Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Phỏt trin nng lc cho hc sinh thụng qua cỏc mụn hc.

Phỏt trin nng lc cho hc sinh thụng qua cỏc mụn hc.

Tải bản đầy đủ - 0trang

- Khi vào bài, giáo viên hỏi học sinh : Hôm nay trong lớp ta bạn nào ăn mặc gọn

gàng, sạch sẽ ? GV cho học sinh quan sát và nêu tên các bạn ăn mặc gọn gàng,

sạch sẽ. Sau khi học sinh được nêu tên thì GV mời các em đó lên bảng và đề nghị

cả lớp thưởng một tràng pháo tay để động viên, khích lệ các em và đồng thời khơi

dậy được tinh thần thi đua cũng như phần nào đã hình thành được trong đầu của

các em phải tự mình biết làm gì để cũng được tuyên dương như những bạn đó.

Qua việc làm tuy nhỏ, đơn giản này nhưng tôi nghĩ các em đã bước đầu nắm

được nội dung, nhiệm vụ của bản thân trong giờ học và đồng thời phần nào đã tự

ý thức và hình thành cho mình những việc cần làm để mình ln gọn gàng, sạch

sẽ.

- Khi dạy bài giữ gìn sách vở, đồ dùng học tập thì giáo viên cũng tiến hành tương

tự : GV cho học sinh tuyên dương bạn có sách vở, đồ dung đẹp, gọn gàng, sạch sẽ

rồi thưởng cho mỗi bạn đó một bơng hoa điểm mười để các em có tinh thần thi

đua và học hỏi lẫn nhau trong việc bảo quản sách vở, đồ dung học tập của mình.

Giải pháp 2. Thực hành.

GV sẽ dành nhiều thời gian vào hoạt động thực hành nhằm giúp học sinh tự

mình sẽ làm đẹp, làm gọn gàng bản thân cũng như biết sắp xếp sách vở, đồ dùng

học tập, đồ dùng cá nhân một cách gọn gàng , ngăn nắp để giáo dục cho các em

thói quen, năng lực tự phục vụ , tự quản tốt hơn. Học sinh tự mình sửa lại đầu tóc,

áo quần, giày dép gọn gàng hơn. Học sinh sẽ tự mình sắp xếp sách, vở trong cặp

của mình để gọn gàng, ngăn nắp hơn. Sau khi học sinh được học bài này, giáo viên

thường xuyên quan tâm, chú ý hơn đến ý thức của mỗi em về ăn mặc, quần áo,

giày dép cũng như sách vở và đồ dùng học tập vào thời gian đầu giờ học. Đặc biệt

trong những ngày đầu thì việc làm này là vơ cùng quan trọng vì lúc này học sinh

đang có hứng thú và vận dụng nội dung bài học một cách rất mới mẻ nên các em sẽ

thực hiện rất tốt . Bên cạnh đó giáo viên cần có sự khuyến khích, động viên, khích

lệ những em đã làm tốt và đồng thời cũng nhắc nhở những em chưa thực hiện tốt

8



và gửi gắm vào những em này lời nói, lời động viên mang tính hy vọng, đặt niềm

tin ở các em. Nếu giáo viên làm tốt điều này thì tơi nghĩ việc tất cả học sinh trong

lớp sẽ có thái độ tích cực trong việc giữ gìn sách vở, đồ dùng học tập tốt hơn. Với

cách làm như vậy dần dần các em sẽ nhận thấy được lợi ích và ý nghĩa về việc làm

của mình là tốt, được cơ giáo khen. Từ đó các em sẽ nhận biết và xem đó là trách

nhiệm và là việc phải làm hằng ngày của mình. Nếu như một khi các em đã tự

mình ý thức, xác định được đó là nhiệm vụ thì cái mà giáo viên cần giáo dục và

truyền tải, bồi dưỡng và phát triển cho học sinh- Năng lực tự phục vụ, tự quản đã

thành công.

Giải pháp 3. Phối kết hợp với phụ huynh học sinh.

Như trên tôi đã đặt vấn đề, việc làm đầu tiên khi giáo viên nhận lớp là cần nắm

bắt, tìm hiểu về tình hình hồn cảnh gia đình của các em một cách rõ ràng để giáo

viên có kế hoạch cụ thể cho từng đối tượng từ đó sẽ có biện pháp giáo dục phù hợp

và đạt hiệu quả cao hơn. Qủa thật từ lâu nay trong giáo dục cũng đã đề cập về việc

phối kết hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội nhưng phải chăng chỉ là trao đổi

những thông tin về học tập chứ phụ huynh chưa có vai trò tham gia đánh giá học

sinh. Nhưng từ khi có Thơng tư 22/ 2016/ TT- BGD ĐT của Bộ giáo dục và đào

tạo và khi Thơng tư này có hiệu lực thì vai trò của phụ huynh cũng đã có phần rất

quan trọng trong việc đánh giá học sinh bởi vậy việc phối kết hợp giữa nhà trường

và gia đình là vơ cùng quan trọng.

Đối với giải pháp này – giải pháp phối kết hợp với phụ huynh học sinh thì bản

thân tơi sẽ có những việc làm cụ thể như sau để nhằm giáo dục và nâng cao năng

lực tự phục vụ, tự quản cho học sinh một cách tốt nhất:

- Ngay buổi họp phụ huynh đầu năm, tơi sẽ nói rõ cho phụ huynh biết được về

thành phần được tham gia đánh giá học sinh theo Thông tư 22 bao gồm cả phụ

huynh học sinh nhằm mục đích phụ huynh nắm bắt được vai trò và sẽ có trách

nhiệm cao trong việc giáo dục con em mình tốt hơn.

9



- Quán triệt với phụ huynh về việc làm thay con những việc nhỏ nhặt mà tự bản

thân các em có thể làm tốt như: việc đi giày dép, việc sắp xếp, thu dọn sách vở

sau mỗi buổi học hoặc việc lựa chọn trang phục đúng quy định với nội quy trường

học , nội quy của Đội- sao nhi,….

- Giữ mối thông tin liên lạc và thường xuyên với phụ huynh học sinh để trao đổi

về những tiến bộ hoặc những khó khăn của các em một cách nhanh nhất để cùng

nhau có biện pháp uốn nắn kip thời.

VD: Trong chương trình đạo đức lớp 1 có bài Đi học đều và đúng giờ ( tuần 14,

15) thì khi dạy bài này GV cần có một câu hỏi cho học sinh cả lớp là để đi học

được đúng giờ thì mỗi buổi sáng các em sẽ phải làm những việc gì và làm như thế

nào? Hoặc một cách dẫn dắt khác là Làm thế nào để đi học đều và đúng giờ?,…

Từ một câu hỏi mở mang tính dẫn dắt như vây nhưng tơi nghĩ phần nào học sinh

sẽ hình thành, định hình được trong ý thức các em về những việc cần làm như:

ngủ dậy sớm, đánh răng, rửa mặt ăn sáng nhanh nhẹn để kịp giờ ,….Vậy để làm

tốt được điều này thì chắc chắn giáo viên phải kết hợp với phụ huynh để thường

xuyên nhắc nhở về vấn đề đi học đầy đủ và đúng giờ. Sau những lần sinh hoạt lớp

thì giáo viên có hình thức tun dương hoặc phê bình trước lớp để các em nhận

thấy việc đi học đúng giờ là nên làm và là nhiệm vụ quan trọng của người học

sinh thì các em sẽ hình thành được thói quen, kĩ năng, năng lực tự phục vụ, tự

quản tốt hơn và sẽ đón nhận nó một cách tự nhiên mà hiệu quả.

1.2 Năng lực hợp tác.

Để giúp học sinh phát triển tốt năng lực hợp tác thì bản thân tơi sẽ xác định và

lựa chọn mơn học thích hợp và có nhiều trường hợp, nhiều tình huống hay nhiều

nội dung cần đến năng lực này mới có thể giải quyết vấn đề một cách nhanh nhất

và hiệu quả. Xuất phát từ khâu đặt vấn đề, từ đặc điểm tâm sinh lí học sinh lớp

1cũng như việc xây dựng kế hoạch năm học và qua thực tiễn trong quá trình



10



giảng dạy thì bản thân tơi nhận thấy mơn học mà có thể phát huy năng lực này tốt

nhất đó là môn Tự học và môn Tự nhiên và xã hội.

* Lồng ghép giáo dục năng lực hợp tác cho học sinh qua môn Tự học.

Trong những năm gần đây việc thực hiện nâng cao chất lượng dạy học, nâng

cao các năng lực , phẩm chất cho học sinh và đổi mới phương pháp cũng như

hình thức dạy học buổi 2 ở Tiểu học đã được ngành giáo dục , các nhà trường chỉ

đạo quyết liệt nhằm đạt mục tiêu giáo dục tồn diện người học. Qủa thật trong

chương trình, thời khóa biểu hiện nay của các lớp chúng ta thấy hầu hết khơng có

tiết luyện tốn, luyện tiếng việt mà thay vào đó là các tiết HĐNGLL, Tự học,

luyện các môn thuộc về năng khiếu, sở trường của các em. Qua đó chúng ta –

những người làm trong ngành giáo dục cũng đã nắm bắt và thấu hiểu được song

song với việc truyền thụ kiến thức cho học sinh thì viêc rèn luyện và nâng cao

năng lực, phẩm chất một lần nữa lại được khẳng định nó có vai trò quan trọng

trong việc hình thành và phát triển tồn diện. Vậy tại sao mơn Tự học lại có thể

giúp học sinh phát triển tốt được năng lực Hợp tác như vây? Với môn học này tôi

xin đưa ra các giải pháp, việc làm cụ thể như sau:

Giải pháp 1. Xác định được nhóm học sinh có cùng sở thích về một mơn học để

thành lập nhóm. Trong nhóm đó cần lựa chọn ra được bạn xứng đáng nhất làm

nhóm trưởng để điều hành trong quá trình hợp tác và thực hiện nhiệm vụ của

nhóm.

Giải pháp 2. GV hướng dẫn việc làm cụ thể của từng nhóm và yêu cầu nhóm

trưởng quan sát kĩ các thành viên của mình để yêu cầu ai cũng có trách nhiệm

thực hiện, phải biết phối hợp với các bạn trong nhóm để trao đổi về nhiệm vụ của

mình.

Giải pháp 3. Khi phân chia nhóm cần xen kẽ được các thành viên có năng lực

hợp tác khác nhau để qua q trình thảo luận nhóm các em sẽ tự học hỏi được

kinh nghiệm lẫn nhau. Học sinh có năng lực hợp tác tốt sẽ giúp đỡ học sinh có

11



năng lực yếu hơn và qua đó cũng nêu cao được vai trò tự quản và khả năng giao

tiếp cho các em tốt hơn.

Giải pháp 4. Giáo viên cần ấn định thời gian thảo luận của các nhóm rõ ràng, dứt

khốt để giúp mỗi thành viên trong nhóm có thái độ làm việc tích cực. Mà các em

muốn hồn thành sớm thì rất cần sự hợp tác tốt. Chính vì vậy, năng lực hợp tác

của mỗi em lại được phát triển tốt hơn.

* Lồng ghép giáo dục năng lực hợp tác qua môn Tự nhiên và xã hội.

Trong tất cả các môn học ở tiểu học đều có thể kết hợp, lồng ghép nội dung giáo

dục các năng lực, phẩm chất nhưng qua thực tế giảng dạy và đặc trưng của bộ

mơn thì việc lồng ghép rèn luyện năng lực hợp tác vào môn Tự nhiên và xã hội là

rất cần thiết và hiệu quả. Môn Tự nhiên xã hội bao gồm những hiện tượng, những

yếu tố kiến thức gần gũi với đời sống thực tế với học sinh nên trong q trình dạy

theo nhóm và đặc biệt là sử dụng phương pháp dạy học Bàn tay nặn bột thì năng

lực hợp tác giữa các em học sinh lại được phát huy tối đa nhất.

VD: Khi dạy đến các bài 22, 23, 24,… cây hoa, cây rau, con cá thì bằng một câu

hỏi gợi mở dẫn dắt vấn đề các em đã có rất nhiều điều em đã biết về cây hoa, cây

rau, con cá,….vì những con vật, những loại cây này thì rất gần gũi với các em đặc

biệt là học sinh ở những vùng nông thơn. Chính vì vậy khi thực hiện dạy học theo

Phương pháp bàn tay nặn bột đối với những bài này thì chắc chắn các em sẽ rất

hứng thú và khơng những các em sẽ có thêm vốn hiểu biết sâu hơn về các loài

hoa, cây rau mà cái được nhất chính là năng lực hợp tác của các em sẽ phát triển

tốt nhất. Chúng ta biết rằng với lớp nào cũng vây, với môn học nào cũng thế nếu

như các em trên cơ sở đã có một ít vốn hiểu biết của bản thân về vấn đề nêu ra thì

khi giáo viên biết lựa chọn phương pháp và hình thức dạy học phù hợp nữa thì

các em sẽ tự mình bộc lộ và sẽ mạnh dạn nói lên những quan điểm, những hiểu

biết của mình một rất tự nhiên. Qua sự trao đổi, thảo luận và có những ý kiến

khác nhau đó thì trong nhóm sẽ có sự thảo luận sôi nổi hơn và sự hợp tác tốt hơn.

12



Các giải pháp cụ thể :

Giải pháp 1.Giáo viên cần tôn trọng những quan điểm, những bộc lộ, những hiểu

biết ban đầu của học sinh về vấn đề nêu ra mặc dù có thể là khơng chính xác.

Giải pháp 2. Giao nhiệm vụ cụ thể, rõ ràng của các nhóm, đặc biệt giáo viên cần

quan tâm đến hoạt động thảo luận, chia sẻ , trao đổi cũng như thái độ làm việc,

hợp tác của các thành viên trong mỗi nhóm về nhiệm vụ được giao.

Giải pháp 3. Đề cao vai trò về sự đánh giá nhận xét giữa các nhóm, tạo cơ hội

cho các nhóm được nhận xét lẫn nhau nhiều hơn. Trong dạy học, nếu giáo viên

tạo được phong trào thi đua tốt giữa các nhóm với nhau hoặc giữa các học sinh

càng nhiều thì hiệu quả giờ dạy sẽ rất thành công và đặc biệt điều này nếu thể

hiện tốt ở hoạt động nhóm thì năng lực hợp tác của các em lại càng sôi nổi hơn.Từ

những việc làm cụ thể đó, tơi nhận thấy hiệu quả giáo dục năng lực hợp tác ở học

sinh thông qua môn Tự nhiên xã hội rất thành công.

1.3 Năng lực tự học và giải quyết vấn đề.

Trên thực tế dạy học cấp tiểu học nói chung cũng như dạy học học sinh lớp 1

nói riêng thì để giáo dục và nâng cao được năng lực tự học, giải quyết vấn đề thì

đó là một việc làm khó khăn. Điều này là do xuất phát từ đặc điểm tâm sinh lí của

độ tuổi các em. Phải chăng các em còn q nhỏ để có thể có ý thức trong việc xác

định được nhiệm vụ tự học cho mình, lứa tuổi này các em còn thích chơi, chưa

hiểu hết được giá trị của năng lực tự học hoặc nhiều em vẫn còn có suy nghĩ vô

tư về những nhận xét, hay những con điểm khi thực hiện đánh giá định kì hay là

chưa thấy được vai trò quan trọng trong các kì thi ,…Chính những điều này dẫn

đến các em chưa thể tự ý thức được tầm quan trọng về tính tự học, tự giải quyết

vấn đề của bản thân. Nhưng nếu giáo viên bết vận dụng đặc điểm tâm lí lứa tuổi

các em lớp 1 là thích khuyến khích, động viên và nói lời khen thì đây cũng là một

vấn đề có thể khai thác tốt hơn nhằm gây được hứng thú học tập cũng như tạo ra

và rèn luyện cho các em năng lực tự học, tự giải quyết vấn đề một cách nhanh

13



nhất mà hiệu quả. Khi thực hiện bồi dưỡng Năng lực tự học, tự giải quyết vấn đề

cho học sinh bản thân tôi nhận thấy môn học dễ lồng ghép, dễ giáo dục nhất là

mơn Tự học và mơn Tốn, môn Tiếng việt. Các nhiệm vụ, giải pháp cụ thể để

nâng cao năng lực này cho học sinh là:

Giải pháp 1.Lựa chọn nội dung bài phù hợp với khả năng của từng học sinh, phải

đảm bảo mang tính vừa sức.

Giải pháp 2.Nắm bắt được môn học sở trường của các em. Một khi các em đã

được học môn sở trường của mình thì sẽ rất say mê,hứng thú và sẽ đem hết khả

năng để có thể hồn thành nội dung bài nhanh nhất, tốt nhất.

Giải pháp 3. Giáo viên cần hiểu rõ được nội dung kiến thức còn hỗng ở một số

học sinh chậm để trao đổi và rèn luyện thêm, nhắc nhở thêm ý thức học tập ở nhà.

Giải pháp 4. Ở mơn tốn, khi giáo viên ra bài tập và yêu cầu học sinh hoàn thành

bài cá nhân thì để phát huy được năng lực tự học, giải quyết vấn đề nhanh thì giáo

viên cần có sự nhận xét đánh giá kịp thời cho các em làm nhanh và đúng. Nếu giáo

viên thường xuyên làm như vậy thì dần dần các em đó sẽ được cao ý thức tự học

tốt hơn. Bên cạnh đó khơng chỉ riêng những em đó sẽ cố gắng hồn thành nhiệm

vụ của mình mà những bạn khác cũng sẽ có thêm động lực để phấn đấu để được cô

giáo khen giống như các bạn . Từ đó giáo viên đã tạo được phong trào học tập tích

cực cho học sinh của mình . Còn về phía học sinh thì các em sẽ nhận biết được ích

lợi của năng lực tự học, tự giải quyết vấn đề tốt hơn.

Giải pháp 5. Năng lực này sẽ được phát huy tốt hơn khi giáo viên dạy môn Tiếng

việt ở hoạt động đọc thầm. Khi giao nhiệm vụ, giáo viên cần quan sát được những

em nào có kĩ năng đọc thầm tốt, đọc được nhiều lần cần khuyến khích, động viên

kịp thời để nhằm phát huy tính tự học được tốt hơn.

Với những giải pháp cụ thể mà tôi đã đưa ra trên đây bản thân thấy nó có vai trò

và tầm ảnh hưởng quan trọng trong việc giáo dục, nâng cao các năng lực cho học

sinh lớp 1.

14



2. Phát triển phẩm chất cho học sinh thông qua các môn học.

2.1. Phẩm chất chăm học, chăm làm và tự tin, trách nhiệm

* Lồng ghép phát triển phẩm chất chăm học, chăm làm và năng lực tự tin, trách

nhiệm qua môn Tự nhiên và xã hội.

Các giải pháp cụ thể:

Giải pháp 1. giáo viên xác định và hệ thống các bài học trong chương trình có

thể lồng ghép giáo dục phẩm chất tốt nhất: bài công việc ở nhà; Hoạt động ở lớp;

giữ gìn lớp học sạch đẹp,…

Giải pháp 2. Lập kế hoạch cụ thể và đưa ra các phương án dạy học cũng như

các tình huống giải quyết phù hợp với đối tượng học sinh của mình.

Giải pháp 3. Sau khi học những bài này cần trao đổi với phụ huynh về những công

việc vừa sức của các em khi thực hiện ở nhà. Phụ huynh cần tạo cơ hội và khuyến

khích các em được tham gia để hình thành thói quen và phát triển phẩm chất tốt

hơn tránh ỷ lại người khác.

Giải pháp 4. Tổ chức nhiều buổi lao động vệ sinh trường, lớp, chăm sóc vườn hoa,

vườn rau,….giáo viên cần giao nhiệm vụ cụ thể, rõ ràng cho mỗi học sinh hoặc

từng nhóm học sinh và cần quan sát các em sát sao hơn để đánh giá chính xác, cụ

thể và sớm có biện pháp khuyến khích hay uốn nắn kịp thời.

Giải pháp 5. Giáo viên cần tạo được tâm thế tốt khi vào bài học hoặc tạo được

khơng khí vui tươi hứng khởi cho các em khi hoạt động để từ đó các em sẽ có thái

độ tích cực khi được giao nhiệm vụ và hiệu quả sẽ cao hơn .

2.2. Phẩm chất trung thực, kỉ luật; đoàn kết, yêu thương.

Giải pháp 1. Nêu gương người tốt, việc tốt.

Giải pháp 2. Kể chuyện về những việc làm tôt hoặc cho học sinh xem các hình

ảnh, các video về tình đồn kết u thương.

3.Phát triển các năng lực, phẩm chất cho học sinh thông qua hoạt động trải

nghiệm.

15



Trong những năm gần đây, các nhà trường tăng cường tổ chức cho học sinh được

hoạt động trải nghiệm, tham quan dã ngoại nhằm cung cấp cho học sinh những

hiểu biết về thực tế trong cuốc sống và bên cạnh đó chính là giúp các em có được

những năng lực, phẩm chất, những kĩ năng sống gắn với đời sống thực tế của các

em. Thông qua hoạt động trải nghiệm mà các em sẽ được tận mắt chứng kiến và

có thể các em sẽ được tự bản thân mình làm ra các sản phẩm. Chính vì vậy mà nếu

như các em được trải nghiệm càng nhiều thì các năng lực, phẩm chất của các em

phát triển càng tốt hơn. Sau đây tôi xin đưa ra một số hoạt động trải nghiệm phù

hợp với đặc điểm, tâm lí lứa tuổi của học sinh cũng như sẽ khai thác được tất cả

các năng lực, phẩm chất cho học sinh đó là:

Hoạt động 1. Tổ chức cho học sinh được trải nghiệm thông qua hoạt động Hội

chợ tuổi thơ.

Hoạt động 2.Phối kết hợp với nhà trường, với phụ huynh tổ chức cho học sinh

tham quan các khu di tích lịch sử, các danh lam thắng cảnh của huyện, của tỉnh

nhà.

Hoạt động 3. Phối kết hợp vơi các tổ chức Đoàn, Đội tổ chức cho học sinh thăm

và tặng quà các bà mẹ Việt Nam Anh hùng nhân ngày 27/7.

Hoạt động 4. Thi cắm hoa, vẽ tranh , thi biểu diễn thời trang,…về các ngày lễ lớn

như 20/ 10, 20/11, hoặc ngày 8/ 3.

Hoạt động 5. Học sinh tham quan doanh trại bộ đội hoặc các khu phát triển kinh tế

hoặc các mơ hình vườn đồi, trang trại của các hộ gia đình sản xuất giỏi ở ngay trên

quê hương mình

Hoạt động 6. Phối kết hợp với cha mẹ học sinh có thể tổ chức cho các em tham gia

vào việc chăm sóa vườn rau,…



16



Hoạt động 7. Triển khai các hoạt động từ thiện ở lớp nhằm giúp các em có hồn

cảnh khó khăn hoặc bản thân các em gặp khó khăn, thit thũi hn cỏc bn trong

lp.

III- Kết quả nghiên cứu.

Vic phát triển và nâng cao các năng lực, phẩm chất cho học sinh thông qua

các môn học và hoạt động trải nghiệm tôi hays không những học sih nắm được các

kiến thức cơ bản, nhanh mà qua đó các năng lực, phẩm chất của các em được phát

triển rất tốt và hiệu quả. Qua nhũng kiến thức, qua những việc làm và cũng chính

qua những việc làm cụ thể, những trải nghiệm gần gũi mà các em dươc phát triển

một cách toàn diện hơn. Song song với việc thực hiện đề tài cũng như quá trình

vận dụng vào dạy học hằng ngày thì bản thân thấy đây thực sự là một vấn đề đáng

được quan tâm và có ý nghĩa thit thc cao.

Kết quả so sánh đối chứng.

* Kết quả khảo sát trớc khi thực hiện sáng kiến.

L

p



S

S



Nng lc

T phc vụ,

tự quản



1



73



Phẩm chất

Hợp tác



Tự học và

GQVĐ



Chăm

học,chăm

làm



Tự tin, trách

nhiệm



Trung thực,

kỷ luật



Đoàn kết,

yêu thương



T



Đ



C T



Đ C T Đ C T Đ C T Đ C T Đ C T Đ C



20



40



1 1

3 5



40 1



8



1

5



4

0



1

8



10



5

0



1

3



20



4

8



5



30



3

5



8



25



38



1

0



* Kết quả khảo sát sau khi thực hiện s¸ng kiÕn.

Lớ

p



Sỹ

Số



Năng lực

Tự phục vụ,

tự quản



Phẩm chất

Hợp tác



Tự học và

GQVĐ

17



Chăm

học,chăm



Tự tin, trách

nhiệm



Trung thực,

kỷ luật



Đoàn kết,

yêu thương



làm



1



73



T



Đ



C T Đ C T Đ C T Đ C T Đ C T Đ C T C



50



23



0



40



33 0



33



40



0



35



38



0



50



23



0



60



13 0



Qua bng so sánh đối chứng kết quả tôi thấy t l s hc sinh có

năng lực, phẩm chất xếp loại Đạt đã lên đến 100%, khơng có học sinh nào xếp loại

chưa đạt. Bên cạnh đó số học sinh xếp năng lực phẩm chất Tt c tng lờn ỏng

k.

Với những kết quả đó, tôi tin tëng r»ng: “ Phát triển năng lực,

phẩm chất cho học sinh lớp 1 qua các môn học và hoạt ng tri nghim sẽ là

một gii pháp mới đợc nhiều giáo viên lựa chọn v ỏp dng trong dy

hc để nhằm nâng cao, phát triển năng lực, phẩm chất cho học sinh, giúp các em

được phát triển toàn diện một cách tự nhiên, nhẹ nhàng mà đem hiệu quả thiết

thực đáp ứng được mục tiêu giáo dục theo Nghị quyết số 29/NQ-TW- BGD ĐT đã

đề ra.

C. KÕt luËn - KIÕN NGHÞ

I. KÕt ln

Những kinh nghiệm trên được tơi đúc rút qua thực tế qua q trình giảng dạy

các mơn học và trong q trình hồn thành sáng kiến cũng như việc tìm hiểu những

thơng tin, hồn cảnh, tìm hiểu tâm tư nguyện vọng sâu sát của từng học sinh để có

được. Tơi hy vọng rằng với những gì mình viết ra đây sẽ được Hội đồng khoa học

các cấp công nhận và nó sẽ được các giáo viên áp dụng trong quá trình giáo dục

năng lực, phẩm chất cho học sinh. Chắc chắn bài viết của tôi còn rất

nhiều khuyết điểm và hạn chế. Rất mong đợc sự góp ý chân

thành của bạn bè đồng nghiệp và tất cả mọi ngời để bản sáng



18



60



13



0



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Phỏt trin nng lc cho hc sinh thụng qua cỏc mụn hc.

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×