Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Họ cá Chép : Cyprinidae

Họ cá Chép : Cyprinidae

Tải bản đầy đủ - 0trang

Hình1.6: Cá Trơi trắng Việt Nam (Cirrhina mollitorella)

1.6.2.2. Phân bố

Cá phân bố rộng rãi ở các sông thuộc hệ thống sơng Hồng, hệ thống sơng

Thái Bình, sơng Mã, sơng Lam. Trên thế giới gặp ở phía Nam Trung Quốc, Lào,

Campuchia.

1.6.3. Đặc điểm dinh dưỡng và điều kiện môi trường sống

1.6.3.1. Đặc điểm dinh dưỡng

Cá Trôi sau khi nở được 5 - 6 ngày dài 4,7- 6,5mm, nỗn hồng đã hết, cá chuyển

sang ăn thức ăn bên ngoài như tảo đơn bào và động vật phù du cỡ nhỏ.

Sau khi nở được 7 ngày cá dài 5,5-7,5mm, trong ống tiêu hoá có chứa nhiều

giáp xác nhỏ. Từ 8 - 9 ngày cá dài 7,03 - 8,2mm, thức ăn là Cladocera.

Từ 10 - 11 ngày cá dài 8,4 - 9,1mm, ăn Rotatoria, tảo Elosia. Từ 14 -25 ngày cá

dài 11,8 - 23,3mm, thức ăn thời gian đầu là tảo, động vật phù du cỡ nhỏ. Từ 28 ngày trở

đi trong ruột có nhiều mùn (80%) và tảo, số lượng giáp xác và động vật phù du ít đi.

Từ ngày 34 - 36 răng hầu đã rõ, cá ăn rất nhiều mùn (95%) và tảo sợi. Cá 1

tháng tuổi bắt đầu ăn như cá trưởng thành.

Cá nuôi trong ao ăn tạp, chủ yếu ăn mùn bã hữu cơ, thức ăn bổ xung (cám

gạo, ngô, thức ăn hỗn hợp).

1.6.3.2. Điều kiện môi trường sống

Cá sống ở tầng giữa và dưới, thích nước chảy, ưa hoạt động.

Cá Trơi chịu lạnh kém, ở 100C cá ít hoạt động.

1.6.4. Tốc độ sinh trưởng của cá trôi

Cá Trôi trắng Việt Nam có kích thước trung bình. Cỡ cá tối đa trên 5kg. Cá

khai thác thường có khối lượng 300 - 1000g, trung bình 500g và thường có từ 4

đến 5 nhóm tuổi.

Tốc độ sinh trưởng trong ao tuỳ thuộc vào nguồn thức ăn của thuỷ vực và chế độ

ni. Cá Trơi là lồi có tốc độ sinh trưởng chậm, cá 1 tuổi nặng 100 - 200g, cá 2 tuổi

nặng 200 - 320g, cá 3 tuổi nặng 400 - 600g, cá 4 tuổi nặng 600 - 800g.



20



1.6.5. Đặc điểm sinh sản

Cá Trôi cái 3 tuổi, cá đực 2 tuổi bắt đầu thành thục sinh dục. Trong ao nuôi

vỗ, cá Trôi phát dục tuỳ theo khối lượng là chủ yếu. Thông thường cá thành thục ở

3 tuổi, nặng 400 - 600g, một số ao nuôi chỉ đạt 200 - 300g cá vẫn phát dục tốt.

Sức sinh sản tương đối khoảng 15 vạn trứng/1kg cá cái. Trứng cá Trôi

thuộc loại trứng trôi nổi.

Mùa để trứng kéo dài, đẻ nhiều đợt. Trong sông cá bắt đầu đẻ từ tháng 5 đến

hết tháng 7, đôi khi kéo dài đến giữa tháng 8 nhưng tập trung vào tháng 6 đến

giữa tháng 7. Cá thường đẻ ban đêm và buổi sáng sớm.

Trong các ao hồ nhỏ cá khơng có khả năng sinh sản, mức độ thành thục, phát

dục của tuyến sinh dục kém. Trong sinh sản nhân tạo, ở miền Bắc nước ta chưa ổn

định, một số nơi chỉ đẻ thành công vào tháng 6 đến tháng 7, có nơi cho đẻ cuối

tháng 8 đầu tháng 9 vẫn có kết quả.

Cá Trơi đẻ cần có điều kiện sau: lưu tốc nước từ 0,95 - 2,3m/s, mức nước

dâng từ 1,5 - 4m, nhiệt độ thích hợp nhất từ 24 - 28 0 C. Độ trong từ 8 - 20cm,

pH:7 - 7,5, DO: 7 - 8mg/l.

1.7. Cá Rơ hu (Labeo rohita Hamilton, 1822)

1.7.1. Vị trí phân loại

Cá Rơhu hay còn gọi là cá Trơi ấn Độ thuộc

Bộ cá Chép

: Cypriniformes

Họ cá Chép

: Cyprinidae

Họ phụ cá Trôi

: Labeoninae

Giống cá Trơi

: Labeo

Lồi cá Rơhu

: Labeo rohita Hamilton, 1822

1.7.2. Hình thái cấu tạo và phân bố

1.7.2.1. Hình thái cấu tạo

Cá Rơhu có hình dạng cân đối, đầu to vừa phải, vẩy mọc đều đặn phủ kín

thân, đường bên chạy từ phía đầu đến giữa vây đi, số vẩy đường bên là 40 - 43.

Vành môi dưới dày, được cấu tạo bằng một lớp sừng, lược mang có dạng hình sợi

ngắn, công thức cấu tạo răng hầu của cá Rôhu là 5.4.3 - 3.4.5.

Lưng xanh thẫm, bụng trắng bạc. Đầu phần trên xám, môi và mõm trắng.

Viền mắt đỏ, các vây xám nhạt. Mùa phát dục trên mỗi vẩy thường có một đốm

ánh đỏ. Các vây ngực, vây bụng, vậy hậu mơn và vây đi mầu hồng, vây lưng

phớt hồng.



21



Hình1.7: Cá Rôhu (Labeo rohita)

1.7.2.2. Phân bố

Cá Rôhu phân bố tự nhiên trong hệ thống sơng Hằng và ở phía Bắc ấn Độ,

do việc di giống cho đến nay cá rôhu phân bố phổ biến ở các sông, hồ thuộc ấn

Độ và sau đó lan sang Bănglađet, Pakistan, Nepan....

Năm 1982 Uỷ ban hợp tác sông Mê Kông tiến hành nhập nội cá Rôhu vào

Việt Nam. Tháng 10 năm 1984 về nuôi ở Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thuỷ sản I

và đã được nhân giống phân tán ra nhiều vùng trong cả nước. Đến nay nó đã trở

thành một trong các đối tượng nuôi phổ biến của nhiều địa phương.

1.7.3. Đặc điểm dinh dưỡng và điều kiện môi trường sống

1.7.3.1. Đặc điểm dinh dưỡng

Sau khi nở được 3 ngày cá ăn động vật phù du cỡ nhỏ gồm động vật nguyên

sinh và luân trùng. Từ ngày thứ 5 trở đi cá sử dụng cả tảo đơn bào, giáp xác

Cladocera, Copepoda và một số loại thức ăn nhân tạo như cám, khô dầu, bột cá....

Từ ngày thứ 17 trở đi ruột cá dài hơn chiều dài cơ thể, lúc này tỷ lệ thực vật mục

nát trong ruột cá cũng tăng dần theo kích thước của cá.

Qua phân tích thành phần thức ăn trong ống tiêu hố của cá Rơhu ni tại

Viện Nghiên cứu Ni trồng Thuỷ sản I cho kết luận: khi còn nhỏ cá ăn sinh vật

phù du là chủ yếu, càng lớn lên cá càng ăn nhiều mùn bã hữu cơ, nhất là mùn bã

hữu cơ thực vật. Cá Rơhu còn ăn các loại cám gạo, hạt ngũ cốc, các loại bèo râu,

bèo tấm. Cá Rơhu là lồi cá ăn tạp có phổ thức ăn rộng.

1.7.3.2. Điều kiện môi trường sống

Cá sống ở tầng giữa và tầng đáy, có khả năng lẩn trốn khi bị xua đuổi.

Nhiệt độ thích hợp cho cá phát triển từ 20 - 290C, hàm lượng ôxy từ 3mg/l

trở lên, pH: 6,8 - 8

1.7.4. Đặc điểm sinh trưởng

Cá Rơhu có tốc độ lớn nhanh, trong điều kiện ao ni tốt, được bón phân và

thức ăn đầy đủ 1 năm đạt 0,5 - 1kg, 2 năm đạt 2,6kg, 3 năm đạt 4 - 4,5kg.

ở nước ta nuôi trong ao sau 1 năm đạt 0,6 - 0,8kg, 2 năm đạt 1,5 - 1,8kg.



22



1.7.5. Đặc điểm sinh sản

Cá Rôhu thành thục sinh dục vào 2 tuổi, lúc này cá bố mẹ đạt cỡ 1,2 2kg. Sức sinh sản rất lớn và phụ thuộc vào khối lượng cơ thể, trung bình từ 10

vạn - 15 vạn/ 1kg cá cái.

ở ấn Độ mùa sinh sản của cá rôhu từ tháng 6 đến tháng 8. ở nước ta mùa

sinh sản của cá Rôhu bắt đầu từ tháng 5 kéo dài đến đầu tháng 9. Thời điểm bắt

đầu cho cá đẻ tuỳ thuộc vào từng năm và từng địa phương khác nhau.

Cá Rơhu chỉ có thể đẻ ở ngồi sơng và các hồ chứa lớn. Các bãi đẻ tự nhiên

thường ở giữa và dọc theo sơng, nơi có dòng chảy mạnh, nền đáy đa dạng. Nhiệt

độ thích hợp cho cá Rơhu đẻ trứng từ 28 - 300 C.

1.8. Cá mrigal (Cirrhina mrigala Hamilton, 1822)

1.8.1. Vị trí phân loại. cá Mrigal thuộc

Bộ cá Chép



: Cypriniformes



Họ cá Chép



: Cyprinidae



Phân họ cá Trơi



: Labeoninae



Giống cá Trơi



: Cirrhina



Lồi cá Trơi Mrigal : Cirrhina mrigala Hamilton, 1822

1.8.2. Hình thái cấu tạo và phân bố

1.8.2.1. Hình thái cấu tạo

Về ngoại hình cá Mrigal có thân thon dài, đầu nhỏ, chiều cao thân bằng 23% chiều

dài thân, vẩy cá có mầu sáng xám. Số đường bên 43 - 44, số vẩy trên đường bên là 7 và

số vẩy dưới đường bên là 6, số vẩy cuống đuôi 10 - 12. Số tia vây lưng (D) 3,12 - 13, số

tia vây ngực (P) 1,14 - 17, số tai vây bụng (V) 2,8 và số tia vây hậu mơn (A) 3,5.



23



Hình1.8: Cá Mrigal (Cirrhina mrigala)

1.8.2.2. Phân bố

Cá Mrigal có nguồn gốc tự nhiên ở các thuỷ vực nước ngọt ở phía Bắc ấn

Độ, Bănglađet, Pakistan, Mianma.

ở nước ta cá được nhập vào từ Lào năm 1984 và trở thành đối tượng nuôi

khá phổ biến, đồng thời phát tán ra tự nhiên ở nhiều vùng trong cả nước.

1.8.3. Đặc điểm dinh dưỡng và điều kiện mơi trường sống

1.8.3.1. Đặc điểm dinh dưỡng

Cá Mrigal khi còn nhỏ ăn động vật phù du như động vật nguyên sinh, luân

trùng, một số tảo đơn bào, giáp xác Cladocera, Copepoda kể cả ấu trùng và côn

trùng.

Khi trưởng thành cá sống ở tầng đáy và chủ yếu thức ăn hữu cơ. Về đặc điểm

dinh dưỡng cá mrigal có phổ thức ăn như cá trơi Việt, do đó có sự cạnh tranh thức

ăn giữa hai loài này song tốc độ sinh trưởng của cá Mrigal cao hơn nhiều so với cá

Trôi Việt.

1.8.3.2. Điều kiện môi trường sống

Cá sống ở tầng nước giữa và kề tầng đáy, thích sống ở các vực nước ao,

sơng, suối chảy. Nhiệt độ thích hợp từ 20 - 300C, pH: 7 - 7,5.

1.8.4. Đặc điểm sinh trưởng

Tốc độ sinh trưởng của cá mrigal lớn nhanh hơn cá trơi ta. Cá ni 1 năm có

thể đạt cỡ 0,5 - 1kg/ con.

1.8.5. Đặc điểm sinh sản

Cá Mrigal 2 tuổi bắt đầu phát dục, tuỳ từng lứa tuổi nhưng cá đực thường

phát dục sớm hơn cá cái. ở lần đẻ đầu tiên cá cái có khối lượng trung bình từ 800 900g, cá đực có khối lượng trung bình 600 - 700g.

Sức sinh sản lớn, ở lần đẻ chính vụ có thể cho 25 - 30 vạn trứng /1kg cá cái.

Mùa đẻ của cá Mrigal từ tháng 4 đến tháng 8, trùng với gió mùa tây nam của ấn

Độ, cá đẻ 2 hoặc 3 lần trong một mùa sinh sản. ở Việt Nam mùa đẻ thường tập

trung vào tháng 5 đến tháng 6, nhiệt độ thích hợp cho cá đẻ và ấp trứng từ 28 310C.



24



1.9. Cá chim trắng nước ngọt (Clossoma brachypomum)

1.9.1. Vị trí phân loại

Cá Chim trắng nước ngọt thuộc

Bộ



: Characiformes



Họ



: Characidae



Giống



: Clossoma



Lồi



: Clossoma brachypomum



1.9.2. Đặc điểm hình thái cấu tạo và phân bố

1.9.2.1. Hình thái cấu tạo

Cá có số tia vây lưng(D) 18 - 19, số tia vây bụng (V) 16 - 18, số tia vây hậu

môn (A) 8, khơng có tia gai cứng.

Hình dạng cá gần giống cá Chim Trắng biển, thân dẹp và cao, đầu nhỏ.

Chiều dài đầu bằng chiều cao đầu, vị trí mõm ở chính giữa, mõm hơi tù, vây đi

cân và có rãnh sâu.

Hàm trên và hàm dưới có hai hàng răng, mặt răng khuyết như lưỡi răng cưa,

nhọn và sắc.

Chỗ khởi điểm của cuống vây đi ở phía lưng có một vây mỡ nhỏ, phần

trên của nó bán trong suốt, phần dưới có vẩy, diềm vẩy mầu đen. Vảy trên thân cá

tròn nhỏ chặt chẽ khó bị rụng. Số vẩy đường bên có 83 - 99. Từ chân vây ngực

đến hậu mơn có vẩy gai nhọn, cứng. Mình cá có mầu xám bạc hoặc mầu ánh bạc

hơi xanh. Các vây ngực, vây bụng, vây hậu mơn có mầu đỏ, vây đi có điểm

vân đen ở diềm vây. Tuy nhiên mầu sắc của cá trưởng thành thay đổi theo mơi

trường.



25



Hình1.9: Cá Chim Trắng (Clossoma brachypomum)

1.9.2.2. Phân bố

Ngoài tự nhiên cá phân bố lưu vực sơng Amazon, là một trong nhiều lồi cá

thường gặp và được sử dụng làm thực phẩm ở vùng nhiệt đới và á nhiệt đới.

Năm 1982 được nhập vào Đài Loan, năm 1985 được nhập vào Quảng Đông

Trung Quốc. Cá nuôi ở nước ta được nhập từ Trung Quốc tháng 4 và tháng 8 năm

1998, sau đó đưa ra nuôi thử nghiệm. Năm 2000 - 2001 đã nghiên cứu sinh sản

nhân tạo ở một số nơi, đến nay cá đã được nuôi phổ biến ở miền Bắc và đang nuôi

thử nghiệm ở miền Nam.

1.9.3. Đặc điểm dinh dưỡng và điều kiện môi trường sống

1.9.3.1. Đặc điểm dinh dưỡng

Thời kỳ cá bột, thức ăn tự nhiên của cá là sinh vật phù du nhỏ, có thể cho cá

ăn thêm nước bột trứng, nước bột đậu tương.

Thời kỳ cá hương ăn động vật phù du cỡ lớn, các loại thức ăn chất bột hoặc

dạng hạt nhỏ.

Cá trưởng thành có tính ăn tạp, phổ thức ăn rộng. Cá ăn các loại thức ăn

thực vật như các loại rau cỏ trên cạn và dưới nước, các loại hạt ngũ cốc, các loại

phụ phẩm như vỏ hoa quả, vỏ dưa hấu, mùn bã hữu cơ. Các loại thức ăn động vật

như giun đất, nhộng tằm, tơm cá nhỏ, ốc, hến, thịt phế phẩm.... Ngồi ra có thể

cho cá ăn các loại thức ăn viên công nghiệp hoặc tự chế biến.

1.9.3.2. Điều kiện môi trường sống

Cá Chim trắng sống ở tầng nước giữa và tầng đáy. Nó là lồi cá nhiệt đới

nên tính chịu lạnh kém. Nhiệt độ có thể cho cá sinh trưởng được từ 10 - 35 0C;

nhiệt độ thích hợp nhất từ 28 - 30 0C. Đòi hỏi hàm lượng oxy hòa tan rất cao (từ

4-6 mg/l), ở điều kiện đó cá sinh trưởng và phát triển rất tốt. ở hàm lượng oxy

0,5 mg/l cá sống được vài giờ. Cá có thể sống được ở pH trung tính hoặc axit

26



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Họ cá Chép : Cyprinidae

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×