Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
a) Nhận thức về sự cần thiết của việc phát triển TDST cho HS tiểu học

a) Nhận thức về sự cần thiết của việc phát triển TDST cho HS tiểu học

Tải bản đầy đủ - 0trang

29



môn học với các nội dung cụ thể trong nhà trường đều nhằm tạo cơ hội phát

triển năng lực tư duy và hình thành nhân cách tốt nhất cho HS. Trong hệ

thống giáo dục phổ thơng thì Tiểu học là bậc học nền tảng, vì vậy việc rèn

luyện tư duy cho HS cần thực hiện ngay khi bắt đầu bậc học. Trong các mơn

học ở nhà trường TH thì mơn Tốn có rất nhiều lợi thế trong việc rèn luyện và

phát triển tư duy cho HS. Vì vậy yêu cầu đặt ra đối với mỗi GV là biết lựa chọn

nội dung thích hợp và tổ chức các hoạt đợng vừa sức để từng bước rèn luyện tư

duy cho HS một cách đúng mức. Phát triển năng lực tư duy cho HS là cần thiết

vì: Năng lực tư duy tốt sẽ có nhiều cơ hợi trong học tập, việc làm, được thừa

nhận và trọng đãi trong thế giới ngày nay. Năng lực tư duy tốt là điều kiện tiên

quyết để trở thành cơng dân tốt, họ sẽ có được những quyết định thông minh đối

với các vấn đề xã hội. Năng lực tư duy tốt sẽ biết điều chỉnh để có trạng thái tâm

lí tốt, nhờ vậy họ có thái đợ tích cực đối với c̣c sống. Năng lực tư duy tốt tức

là có mợt bợ óc thơng minh tỉnh táo để phục vụ cá nhân, cộng đồng và thế giới.

TDST là loại hình tư duy đặc trưng bởi hoạt đợng trí tuệ, tập trung và

tìm ra những lời giải, những sản phẩm hay q trình đợc đáo. TDST được

hình thành từ rất sớm, nhiệm vụ của dạy học là làm cho nó phát triển. HS lớp

4 đã bước đầu tiềm ẩn nhiều khả năng sáng tạo. Như vậy việc phát triển

TDST trong dạy học Toán ở Tiểu học là rất cần thiết, là một nhiệm vụ quan

trọng trong công tác giảng dạy.

Phát triển TDST là góp phần hình thành phẩm chất trí tuệ. Chúng ta

phải thay đổi “thế giới quan” của mình mợt cách sâu sắc để mở ra mợt kỷ

ngun mới hồn tồn trong cách nhìn, trong nhận thức, trong cách hiểu và

cách thực hiện để giáo dục trẻ sáng tạo.

b) Cung cấp lý luận cho CBQL, GV về vấn đề phát triển TDST của HS

lớp 4 trong dạy học toán.

HS lớp 4 đã tiềm ẩn nhiều khả năng sáng tạo, mức độ sáng tạo thường

gặp trong khi học và giải bài tập toán là phát triển cái đã biết, mở rộng lĩnh

vực ứng dụng. Việc các em giải mợt bài tốn nào đó mà khơng bị những mệnh



30



lệnh nào chi phối cũng được xem là có yếu tố sáng tạo, bởi vì khi học sinh

giải bài tốn đó thì phải tiến hành dựa trên vốn kinh nghiệm. Trước hết cần

đọc kĩ đề toán, suy nghĩ về ý nghĩa cuả bài tốn, nợi dung bài tốn, đặc biệt là

chú ý đến câu hỏi của bài toán. Học sinh biết lược bỏ những yếu tố che đậy

bản chất toán học của bài tốn hay nói cách khác là học sinh chỉ ra mối quan

hệ giữa các yếu tố toán học chứa đựng trong bài tốn và nêu ra phép tính thích

hợp để từ đó tìm được đáp số của bài tốn là sáng tạo. Hoặc việc các em tìm

được nhiều cách giải và lựa chọn cách giải hợp lý nhất cho mợt bài tốn cũng

là sáng tạo. Để có sự sáng tạo khi giải tốn các em có thể bỏ đi một số bước

hoặc không tuân theo một bước giải nào cả.

Biểu hiện sự sáng tạo của HS lớp 4 trong hoạt đợng giải tốn:

- Linh hoạt trong việc lựa chọn cách giải toán, phương pháp giải toán.

- Giải bài toán bằng cách nhanh nhất.

- Lựa chọn cách giải tối ưu nhất.

- Tìm được cách giải mới, đợc đáo

- Phát hiện cách giải mợt cách nhanh chóng hoặc nhanh nhạy khi phát

hiện vấn đề.

Các phẩm chất đặc trưng của tư duy sáng tạo:

- Tính mềm dẻo

- Tính nhuần nhuyễn

- Tính đợc đáo

- Tính nhạy cảm

- Tính phát triển

Trong đó tính mềm dẻo, tính nhuần nhuyễn và tính đợc đáo là 3 đặc

trưng cơ bản nhất của TDST(đã được đề cập trong đề tài này). Để rèn luyện

các phẩm chất của TDST, trong hoạt đợng thực hành giải tốn có lời văn, GV

cần thực hiện theo một số định hướng sau:

- Rèn luyện cách nhìn bài tốn để lược bỏ được yếu tố lời văn đã che đậy.

- Cung cấp các dạng bài, các tình huống ứng dụng phong phú của bài mẫu.



31



- Khuyến khích HS lựa chọn cách giải tối ưu cho bài tốn.

- Tăng dần mức đợ khó và phức tạp của bài tốn.

- Khuyến khích HS phát triển bài toán đã giải thành cách giải nhiều bài

toán khác.

c) Trang bị kĩ năng thiết kế tình huống để phát triển TDST.

Để có kĩ năng thiết kế tình huống phát triển nhằm TDST cho học sinh GV

cần: Xác định rõ mục tiêu, nhiệm vụ và mức độ rèn luyện TDST trong mỗi bài

tập, mỗi tình huống giải tốn; Lựa chọn nợi dung, xác lập tình huống (bài tập)

phù hợp với mục đích phát triển TDST; Lựa chọn hình thức dạy học sao cho phù

hợp; Sử dụng các biện pháp kích thích hoạt đợng tư duy như: hệ thống câu hỏi,

hình ảnh trực quan (sơ đồ, hình vẽ,...), thủ thuật biến đổi bài tập,...Bên cạnh đó,

GV cần dự kiến q trình tư duy diễn ra ở HS dưới các tác động sư phạm để điều

chỉnh, điều khiển kịp thời.

d) Trang bị kĩ năng đánh giá nhằm phát triển TDST cho HS mơn Tốn

Thực hiện theo Thơng tư 30 và thơng tư 22 của BGD & ĐT, đánh giá

HS Tiểu học theo ngun tắc: Đánh giá vì sự tiến bợ của HS, coi trọng việc

đợng viên, khuyến khích tính tích cực và vượt khó trong học tập, rèn luyện

của HS, giúp HS phát huy tất cả khả năng; đảm bảo kịp thời, cơng bằng,

khách quan.

Trong kiểm tra, đánh giá HS mơn Tốn lớp 4, cần phải chú trọng mục

tiêu phát triển năng lực TD hơn là mục tiêu trang bị kiến thức và kĩ năng. Như

vậy, việc lựa chọn nội dung kiểm tra, đánh giá là rất quan trọng, phải đánh giá

được năng lực TD của HS, trong đó cần chú trọng năng lực TDST. GV cần dự

kiến các quá trình tư duy diễn ra khi giải quyết các tình huống có vấn đề để

đánh giá được năng lực TDST. Nội dung kiểm tra phải có hướng mở, HS mới

có cơ hợi sáng tạo.

Việc đánh giá nhận xét đối với học sinh không nên quá khắt khe, cứng

nhắc. Chấm chữa bài cho HS mà rập khn đáp án mợt cách máy móc sẽ làm



32



thui chợt đi tính sáng tạo của HS. GV phải biết khuyến khích, đợng viên kịp

thời những biểu hiện dù rất nhỏ về khả năng sáng tạo của HS. Một GV biết

cách đánh giá để tạo cơ hội cho HS có được sự sáng tạo là mợt GV biết ghi

nhận cách giải mới của HS dù cách đó chưa hay, chưa ngắn gọn. GV cũng

không nên quá coi trọng đáp số của bài tốn mặc dù đó là mục đích mà việc

giải tốn cần hướng tới. Chẳng hạn có HS khi làm bài đã tìm ra được cách

giải hay, trình tự các bước giải đều thực hiện tốt nhưng kết quả cuối cùng lại

là mợt kết quả sai, có nghĩa là học sinh đó đã thực hiện tốt các thao tác tư duy,

có tính sáng tạo nhưng kĩ năng tính tốn chưa được cẩn thận thì GV chỉ nên

nhắc nhở HS cẩn thận hơn và chỉ trừ đi một số điểm rất nhỏ.

Việc đánh giá năng lực TDST phải tiến hành thường xuyên trong suốt

quá trình dạy học. GV cần thường xuyên theo dõi các biểu hiện TDST của HS

trong q trình giải tốn để kịp thời bồi dưỡng và phát triển năng lực TDST.

2.2.2. Biện pháp 2: Rèn luyện kĩ năng giải toán có lời văn cho học

sinh lớp 4 nhằm phát triển tư duy sáng tạo

Ở biện pháp này, chúng tôi rèn một số kĩ năng nhằm giúp học sinh phát

triển TDST.

a) Kĩ năng 1: Giúp học sinh hiểu rõ phép tính và thực hành trên

các hệ thống số.

Giúp học sinh tiểu học hiểu rõ ý nghĩa phép tính và thực hành thành

thạo trên hệ thống số là mợt vấn đề vơ cùng quan trọng. Bởi vì, tốn có lời

văn dù ở dạng nào thì để giải quyết nó, học sinh vẫn phải thực hành các phép

tính tốn với hệ thống số. Vì thế, làm tốn có lời văn đúng trước hết học sinh

phải thực hành thành thạo các phép tính với các hệ thống số và hiểu rõ ý nghĩa

phép tính .

Để hiểu rõ ý nghĩa của phép tính, ngay từ những bài đầu tiên (ơn tập

kiến thức lớp 3) của chương trình tốn 4, giáo viên cần củng cố ngay kiến

thức về thực hành với 4 phép tính trên hệ thống số tự nhiên, đặc biệt là phép

nhân và phép chia (chia hết, chia có dư...). Trên cơ sở đó, tiếp tục nâng cao kỹ



33



năng thực hành 4 phép tính trên hệ thống số tự nhiên với vòng số lớn hơn ở

lớp 4 (7 đến 10 số).

Cần cho các em làm các bài toán + , - , x , : , tồn tại với nhiều văn

phong khác nhau.

Ví dụ : Mợt nhóm học sinh có 12 bạn, trong đó số bạn trai bằng mợt

nửa số bạn gái ( bằng , kém số bạn gái 2 lần ). Hỏi nhóm bạn đó có mấy bạn

trai, mấy bạn gái?

Hoặc "số bạn gái gấp 2 lần số bạn trai"

Khi đó, các em sẽ hiểu rõ ràng hơn về ý nghĩa của phép tính.

Để rèn kĩ năng tính tốn, HS ở lớp 4 gặp nhiều khó khăn nhất là tính

nhân, chia (đặc biệt là nhân có nhớ, chia cho số có hai chữ số, chia có dư...). Vì vậy,

để rèn kĩ năng tính tốn cho HS khơng gì hơn là việc thực hành thực tế với

các bài toán cụ thể của mỗi loại. Muốn vậy cần làm được 3 việc:

Thứ nhất : Giúp HS nắm thật chắc Bảng cửu chương.

Thứ hai : Giúp HS nắm chắc quy trình thực hành phép tính (cách tính,

thứ tự tính) vấn đề này học sinh cần thực hành thường xuyên tích cực với sự

quan tâm sâu sắc và đầu tư thời gian của giáo viên.

Thứ ba : GV cần phát hiện những học sinh kém trong việc thực hành

phép tính, nhận thức ý nghĩa phép tính để bồi dưỡng trên lớp, giao cho các

nhóm học để bồi dưỡng thêm.

Kỹ năng này là nền tảng cơ sở và đem lại hiệu quả rất lớn cho việc giải

tốn có lời văn.

b) Kĩ năng 2: Trang bị quy trình giải toán có lời văn

Quy trỡnh giải tốn có lời văn gồm 4 bước:

- Bước 1: Đọc và phân tích đề tốn.

- Bước 2: Tóm tắt bài tốn, tìm hướng giải.

- Bước 3: Trình bày lời giải.

- Bước 4: Kiểm tra.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

a) Nhận thức về sự cần thiết của việc phát triển TDST cho HS tiểu học

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×