịt, bên cạnh đó có

hợp tác xã, các tư doanh có nghề ni cá phát triển.

Trong quy trình sinh sản nhân tạo gồm 4 khâu kĩ thuật chủ yếu:

- Kĩ thuật nuôi vỗ cá bố mẹ

- Kĩ thuật cho cá đẻ

- Kĩ thuật ấp trứng

- Kĩ thuật ương cá giống



32



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Cá Chim trắng nước ngọt thuộc

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×