Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Đình chỉ giải quyết vụ án dân sự ở tòa án cấp sơ thẩm

Đình chỉ giải quyết vụ án dân sự ở tòa án cấp sơ thẩm

Tải bản đầy đủ - 0trang

Khác với trường hợp tạm đình chỉ giải quyết vụ án được quy định tại Khoản 1 Điều

214 BLTTDS là trường hợp chuyển đổi hình thức hợp nhất, sáp nhập, chia, tách, giải thể.

Trong trường hợp này các cơ quan, tổ chức đang tham gia tố tụng với tư cách là nguyên

đơn, bị đơn chấm dứt hoạt động trên thực tế (do bị giải thể hoặc bị tuyên bố phá sản).

Trong quá trình giải quyết vụ án mà một trong các bên đương sự là cơ quan, tổ chức

bị Tòa án tuyên bố giải thể hoặc bị tuyên bố phá sản thì sẽ làm chấm dứt tư cách pháp lý,

chấm dứt mọi hoạt động trên thực tế và chấm dứt quyền, nghĩa vụ của cơ quan, tổ chức

đó. Do vậy, nếu khơng có cá nhân, cơ quan, tổ chức kề thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng

của các cơ quan, tổ chức này để tiếp tục quá trình tố tụng thì Tòa án sẽ đình chỉ giải quyết

vụ án.

Người khởi kiện rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện hoặc nguyên đơn đã được triệu tập

hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt, trừ trường hợp họ đề nghị xét xử vắng mặt hoặc

vì sự kiện bất khả kháng, trở ngại khách quan (điểm c khoản 1)

Sự kiện người khởi kiện rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện dẫn tới đối tượng cần được giải

quyết trong vụ án khơng còn tồn tại, việc giải quyết vụ án của Tòa án vì thế cũng bị chấm

dứt. Quy định này của BLTTDS 2015 đã khắc phục hạn chế tại điểm c khoản 1 Điều 192

BLTTDS 2004, sửa đổi 2011 khi đưa ra điều kiện “người khởi kiện rút toàn bộ yêu cầu

khởi kiện” thay vì chỉ cần điều kiện “người khởi kiện rút đơn khởi kiện” như trước đây.

Tuy nhiên, quy định này chỉ áp dụng với những vụ án có yêu cầu khởi kiện của ngun

đơn mà khơng có u cầu phản tố của bị đơn, yêu cầu độc lập của người có quyền lợi và

nghĩa vụ liên quan. Đối với những VADS mà người khởi kiển rút yêu cầu nhưng đương sự

khác vẫn giữ nguyên yêu cầu của mình thì Tòa án khơng ra quyết định đình chỉ giải quyết

đới với yêu cầu của đương sự đã rút. Có nghĩa là, Tóa án chỉ đình chỉ giải quyết một phần

của vụ án chứ khơng phải là đình chỉ giải quyết tồn bộ vụ án. Việc đình chỉ giải quyết vụ

án trong trường hợp vụ án có nhiều yêu cầu tố tụng chỉ được thực hiện nếu tất cả các

đương sự đều rút yêu cầu của mình làm cho đối tượng của VADS cần giải quyết khơng

còn tồn tại.

Ngun đơn đã được triệu tập lần hai mà vẫn vắng mặt dù khơng có đề nghị xét xử

vằng mặt hoặc khơng thuộc trường hợp vắng mặt do sự kiện bất khả kháng, trở ngại

khách quan thì việc vắng mặt này là khơng có lí do chính đáng. Trong trường hợp này,

việc ngun đơn được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt khơng lí

do chính đáng dẫn tới suy đoán là họ đã từ bỏ việc khởi kiện của mình, đối tượng của vụ

án cần giải quyết tại Tòa án khơng còn tồn tại, do vậy, việc giải quyết vụ án của Tòa án

cần được chấm dứt.

Đã có quyết định của Tòa án mở thủ tục phá sản đối với doanh nghiệp, hợp tác xã là

một bên đương sự trong vụ án mà việc giải quyết vụ án có liên quan đến nghĩa vụ, tài

sản của doanh nghiệp, hợp tác xã đó (điểm d khoản 1)

3



Theo Khoản 2 Điều 71 Luật Phá sản 2014: “Trường hợp Tòa án nhân dân ra quyết

định mở thủ tục phá sản, Tòa án nhân dân, Trọng tài, cơ quan thi hành án dân sự đã ra

quyết định tạm đình chỉ theo quy định tại Điều 41 của Luật này phải ra quyết định đình

chỉ và chuyển hồ sơ vụ việc cho Tòa án nhân dân đang tiến hành thủ tục phá sản để giải

quyết”. Như vậy, trong quá trình giải quyết VADS nếu một trong các bên đương sự trong

vụ án là doanh nghiệp, hợp tác xã đã có quyết định mở thủ tục phá sản thì các quyền,

nghĩa vụ của đương sự sẽ được giải quyết thông qua thủ tục phá sản. Vì vậy, Tòa án đang

giải quyết vụ án sẽ phải đình chỉ giải quyết vụ án đồng thời phải chuyển hồ sơ cho Tòa án

đang mở thủ tục phá sản để giải quyết.

Nguyên đơn không nộp tiền tạm ứng chi phí định giá tài sản và chi phí tố tụng khác

theo quy định của Bộ luật này (điểm đ khoản 1)

Trường hợp bị đơn có yêu cầu phản tố, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có u

cầu độc lập khơng nộp tiền tạm ứng chi phí định giá tài sản và chi phí tố tụng khác theo

quy định của Bộ luật này thì Tòa án đình chỉ việc giải quyết yêu cầu phản tố của bị đơn,

yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan

Đây là căn cứ đình chỉ giải quyết VADS mới được bổ sung nhằm đáp ứng nhu cầu của

thực tiễn và nâng cao trách nhiệm của đương sự đối với yêu cầu của mình. Theo Điều 164

BLTTDS 2015, người yêu cầu định giá tài sản phải nộp tiền tạm ứng chi phí đánh giá tài

sản nên nếu người yêu cầu định giá tài sản mà không nộp tiền tạm ứng chí phí định giá tài

sản thì vụ án không thể giải quyết được nên quy định này là hợp lý.

Đương sự có yêu cầu áp dụng thời hiệu trước khi Tòa án cấp sơ thẩm ra bản án,

quyết định giải quyết vụ án và thời hiệu khởi kiện đã hết (điểm e khoản 1)

Quy định này phù hợp với khoản 2 Điều 149 BLDS 2015 quy định về thời hiệu và

Điều 184 BLTTDS 2015 quy định về thời hiệu khởi kiện, thời hiệu yêu cầu giải quyết

việc dân sự. Đây là những căn cứ phát sinh trước khi Tòa án thụ lý vụ án nhưng vì thời

hiệu khởi kiện có thể được bắt đầu lại nên Tòa án vẫn thụ lý vụ án. Sau khi đương sự đã

cung cấp đầy đủ chứng cứ mà không chứng minh được là còn thời hiệu khởi kiện thì Tóa

án sẽ ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự là hợp lý. Cách quy định này sẽ bảo

đảm quyền tiếp cận công lý của công dân tốt hơn.

Các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 192 của Bộ luật này mà Tòa án đã thụ lý

(điểm g khoản 1)

Đây là những căn cứ phát sinh trước khi Tòa án thụ lý vụ án nhưng vì một ngun

nhân nào đó vụ án vẫn được Tòa án thụ lý, sau đó Tòa án mới phát hiện ra căn cứ này.

Các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 192 BLTTDS năm 2015 là các trường hợp trả

lại đơn khởi kiện tức là khơng đủ điều kiện để Tòa án thụ lý nhưng Tòa án đã thụ lý vụ án

là khơng đúng. Vì vậy, để khắc phục sai lầm của mình trong việc xem xét đơn khởi kiện

thì việc Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án trong trường hợp này là hợp lý.

4



Bên cạnh đó, điểm tiến bộ quan trọng của BLTTDS năm 2015 là đã dự liệu căn cứ

đình chỉ giải quyết VADS đối với vụ án có yêu cầu phản tổ của bị đơn, yêu cầu độc lập

của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Mặt khác, căn cứ đình chỉ giải quyết VADS

trong trường hợp này cũng đảm bảo tương thích với Điều 227 và 245 BLTTDS năm 2015.

- Các trường hợp khác theo quy định của pháp luật.

Đó là các trường hợp làm căn cứ cho Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết VADS

mà trong BLTTDS chưa quy định nhưng đã được quy đinh trong các văn bản quy phạm

pháp luật khác hoặc sau khi BLTTDS có hiêu lực thi hành mới được quy đinh trong các

văn bản quy phạm pháp luật được ban hành sau đó hoặc trong các điều ước quốc tế mà

Việt Nam là thành viên.

1.2. Thẩm quyền, thủ tục đình chỉ giải quyết VADS

Theo Điều 219 BLTTDS 2015 thì trước khi mở phiên tòa xét xử sơ thẩm Thẩm phán

được phân công giải quyết VADS có thẩm quyền ra quyết định đình chỉ. Tại phiên tòa sơ

thẩm, thẩm quyền quyết định đình chỉ giải quyết VADS thuộc về HĐXX sau khi đã thảo

luận thông qua tại phòng nghị án.

Quyết định tạm đình chỉ giải quyết VADS phải được lập thành văn bản. Trong thời

hạn 3 ngày làm việc kể từ ngày ra quyết định đình chỉ, Tòa án phải gửi quyết định đó cho

đương sự, Việc kiểm sát cùng cấp.

1.3. Hậu quả pháp lý

Khi quyết định đình chỉ giải quyết VADS có hiệu lực pháp luật thì hoạt động tố tụng

chấm dứt (Khoản 1 Điều 218). Tiền ứng tạm án phí mà đương sự nộp xác định theo quy

đinh tại khoản 2,3 Điều 218 BLTTDS 2015. Quyết định đình chỉ giải quyết VADS có thể

bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.

2. Đình chỉ giải quyết vụ án dân sự ở tòa án cấp phúc thẩm

Đình chỉ ở cấp phúc thẩm có hai trường hợp là đình chỉ giải quyết VADS ở phúc thẩm

và đình chỉ xét xử phúc thẩm.

2.1. Cơ sở pháp lý

Vấn đề đình chỉ xét xử phúc thẩm được quy định tại Điều 289 BLTTDS 2015, các căn

cứ này xuất hiện và tồn tại ở giai đoạn sơ thẩm. Đáng ra Tòa án cấp sơ thẩm phải phát

hiện ra các căn cứ đó và quyết định đình chỉ giải quyết VADS nhưng VADS vẫn được giải

quyết. Khi xét VADS theo thủ tục phúc thẩm Tòa án đã phát hiện ra các căn cứ này nên đã

đình chỉ giải quyết VADS. BLTTDS 2015 đã bổ sung quy định xác định rõ tính chất quyết

định đình chỉ xét xử phúc thẩm khác quyết định đình chỉ giải quyết vụ án của Tòa án cấp

sơ thẩm nên nó có hiệu lực pháp luật ngay không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục

phúc thẩm.

5



Vấn đề đình chỉ giải quyết vụ án dân sự được quy định tại Điều 311 BLTTDS 2015,

về cơ bản điều luật này giữ nguyên quy định về quyền hủy bàn án sơ thẩm và đình chỉ

giải quyết vụ án trong BLTTDS 2004. Theo đó, HĐXX phúc thẩm hủy bản sơ thẩm và

đình chỉ giải quyết vụ án nếu trong q trình giải quyết vụ án tại Tòa án cấp sơ thẩm, vụ

án thuộc một trong các trường hợp quy định tại Điều 217 BLTTDS. Đây là trường hợp

Tòa án cấp sơ thẩm khi giải quyết vụ án đã không phát hiện ra vụ án có một trong các căn

cứ này nên phải đình chỉ giải quyết vụ án và hủy bản án sơ thẩm. Ngoài ra, để bao quát

hết các trường hợp đình chỉ giải quyết vụ án và hủy bản án sơ thẩm thì Điều 311 BLTTDS

2015 còn quy định HĐXX phúc thẩm đình chỉ giải quyết vụ án và hủy bản án sơ thẩm khi

nguyên đơn rút đơn khởi kiện và được bị đơn đồng ý theo quy định tại điểm b khoản 1

Điều 299 BLTTDS năm 2015.

2.2. Thẩm quyền, thủ tục

Đình chỉ xét xử phúc thẩm là quyết định của Tòa án làm chấm dứt hoạt động giải

quyết VADS theo thủ tục phúc thẩm, đồng thời làm phát sinh hiệu lực pháp luật của bản

án, quyết định sơ thẩm, theo đó những quyền và nghĩa vụ trong bản án, quyết định sơ

thẩm của các đương sự phải được tơn trọng và thi hành. Tính chất của đình chỉ xét xử

phúc thẩm khơng làm chấm dứt các quyền và nghĩa vụ về nội dung mà chỉ chấm dứt thủ

tục tố tụng phúc thẩm. Việc ban hành quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án được

thực hiện theo nguyên tắc mọi quyết định trước khi Tòa án cấp phúc thẩm đưa quyết định

đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm, thì do Thẩm phán được phân cơng chủ tọa phiên tòa quyết

định, sau khi Tòa án cấp phúc thẩm ra quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm do

HĐXX quyết định.

Tại cấp phúc thẩm, đình chỉ giải quyết vụ án chỉ được quy định thực hiện trong phiên

tòa. Vì vậy, thẩm quyền ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án thuộc về HĐXX phúc

thẩm. Quyết định hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ giải quyết vụ án dân sự phải lập thành

văn bản.

2.3. Hậu quả pháp lý

Với trường hợp Tòa án đình chỉ giải quyết vụ án theo Điều 311 BLTTDS sau khi rút

đơn khởi kiện, nguyên đơn vẫn có quyền khởi kiện lại vụ án theo thủ tục do Bộ luật này

quy định nếu thời hiệu khởi kiện vẫn còn. Các đương sự phải chịu án phí sơ thẩm theo

quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm và phải chịu một nửa án phí phúc thẩm theo quy định

pháp luật. Các trường hợp giải quyết vụ án trong thủ tục phúc thẩm xuất hiện có nghĩa là

bản án , quyết định sơ thẩm khơng có cơ sơ. Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự

tại thủ tục phúc thẩm đồng nghĩa với việc hủy bản án quyết định sơ thẩm và chấm dứt tố

tụng. Khi Tòa án cấp phúc thẩm ra quyết định định hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ giải

quyết vụ án theo quy định tại Điều 311 BLTTDS thì căn cứ vào quyết định của Tòa án cấp

6



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Đình chỉ giải quyết vụ án dân sự ở tòa án cấp sơ thẩm

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×