Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Theo từ điển Tiếng Việt [20]: Tư duy là giai đoạn cao của quá trình nhận thức, đi sâu vào bản chất và phát hiện ra tính quy luật của sự vật bằng những hình thức như biểu tượng, khái niệm, phán đoán và suy lí.

Theo từ điển Tiếng Việt [20]: Tư duy là giai đoạn cao của quá trình nhận thức, đi sâu vào bản chất và phát hiện ra tính quy luật của sự vật bằng những hình thức như biểu tượng, khái niệm, phán đoán và suy lí.

Tải bản đầy đủ - 0trang

7



đợng trí tuệ. Mục tiêu của TD là tìm ra các triết lý, lý luận, phương pháp luận,

phương pháp, giải pháp trong các tình huống hoạt đợng của con người.

Tuy nhiên, chúng tôi thống nhất theo quan điểm của tác giả Đỗ Ngọc

Miên [17] trong đề tài: “ Phát triển một số yếu tố của tư duy sáng tạo cho học

sinh tiểu học” cho rằng: TD là một hiện tượng tâm lý, là hoạt động nhận thức

bậc cao ở con người. Cơ sở sinh lý của TD là sự hoạt động của vỏ đại não.

Hoạt động TD đồng nghĩa với hoạt đợng trí tuệ. Mục tiêu của TD là tìm ra các

triết lý, lý luận, phương pháp luận, phương pháp, giải pháp trong các tình

huống hoạt đợng của con người.

1.1.1.2. Bản chất của tư duy

Tư duy là mợt q trình nhận thức cao của con người, phản ánh hiện

thực khách quan vào bợ não dưới dạng khái niệm, phán đốn, suy lí,...Tư duy

nảy sinh trong hoạt đợng xã hợi, là sản phẩm của hoạt động xã hội, bao hàm

những quá trình nhận thức tiêu biểu: phân tích, tổng hợp, trừu tượng hóa...Kết

quả của q trình tư duy là sự nhận thức về mợt đối tượng nào đó ở mức đợ

cao hơn, sâu sắc hơn.

1.1.1.3. Các thao tác tư duy

Tính giai đoạn của TD mới chỉ phản ánh được cấu trúc bên ngồi của

TD, còn nợi dung bên trong của mỗi giai đoạn trong hành đợng TD lại là mợt

q trình diễn ra trên cơ sở những thao tác tư duy. Có thể nói các thao tác trí

tuệ chính là các quy luật bên trong của TD. Theo các kết quả nghiên cứu trong

tâm lý học, TD diễn ra thông qua các thao tác sau:

a) Thao tác phân tích

Phân tích là q trình dùng trí óc để phân chia đối tượng nhận thức thành

các bộ phận, các thành phần khác nhau từ đó vạch ra được những tḥc tính,

những đặc điểm của đối tượng nhận thức hay xác định các bộ phận của một

tổng thể bằng cách so sánh, phân loại, đối chiếu, làm cho tổng thể được hiển

minh.



8



b) Thao tác tổng hợp

Tổng hợp là q trình dùng trí óc hợp nhất, sắp xếp những thành phần

được tách ra qua phân tích thành mợt chỉnh thể để từ đó nhận thức đối tượng

mợt cách bao qt, tồn diện hơn. Trong TD, tổng hợp là thao tác được xem là

mang dấu ấn sáng tạo. Khi nói người có “đầu óc tổng hợp” thì cũng tương tự

như nói người có “đầu óc sáng tạo”.

Có thể nói, phân tích và tổng hợp khơng phải là hai phạm trù riêng lẽ

của TD mà là hai q trình có liên hệ biện chứng chúng có mối liên hệ mật

thiết với nhau, phân tích được tiến hành trên cơ sở tổng hợp và tổng hợp được

thực hiện trên kết quả của phân tích nghĩa là thao tác phân tích giúp HS tìm cách

giải quyết vấn đề còn thao tác tổng hợp giúp HS tìm cách trình bày vấn đề.

c) Thao tác so sánh - tương tự

So sánh- tương tự là thao tác TD nhằm xác định sự giống nhau và khác

nhau giữa các sự vật hiện tượng của hiện thực. Nhờ so sánh, người ta có thể

tìm ra các dấu hiệu bản chất giống nhau và khác nhau của các sự vật.

Thao tác so sánh cũng có quan hệ chặt chẽ với phân tích và tổng hợp.

So sánh là cơ sở của mọi sự hiểu biết của tư duy. Bởi vì, nhờ có so sánh các

sự vật hiện tượng với nhau mà ta có thể lĩnh hợi các tài liệu học tập với tất cả

tính đa dạng đợc đáo và phức tạp của chúng. Vì vậy nó có vai trò quan trọng

trong hoạt đợng nhận thức, đặc biệt là ở giai đoạn đầu của quá trình nhận thức

ở trẻ em. Nó cho phép trẻ khơng chỉ nhận biết mà còn phân biệt được đối

tượng khác nhau trong thế giới xung quanh.

d) Thao tác trừu tượng hóa

Trừu tượng hóa là q trình dùng trí óc để gạt bỏ khỏi đối tượng những

bợ phận, tḥc tính, quan hệ khơng cần thiết chỉ giữ lại những yếu tố đặc

trưng, bản chất của đối tượng nhận thức.

e) Thao tác khái quát hóa

Khái qt hóa là q trình dùng trí óc để hợp nhất nhiều đối tượng khác

nhau thành mợt nhóm, mợt loại theo những tḥc tính, quan hệ chung, bản



9



chất của sự vật hiện tượng. Kết quả của khái quát hóa là cho ra mợt đặc tính

chung của hàng loạt các đối tượng cùng loại.

Tóm lại, các TTTD cơ bản được xem như quy luật bên trong của mỗi

hành động tư duy. Trong thực tế, các thao tác này đan xen vào nhau mà khơng

theo mợt trình tự máy móc. Tuy nhiên, tùy theo từng nhiệm vụ tư duy, điều

kiện tư duy, không phải mọi hành động tư duy đều nhất thiết phải tuân theo

các thao tác tư duy trên.

1.1.2. Các vấn đề về tư duy sáng tạo

1.1.2.1. Khái niệm tư duy sáng tạo

Hầu như ai cũng biết sáng tạo là chìa khóa mở ra khả năng khám phá,

tư duy, phát triển và không ngừng sản xuất của con người; lao động sáng tạo

sẽ tạo nên một giá trị rất khác biệt so với những công việc chỉ thuần túy dựa

vào kỹ năng kiến thức. Sáng tạo có ý nghĩa rất lớn trong việc cải thiện các vấn

đề thuộc đời sống hàng ngày của chúng ta.

Vugotxki L.X. [28] cho rằng: Hoạt động sáng tạo là bất cứ hoạt động

nào của con người tạo ra được cái gì mới, khơng kể rằng cái được tạo ra ấy là

một vật cụ thể hay là sản phẩm của trí tuệ hoặc tình cảm chỉ sống và biểu lộ

trong bản thân con người.

Nguyễn Đức Uy [26] cho rằng: “Sáng tạo là sự đột khởi thành hành

động của một sản phẩm liên hệ mới mẻ, nảy sinh từ sự độc đáo của một cá

nhân và những tư liệu, biến cố, nhân sự, hay những hoàn cảnh của đời người

ấy”. Quan điểm này cho rằng khơng có sự phân biệt về sáng tạo, nghĩa là sáng

tạo dù ít, dù nhiều đều là sáng tạo.

Theo Chu Quang Tiềm [23], “Sáng tạo, căn cứ vào những ý tưởng đã

có sẵn làm tài liệu rồi cắt xén, chọn lọc, tổng hợp lại để thành mợt hình tượng

mới”. Quan niệm này nhấn mạnh đến những cái đã biết làm cơ sở cho sự sáng

tạo.



10



Theo Từ điển Giáo dục học [9], TDST là kiểu tư duy dựa trên lôgic và

tưởng tượng để tạo ra những hình ảnh, ý tưởng và sự vật mới, chưa có từ

trước tới nay. TDST bắt đầu từ sự quan sát, phân tích, đánh giá sự vật khách

quan, tìm ra vấn đề, rồi đặt thành giả thuyết và nêu ra các phương án giải

quyết. TDST bắt nguồn từ những kinh nghiệm và hiểu biết sâu sắc các vấn đề

lý thuyết cũng như thực tiễn, cộng với mức độ thành thục các thao tác tư duy

lơgic. Song chỉ có tư duy đơn thuần cũng chưa đủ đảm bảo sáng tạo được cái

mới, mà phải kết hợp hữu cơ với trí tưởng tưởng cao đợ, đơi khi đến mức siêu

thực, khó tin, đồng thời huy đợng mọi phẩm chất ý chí cần thiết của cá nhân

như quyết tâm, dũng cảm, say mê đến qn mình,...Vì vậy, trong cơng tác

giáo dục việc bồi dưỡng khả năng TDST phải kết hợp chặt chẽ với việc rèn

luyện các phẩm chất hàng đầu của nhân cách.

Như vậy, tư duy sáng tạo là loại hình tư duy đặc trưng bởi hoạt đợng trí

tuệ, tập trung tìm ra những lời giải, những sản phẩm hay quá trình mới, đợc

đáo.

1.1.2.2. Đặc trưng của tư duy sáng tạo.

Trong nghiên cứu về TDST, đã có nhiều quan niệm về các đặc trưng

(tḥc tính) của TDST. Các quan niệm đều tập trung cho rằng tính linh hoạt,

tính thuần thục, tính đợc đáo, tính nhạy cảm vấn đề, tính phê phán, tính đợc

lập, tính chi tiết, khả năng giải quyết vấn đề theo cách mới là những đặc trưng

của TDST.

Trong các yếu tố trên, ở đề tài này chúng tôi chỉ đề cập đến ba u tố

đó là: Tính mềm dẻo, tính thuần thục và tính đợc đáo.

a) Tính mềm dẻo (flexibility)

Tính mềm dẻo là khả năng dễ dàng chuyển từ hoạt đợng trí tuệ này

sang hoạt đợng trí tuệ khác. Đó là năng lực chuyển dịch dễ dàng nhanh chóng

trật tự của hệ thống tri thức, xây dựng phương pháp tư duy mới, tạo ra sự vật

mới trong mối liên hệ mới,...dễ dàng thay đổi các thái độ đã cố hữu trong hoạt



11



đợng trí tuệ của con người.

Tính mềm dẻo (linh hoạt) của TD có những đặc điểm: Dễ dàng chuyển

từ hoạt đợng trí tuệ này sang hoạt đợng trí tuệ khác, dễ dàng chuyển từ giải

pháp này sang giải pháp khác; Điều chỉnh kịp thời hướng suy nghĩ nếu gặp trở

ngại; Suy nghĩ không rập khuôn, không áp dụng mợt cách máy móc những tri

thức, kinh nghiệm, kĩ năng đã có vào trong những điều kiện, hồn cảnh mới

trong đó có những yếu tố đã thay đổi; Có khả năng thốt khỏi ảnh hưởng kìm

hãm của những kinh nghiệm, phương pháp, cách thức suy nghĩ đã có; Nhận ra

vấn đề mới trong điều kiện đã quen tḥc, nhìn thấy chức năng mới của đối

tượng đã quen biết.

b) Tính thuần thục (fluency)

Tính thuần thục (lưu lốt, nhuần nhuyễn) thể hiện khả năng làm chủ tư

duy, làm chủ kiến thức, kĩ năng và thể hiện tính đa dạng của các cách xử lý

khi giải quyết vấn đề. Đó chính là năng lực tạo ra mợt cách nhanh chóng sự tổ

hợp giữa các yếu tố riêng lẻ của tình huống, hồn cảnh, đưa ra giả thuyết về ý

tưởng mới. Nó được đặc trưng bởi khả năng tạo ra một số lượng nhất định các

ý tưởng.

Tính thuần thục của TD thể hiện ở các đặc trưng: Khả năng xem xét đối

tượng dưới nhiều khía cạnh khác nhau; có cái nhìn đa chiều, tồn diện đối với

mợt vấn đề; Khả năng tìm được nhiều giải pháp trên nhiều góc đợ và nhiều

tình huống khác nhau; Khả năng tìm được nhiều giải pháp cho mợt vấn đề từ

đó sàng lọc các giải pháp để chọn được các giải pháp tối ưu.

c) Tính đợc đáo (originality)

Tính đợc đáo là khả năng tìm kiếm và quyết định phương thức lạ và

duy nhất.

Tính đợc đáo được đặc trưng bởi các khả năng: Khả năng tìm ra những

liên tưởng và kết hợp mới; Khả năng tìm ra các mối liên hệ trong những sự

kiện bên ngồi tưởng như khơng có quan hệ với nhau; Khả năng tìm ra những

giải pháp lạ tuy đã biết những giải pháp khác.



12



Các đặc trưng trên của TDST không tách rời nhau mà chúng có liên hệ

mật thiết với nhau, bổ sung cho nhau, trong đó tính đợc đáo được cho là quan

trọng nhất trong biểu đạt sáng tạo, tính nhạy cảm vấn đề đi liền với cơ chế

xuất hiện sáng tạo. Tính mềm dẻo, thuần thục là cơ sở để có thể đạt được tính

đợc đáo.

1.1.3. Tư duy và tư duy sáng tạo ở học sinh tiểu học

1.1.3.1. Đặc điểm tâm lý của học sinh tiểu học

Hệ thần kinh của HS tiểu học đang trong thời kì phát triển mạnh. Đến

chín, mười tuổi hệ thần kinh của trẻ căn bản được hoàn thiện và chất lượng

của nó sẽ được giữ lại trong suốt c̣c đời. Trong thời kì này các em sẽ có

những đặc điểm tâm lý như khả năng kìm hãm (khả năng ức chế) của hệ thần

kinh còn yếu, dễ bị kích thích. Tri giác mang tính đại thể, tồn bợ, ít đi sâu

vào chi tiết, mang tính không chủ động, gắn với hành động và với hoạt động

thực tiễn. Tuy vậy trẻ cũng bắt đầu có khả năng phân tích tách dấu hiệu, chi

tiết nhỏ của một đối tượng cụ thể. Chú ý khơng chủ định còn chiếm ưu thế ở

HS tiểu học. Do thiếu khả năng tổng hợp nên sự chú ý chưa bền vững, hay bị

phân tán nhất là đối với các đối tượng ít thay đổi, dễ bị lôi cuốn vào cái trực

quan, gợi cảm. Đồng thời do trường chú ý hẹp nên HS tiểu học không biết tổ

chức sự chú ý, sự chú ý thường hướng ra bên ngồi vào các hoạt đợng chứ

chưa hướng vào bên trong, vào hoạt đợng trí tuệ.

Trí nhớ của HS tiểu học tuy đã phát triển nhưng còn chịu nhiều tác

đợng từ hứng thú và các hình mẫu tác đợng mạnh. Nhiều HS còn chưa biết tổ

chức việc ghi nhớ có ý nghĩa mà có khuynh hướng phát triển trí nhớ máy

móc. Trí nhớ trực quan - hình tượng và trí nhớ máy móc phát triển hơn trí nhớ

lơgíc, trí nhớ hình ảnh phát triển hơn trí nhớ ngơn ngữ. Điều này do những

nguyên nhân như HS chưa hiểu cụ thể cần phải ghi nhớ cái gì, trong bao lâu,

vốn ngơn ngữ còn hạn chế, chưa biết sử dụng sơ đồ logic và dựa vào các điểm

tựa để ghi nhớ, chưa biết xây dựng dàn ý tài liệu cần ghi nhớ,...

1.1.3.2. Đặc điểm tư duy của học sinh tiểu học



13



Trong luận án Tiến sĩ của Đỗ Ngọc Miên [17], ông đã khẳng định:

Theo thời gian, hoạt động TD của HS tiểu học có nhiều biến đổi cơ bản. TD

của HS tiểu học đã tương đối phát triển, chủ yếu là ở cuối cấp. Qua mỗi năm

học ở nhà trường tiểu học, khả năng TD trừu tượng, TD logic và TDST của

HS được hình thành và phát triển dần từ thấp đến cao. Sự thay đổi mối quan

hệ giữa TD hình tượng, trực quan cụ thể sang TD trừu tượng, khái quát chiếm

ưu thế và là đặc điểm mới, nổi bật về hoạt động TD của HS cuối cấp tiểu học.

HS cuối cấp đã biết đặt tiêu đề cho đoạn văn đã đọc; phân loại các bài toán

đơn, các bài toán hợp dựa vào mợt số tiêu chí như bài tốn có mợt bước giải,

bài tốn có nhiều bước giải, bài tốn thực hiện bằng mợt phép tính, bài tốn

thực hiện bằng nhiều phép tính,...Tuy nhiên TD hình tượng cụ thể, trực quan

khơng mất đi mà nó vẫn tồn tại và phát triển đồng thời giữ mợt vai trò quan

trọng trong cấu trúc TD ở lứa tuổi này. Nhiều cơng trình nghiên cứu đã chỉ ra

trong TD của HS cuối cấp tiểu học đã có những dấu hiệu bản chất của sự vật,

đối tượng nhưng không phải bao giờ cũng phân biệt được dấu hiệu bản chất

đó trong tất cả các trường hợp cụ thể.

1.1.3.3. Tư duy sáng tạo của học sinh tiểu học

Có thể khẳng định rằng HS tiểu học, đặc biệt là HS cuối cấp đã có có

đầy đủ các điều kiện cần thiết cho hoạt động nhận thức nói chung, hoạt đợng

sáng tạo nói riêng. Tuy nhiên các khả năng này mới ở mức độ ban đầu, sơ

đẳng nên hoạt động sáng tạo của các em cũng chỉ dừng ở mức tạo ra những

cái mới đối với bản thân, kể cả tri thức, kinh nghiệm tích luỹ được cũng như

cách thức, con đường chiếm lĩnh những tri thức, kinh nghiệm ấy. Cùng với sự

phát triển các khả năng nhận thức khác, TDST của HS tiểu học, đặc biệt là HS

các lớp cuối cấp tiểu học tuy ở mức đầu sơ giản nhưng cũng đã mang những

nét đặc trưng cơ bản nhất của TDST như tính mềm dẻo, linh hoạt, độc đáo và

thể hiện ở các mức độ khác nhau giữa các nhóm đối tượng HS.

1.2. Cơ sở thực tiễn

1.2.1. Mục tiêu mơn tốn ở Tiểu học



14



Chương trình tốn ở Tiểu học có vị trí và tầm quan trọng rất lớn. Tốn

học góp phần quan trọng trong việc đặt nền móng cho sự hình thành và phát

triển nhân cách cho học sinh. Đối tượng nghiên cứu của toán học với quan hệ

về số lượng và hình dạng là thế giới của hiện thực vì thế ở tiểu học cho dù là

những kiến thức đơn giản nhất cũng là những thể hiện của các mối quan hệ về

số lượng và hình dáng khơng gian. Mơn Tốn còn giúp HS rèn luyện tư duy

toán học, năng lực giải quyết vấn đề. Thơng qua mơn Tốn HS được rèn luyện

các thao tác tư duy như thao tác phân tích, tổng hợp, tương tự, khái qt

hóa… Đặc biệt, mơn Tốn còn góp phần rèn luyện cho HS những phẩm chất

trí tuệ như tính độc lập, linh hoạt, sáng tạo. Những kiến thức và kĩ năng HS

tiểu học tiếp thu được trong quá trình học tập mơn Tốn sẽ giúp các em học

tập các môn học khác được tốt hơn cũng như là nền tảng cơ sở để các em tiếp

tục học lên các cấp học cao hơn.

Chương trình Giáo dục phổ thơng cấp Tiểu học [1] quy định rõ mục

tiêu của mơn Tốn ở trường Tiểu học nhằm giúp HS:

Có những kiến thức cơ bản ban đầu về số học các số tự nhiên, phân số,

số thập phân, các đại lượng thông dụng và thống kê đơn giản.

Hình thành các kỹ năng thực hành: tính, đo lường, giải các bài tốn có

nhiều ứng dụng thiết thực trong đời sống.

Góp phần bước đầu phát triển năng lực tư duy, khả năng suy luận hợp

lý và diễn đạt đúng (nói và viết), cách phát hiện và giải quyết các vấn đề đơn

giản, gần gũi trong c̣c sống; kích thích trí tưởng tượng; gây hứng thú học

tập tốn, bước đầu hình thành phương pháp tự học và làm việc có kế hoạch,

khoa học chủ đợng, linh hoạt, sáng tạo.

Mục tiêu dạy học mơn Tốn ở cấp Tiểu học nhấn mạnh đến việc giúp

HS có những kiến thức và kĩ năng cơ bản, thiết thực, có hệ thống nhưng chú ý

hơn đến tính hồn chỉnh tương đối của các kiến thức và kĩ năng cơ bản đó.

Thơng qua dạy học mơn Tốn ở Tiểu học để góp phần rèn luyện khả năng



15



diễn đạt, ứng xử, giải quyết các tình huống có vấn đề và phát triển năng lực tư

duy cho học sinh.

Có thể nói, nhìn mợt cách tổng thể, chương trình mơn Tốn ở Tiểu học

được chia thành hai giai đoạn:

Giai đoạn 1 (các lớp 1, 2, 3), đặc biệt là lớp 1, việc học tập của HS chủ

yếu dựa vào các phương tiện trực quan, nói chung chỉ đề cập đến những nợi

dung có tính tổng thể, gắn bó với kinh nghiệm sống của trẻ. Giai đoạn này

bước đầu phát triển các năng lực tư duy (phân tích, tổng hợp, trừu tượng hóa,

khái qt hóa,…), biết lựa chọn và tìm cách giải quyết vấn đề mợt cách hợp lý.

Giai đoạn 2 (các lớp 4, 5), yêu cầu HS sử dụng đúng mức các phương

tiện trực quan và các hình thức học tập có tính chủ đợng, sáng tạo hơn, giúp

HS làm quen với các nội dung có tính khái qt hơn, có cơ sở lí luận hơn.

Giai đoạn này tiếp tục phát triển năng lực tư duy ở mức đợ cao hơn cho HS,

các em có thể bước đầu tự học, tự giải quyết vấn đề để phát triển các kĩ năng

tư duy và hình thành phẩm chất trí tuệ của mình.

1.2.2. Nợi dung mơn tốn ở Tiểu học

Chương trình mơn Tốn ở Tiểu học bao gồm 5 mạch kiến thức:

Số học và các phép tính: Đây là nội dung trọng tâm đồng thời là hạt

nhân của chương trình mơn Tốn ở Tiểu học. Nợi dung này tập trung vào số

tự nhiên và số thập phân, còn phân số chỉ gồm mợt số nợi dung cơ bản nhất để

phục vụ cho dạy học số thập phân và một số ứng dụng trong thực tế. Một số

yếu tố đại số như dùng dấu so sánh, dùng chữ thay số, biểu thức số, biểu thức

có chứa chữ,... cũng được tích hợp trong nợi dung số học để làm nổi dần một

số quan hệ số lượng và cấu trúc của các tập hợp số.

Yếu tố hình học: là nợi dung cơ bản trong chương trình mơn Tốn ở

Tiểu học. Nội dung này bao gồm các biểu tượng ban đầu và mợt số tính chất

cơ bản của hình thường gặp, gắn với thực tế đời sống. Yếu tố hình học sắp



16



xếp khơng hồn tồn tách thành phần riêng biệt mà nó được kết hợp chặt chẽ,

gắn bó với các nợi dung khác.

Đại lượng và phép đo đại lượng: gồm các biểu tượng đại lượng và

đơn vị đo đại lượng cơ bản thường gặp trong cuộc sống. Nội dung đại

lượngvà đo đại lượng được giới thiệu dần theo từng lớp, gắn liền với sự phát

triển về các vòng số và HS công nhận bằng con đường trực giác.

Một số yếu tố thống kê được chính thức đưa vào nợi dung giảng dạy

từ lớp 3 gồm các kiến thức ban đầu gắn liền với thực tiễn đời sống hàng ngày,

phù hợp với trình đợ nhận thức của HS và chủ yếu được tích hợp trong nợi

dung số học và đo lường.

Giải tốn có lời văn được sắp xếp thành mợt hệ thống từ thấp đến

cao trong từng lớp và xuyên suốt từ lớp 1 đến lớp 5. Ngồi các bài tốn đơn,

tốn hợp giải bằng các phép tính, cơng thức với các mối quan hệ trực tiếp và

đơn giản hoặc vận dụng các phương pháp, thủ thuật giải theo yêu cầu của

từng lớp, còn có mợt số dạng bài tốn tốn điển hình và bài tốn liên quan đến

chuyển đợng.

Nợi dung Tốn 4 gồm các vấn đề cơ bản sau:

Số học: Củng cố về số tự nhiên; tập trung vào phân số, số thập phân,

tỉ số phần trăm.

Đại lượng và đo đại lượng: Đo thời gian, đo khối lượng, đo diện tích,

đo thể tích, vận tốc.

Hình học: Các góc nhọn, tù, bẹt; hình bình hành, hình thoi và diện

tích của nó; hình tam giác và diện tích; hình thang và diện tích; hình tròn,

đường tròn: chu vi, diện tích; hình hợp chữ nhật, hình hợp lập phương, hình

trụ, hình cầu; diện tích xung quanh, diện tích tồn phần, thể tích hình hợp chữ

nhật, hình hợp lập phương.



17



Giải tốn có lời văn: HS biết giải các bài tốn hợp có đến 3-4 phép

tính; tìm số trung bình cợng; tìm hai số khi biết tổng và hiệu; tìm hai số khi

biết tổng và tỉ số; tìm phân số của mợt số; bài tốn liên quan đến tỉ lệ, chuyển

đợng đều, hình học...

Thống kê: Giới thiệu bước đầu về số trung bình cợng; lập bảng và

nhận xét bảng số liệu; biểu đồ và nhận xét trên biểu đồ.

Các dạng tốn có lời văn ở lớp 4.

T×m sè trung b×nh céng cđa nhiỊu sè (tiÕt 22 - 23)

Tìm hai số khi biết tổng và hiệu của hai số đó (tiết

37- 38 - 39)

Tìm phân số của một số (tiết 125)

Tìm hai số khi biết tổng và tỉ của hai số đó (tiết 138139- 140- 141)

Tìm hai sè khi biÕt hiƯu vµ tØ sè cđa hai sè ®ã

(tiÕt 142 - 143 - 144 - 145 - 146).

TÝnh diện tích, chu vi một số hình đã học (tiết 94 - 95

vµ tiÕt 134 - 135 - 136)

Nợi dung chủ yếu dạy học giải tốn có lời văn trong toán 4 là tiếp tục

giải các bài toán đơn, toán hợp có dạng đã học từ lớp 1, 2, 3 và phát triển các

bài tốn đối với các phép tính trên phân số và các số đo đại lượng mới học ở

lớp 4, đồng thời đề cập thêm một số dạng giải toán mới phù hợp với giai đoạn

mở đầu học tập sâu của học sinh lớp 4.

Trong ph¹m vi của đề tài, chúng tôi chỉ nghiên cứu 4

dạng toán điển hình, cụ thể nh sau:

a) Dạng 1: Tìm số trung b×nh céng

Mục tiêu:

- Bước đầu nhận biết được số trung bình cợng của nhiều số.

- Biết cách tính số trugn bình cợng của nhiều số.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Theo từ điển Tiếng Việt [20]: Tư duy là giai đoạn cao của quá trình nhận thức, đi sâu vào bản chất và phát hiện ra tính quy luật của sự vật bằng những hình thức như biểu tượng, khái niệm, phán đoán và suy lí.

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×