Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
T×m sè trung b×nh céng cña nhiÒu sè (tiÕt 22 - 23)

T×m sè trung b×nh céng cña nhiÒu sè (tiÕt 22 - 23)

Tải bản đầy đủ - 0trang

18



Hoc sinh cn nm:

- Nắm đợc hai bớc giải và thực hiện tốt hai bớc giải đó

(không kể bớc trung gian nÕu cã).

Bíc thø nhÊt: TÝnh tỉng cđa c¸c sè ®ã.

Bíc thø hai: Chia tỉng ®ã cho sè c¸c sè hạng (số các số

hạng là một khái niệm mà học sinh cần nắm vững khi giải

loại toán này).

Cac bi tp:

- Củng cố cách tìm trung bình cợng của nhiều số: Bi 1,2,3/27; bi

1,2,3,4,5/28; bi 1,2,3,4,5/175

b) Dạng 2: Tìm hai số khi biết tổng và hiệu của hai số

đó

Mc tiờu:

- Biết cách tìm 2 số khi biết tổng và hiệu của hai số

đó.

- Giải bài toán liên qua đến tìm hai số khi biết tổng và

hiệu của hai số đó.

Hoc sinh cn nm:

- Xác định đợc dạng toán thông qua việc xác định đợc

các thuật ngữ :"tổng", "hiệu", " số lớn", " số bé".

- Các thuật ngữ này đôi khi tờng minh, đôi khi không tờng minh (tuổi cha hơn tuổi con là 25, cha và con cộng lại là

75) nên việc xác định cho tờng minh các thành phần ứng với

công thức là rất quan trọng.

- Nắm chắc cách giải và kỹ thuật tính toán có liên quan.

- Giải đợc bài toán đúng, lời văn ngắn gọn, đầy đủ

chính xác.

Cac bài tập:



19



- Các bài tập trang 47, bài 1,2,3,4,5/48, bài 4/48 (phần luyện tập) (SGK

tốn 4); bài 2,3,4/175

c) D¹ng 3: Tìm hai số khi biết tổng và tỉ số của hai số

đó

Mc tiờu:

- Biết cách tìm 2 số khi biết tổng và t của hai số đó.

- Giúp HS biết cách giải bài toán Tìm 2 số khi biết

tổng và tØ sè cđa 2 sè ®ã.”

Học sinh cần nắm:

+ Xác định được dạng tốn thơng qua việc xác định các thuật ngữ

"tổng", " tỷ số" các thuật ngữ này đôi khi khơng tường minh ( ẩn trong dạng

tốn khác).

- Nắm chắc các bước giải tốn ( ba bước khơng kể bước trung gian nếu có).

- Tìm tổng số phần bằng nhau.

- Tìm giá trị mợt phần bằng nhau.

- Tìm hai số.

+ Giải được bài tốn chính xác ngắn gọn.

Các bài tập:

- Các bài tập trang 148, 149 (SGK toán 4); bài 3,4/176

d) Dạng 4: Tìm hai số khi biết hiệu và tỉ số của hai số đó

Mục tiêu:

- Biết cách tìm 2 số khi biết hiệu và tỉ của hai số đó.

- Giúp HS biết cách giải bài tốn “ Tìm 2 số khi biết hiệu và tỉ số của 2

số đó.”

Học sinh cần nắm:

+ Xác định được dạng tốn thông qua xác định các thuật ngữ : " Hiệu",

" tỉ số " . Các thuật ngữ này nhiều khi không tường minh.

+ Nắm chắc các bước giải ( ba bước khơng kể bước trung gian nếu có).

- Tìm hiệu số phần bằng nhau.



20



- Tìm giá trị mợt phần bằng nhau.

- Tìm hai số.

+ Giải được bài tốn chính xác, ngắn gọn.

Các dạng bài:

- Các bài tập trang 151, bài 2,3,4/152, bài 2,3,4/153; 5/176; bài 5/177.

1.2.3. Thực trạng việc dạy và học các dạng bài tập giải toán có lời

văn nhằm phát triển tư duy sáng tạo của học sinh

Để tìm hiểu thực trạng sử dụng các biện pháp phát triển tư duy sáng tạo

cho lớp 4 qua hoạt động dạy học giải tốn có lời văn của giáo viên, chúng tôi

đã tiến hành điều tra 20 GV đã và đang dạy mơn Tốn trong nhà trường.

Chúng tơi thu được kết quả như sau:

Về nhận thức của giáo viên về tầm quan trọng của việc bồi dưỡng tư

duy sáng tạo cho HS thơng qua hoạt đợng giải tốn có lời văn ở lớp 4:

Khi được hỏi: “Quan điểm của anh (chị) về tầm quan trọng của việc

phát triển tư duy sáng tạo cho học sinh trong dạy học mơn Tốn nói chung,

dạy học giải tốn có lời văn ở lớp 4 nói riêng?”, chúng tơi thu được kết quả:

có 6 GV (chiếm 30%) cho rằng phát triển TDST cho học sinh là một nhiệm

vụ quan trọng trong dạy học môn Toán; 11 GV (chiếm 55%) cho rằng cần

quan tâm đến việc bồi dưỡng năng lực TDST cho học sinh nhưng khơng

phải là mợt nhiệm vụ quan trọng; còn 3 GV (chiếm 15%) quan niệm bồi

dưỡng TDST cho HS mơn Tốn 4 là khơng thật sự cần thiết vì trẻ tiểu học

chưa có sự sáng tạo mà chỉ thiên về bắt chước, làm theo.

Khi tiến hành thăm lớp - dự giờ mợt số tiết dạy mơn Tốn lớp 4 của giáo viên,

chúng tơi thấy: Nhìn chung mọi giáo viên đều nhận thức được ý nghĩa, vai trò

của việc phát triển TDST cho học sinh thông qua hoạt động dạy học giải tốn

có lời văn, có ý thức bồi dưỡng các phẩm chất của TDST cho học sinh; đã có

sự quan tâm đúng mức với công việc này. Một số giáo viên đã biết cách tổ

chức, hướng dẫn học sinh hoạt động học tập tích cực, tự giác và có khuyến



21



khích sự sáng tạo của HS. Tuy nhiên bên cạnh đó, vẫn còn tồn tại mợt số hạn

chế như sau:

Mợt là: Mợt số GV còn đặt mục tiêu trang bị kiến thức kĩ năng lên hàng

đầu mà chưa thấy được vai trò quan trọng của mục tiêu phát triển năng lực tư

duy, vì thế cũng chưa nhận thức được tầm quan trọng của việc phát triển năng

lực TDST cho HS.

Hai là: Bản thân mợt số GV chưa có sự sáng tạo trong dạy học, vì thế

đặt ra những quy trình về giải tốn và u cầu HS phải thực hiện mợt cách rập

khn máy móc, khơng tạo cho HS có cơ hợi sáng tạo.

Ba là: Chỉ được mợt số ít GV nắm được các phẩm chất đặc trưng của

TDST nhưng chưa đầy đủ, chưa biết được nó biểu hiện trong hoạt đợng giải

toán như thế nào.

Bốn là: Đa số giáo viên đã có quan tâm đến việc bồi dưỡng TDST cho

học sinh, nhưng chưa thường xuyên, chưa có biện pháp cụ thể nên hiệu quả

chưa cao. Đặc biệt GV chưa thiết kế được hệ thống bài tập hoặc tình huống

dạy học nhằm phát triển TDST cho HS.

Năm là: Việc đánh giá năng lực tư duy sáng tạo của HS chưa được GV

quan tâm đúng mức, đó là việc làm khơng thường xun của hầu hết GV dạy

học Toán 4.

Qua thăm lớp - dự giờ mợt số tiết học Tốn 4, thơng qua các bài kiểm

tra, qua trao đổi với các giáo viên và qua thực tế giảng dạy, chúng tôi nhận

thấy hoạt đợng dạy học giải tốn có lời văn cho học sinh đã được các trường

TH chưa thực sự được quan tâm. Các em được hướng dẫn giải tốn có lời văn

bằng hệ thống bài tập trong chương trình sách giáo khoa, sách bài tập, sách

trắc nghiệm.... Phương pháp học tập chủ yếu của các em là học theo các bài

toán mẫu, ghi nhớ mợt cách máy móc theo bài tốn mẫu của GV... Vì vậy

chưa phát huy được năng lực tư duy sáng tạo của các em. Chúng tôi chỉ ra

một số hạn chế cơ bản như sau:



22



Thứ nhất: Phần lớn các em chưa nhận thức được sự cần thiết phải rèn

luyện các phẩm chất của tư duy sáng tạo như tính nhuần nhuyễn, tính linh

hoạt, tính đợc đáo,...thơng qua hoạt đợng giải tốn có lời văn. Chẳng hạn như

nhiều em cho rằng khơng cần thiết phải tìm cách giải nhanh nhất, cần tn thủ

mợt cách nghiêm ngặt quy trình của bài giải mẫu mà không được bỏ đi một số

bước hoặc tìm cách giải riêng,...

Thứ hai: Phương pháp học tập còn q thụ đợng, chưa thật sự phát huy

được tính tích cực, sáng tạo. Hầu hết các em chỉ giải được các bài toán tương

tự với bài toán mẫu hay các bài giải thông thường, mà chưa biết vận dụng bài

mẫu để giải theo cách riêng của mình, các em dễ lúng túng khi gặp bài tốn có

thêm mợt số tình huống.

Thư ba: Tư duy của các em chưa có được sự mềm dẻo linh hoạt, điều

này được biểu hiện rõ ở khả năng thay đổi phương pháp giải cho phù hợp với

tình huống mới còn hạn chế; hoặc khơng nhận ra được bản chất của bài tốn

nếu nó được trình bày theo cách khác; chưa nhìn nhận được bài tốn dưới

nhiều khía cạnh khác nhau.

Thứ tư: Mợt số HS không biết lựa chọn cách giải nhanh nhất, tiết kiệm

nhất; hoặc nếu có biết cũng khơng dám trình bày vì sợ khơng đúng, điều đó đã

cản trở khả năng sáng tạo.

Nguyên nhân của thực trạng:

Nguyên nhân chủ quan:

Về phía giáo viên: Hầu hết GV mới chỉ chú ý đến việc nâng cao tay

nghề bằng con đường tích lũy kinh nghiệm, còn ý thức tự học để nâng cao

trình đợ về lý luận giáo dục còn chưa cao, nên hạn chế về mặt nhận thức. Một

số GV chậm đổi mới PPDH, với tư tưởng bảo thủ cứng nhắc, rập khuôn, thiếu

linh hoạt sáng tạo trong hoạt động hướng dẫn HS giải tốn có lời văn. Chưa

có kinh nghiệm về về việc thiết kế các tình huống rèn luyện tư duy nói chung,

tư duy sáng tạo nói riêng. Khơng xác định được các biện pháp hữu hiệu để bồi



23



dưỡng các phẩm chất của tư duy sáng tạo cho HS. Nhiều GV khơng biết đợng

viên khuyến khích kịp thời khi HS tìm ra mợt cách giải hay, mợt ý tưởng đợc.

Về phía học sinh: Cách học thụ động, thiếu sáng tạo đã trở thành một

phương pháp học tập “truyền thống”, làm cho các em nhận thức vấn đề mợt

cách máy móc, thiếu tích cực; việc vận dụng vào giải tốn vì thế mà cũng

mang nặng tính khn mẫu, hạn chế sự sáng tạo. Hơn nữa, các em ít khi được

tiếp xúc với các tình huống dạy học có mục đích phát triển tư duy sáng tạo, vì

thế thiếu đi chất liệu, cơ hợi để sáng tạo. Tâm lý trẻ tiểu học nói chung ln

cho GV là thần tượng, vì thế bài giải mẫu của GV được các em xem là một

cái chuẩn, là cái tốt nhất, hay nhất nên các em thiếu đi sự tự tin khi phê phán

hoặc tìm kiếm thêm một cách giải khác. Ở một số em khả năng lập luận, khả

năng trình bày bài giải còn lúng túng nên cũng hạn chế khả năng TDST.

Nguyên nhân khách quan:

Về phía giáo viên: Cơng tác quản lý ở nhà trường còn cứng nhắc, bên

cạnh đó là sự chỉ đạo khơng đồng bộ làm cho GV không được chủ động lựa

chọn nợi dung, PPDH nhằm phát huy tính tích cực, sáng tạo của HS. Cũng do

áp lực thành tích, những chỉ tiêu thi đua cần phải đạt được cho nên nhiều GV

lựa chọn cách dạy nhồi nhét, chủ yếu làm sao đạt điểm cao chứ chưa quan

tâm đến việc tư duy HS có phát triển hay khơng.

Về phía học sinh: Chương trình giáo dục Tiểu học hiện nay của nước ta

còn nặng về việc trang bị kiến thức và kĩ năng, ít chú trọng đến việc phát triển

các năng lực tư duy và khả năng sáng tạo. Chương trình ơm đồm gây nên tình

trạng q tải. Học sinh ít có thời gian và cơ hợi được tự tìm tòi khám phá.

PPDH cứng nhắc của một số GV là nguyên nhân dẫn đến tình trạng tư duy

thiếu linh hoạt, sáng tạo ở HS. Môi trường học tập của các em cũng chưa thật

sự thân thiện, dân chủ; các em chưa được phát huy tính tự chủ mợt cách đúng

nghĩa. Học sinh rất ít được tự tìm tòi, suy nghĩ đợc lập, chất vấn, thảo luận, tự

do phát biểu ý kiến, và khám phá những gì hợp với sở thích của mình. Bên

cạnh các ngun nhân về chương trình học tập, về mơi trường học tập thì còn



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

T×m sè trung b×nh céng cña nhiÒu sè (tiÕt 22 - 23)

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×