Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Phần II: TÍN DỤNG NGÂN HÀNG ĐỐI VỚI KINH TẾ HỘ SXKD

Phần II: TÍN DỤNG NGÂN HÀNG ĐỐI VỚI KINH TẾ HỘ SXKD

Tải bản đầy đủ - 0trang

Trường Đại học Kinh tế Quốc dân



Khoa BĐS&KTTN



Theo tốc độ phát triển kinh tế, nhu cầu của khách hàng trong lĩnh vực tín dụng

ngày càng đa dạng, khơng chỉ bằng tiền mà xuất hiện thêm hinh thức mới là cho

thuê bất động sản, làm đa dạng hóa các hình thức dịch vụ của ngân hàng đáp ứng

mọi nhu cầu của khách hàng.

Do bản chất quan hệ tín dụng là một quan hệ phức tạp và nhạy cảm, nên những

vấn đề phát sinh xung quanh nó nhiều và đòi hỏi sự khắt khe trong quản lý để đảm

bảo quan hệ tín dụng thực sự diễn ra có hiệu quả cho cả ngân hàng và khách hàng

tránh tối đa những rủi ro có thể phát sinh.

Một quan hệ tín dụng được gọi là hoàn hảo nếu các đặc trưng cơ bản trên được thỏa

mãn tức là người đi vay sử dụng hiệu quả vốn vay và hoàn trả đầy đủ cả vốn gốc lẫn

lãi đúng thời hạn.

2. Phân loại

Phân loại TDNH là việc sắp xếp các khoản vay theo nhóm dựa trên một số tiêu

thức nhất định. Phân loại tín dụng một cách khoa học sẽ giúp giảm thiểu rủi ro,

mang lại hiệu quả cho hoạt động sản xuất kinh doanh của khách hàng

Dưới đây là một số tiêu thức phân loại chính và hiệu quả tác động của mỗi tiêu

thức:

2.1. Phân loại theo thành phần kinh tế

Bước vào quá trình đổi mới, nền kinh tế nước ta phát triển theo cơ chế thị trường

với sự đa dạng của các thành phần kinh tế. Bằng cách phân loại khách hàng tín dụng

theo thành phần kinh tế sẽ xác định được xác định một cách chính xác đối tượng

chính tham gia vào hoạt động TDNH và ảnh hưởng của TDNH tới hoạt động của

đối tượng đó cũng như hiệu quả hoạt động tín dụng của ngân hàng. Từ đó ngân

hàng sẽ có hướng đầu tư hợp lý vào các đối tượng khách hàng, đảm bảo sự phân bổ

vốn tín dụng cân đối, đa dạng hóa các đối tượng khách hàng.

2.2. Phân loại theo mục đích cho vay

Theo tiêu thức phân loại này TDNH được chia thành các loại sau:

+ Cho vay nông nghiệp: là loại cho vay để trang trải các chi phí sản xuất như

phân bón, thuốc trừ sâu, giống cây trồng, thức ăn gia súc, lao động, nhiên liệu,…

Phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh trong lĩnh vực nông nghiệp.

+ Cho vay công nghiệp thương mại: là loại cho vay ngắn hạn để bổ sung vốn lưu

động cho các doanh nghiệp trong lĩnh vực công nghiệp, thương mại và dịch vụ

+ Cho vay cá nhân: là loại cho vay để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng như mua sắm

các vật dụng đắt tiền, trang trải các chi phí thơng thường của đời sống,…

Cách phân loại này, hoạt động tín dụng của ngân hàng bám sát những mục tiêu

phát triển kinh tế của địa phương cũng như của cả nước, có tác động đến q trình



SVTH: Đặng Ngọc Châm



11



Lớp: KTNN&PTNT 49



Trường Đại học Kinh tế Quốc dân



Khoa BĐS&KTTN



chuyển dịch cơ cấu kinh tế nơng nghiệp, nơng thơn góp phần xây dựng cơ cấu kinh

tế hợp lý phù hợp với cơ chế thị trường.

2.3. Phân loại theo thời hạn cho vay

Theo căn cứ này TDNH được chia ra làm 3 loại :

+ Cho vay ngắn hạn: được xác định tính đến 12 tháng và phù hợp với những

kế hoạch, mơ hình sản xuất nhỏ có chu kì ngắn.

+ Cho vay trung hạn: được quy định trên 12 tháng đến 5 năm, chủ yếu được

sử dụng để đầu tư mua sắm tài sản cố định, cải tiến hay thay đổi công nghệ, thiết bị,

mở rộng SXKD… trong nông nghiệp, đối tượng đầu tư chủ yếu là máy cày, bơm

nước, xây dựng các vườn cây công nghiệp như café, điều…

+ Cho vay dài hạn: là loại cho vay có thời hạn trên 5 năm và thời hạn tối đa

có thể lên tới 20-30 năm…

Tín dụng dài hạn về cơ bản là đáp ứng các nghiệp vụ dài hạn. Trong nông

nghiệp, TDNH dài hạn thường đầu tư cho những dự án trồng rừng, trồng cây lâu

năm…

2.4. Phân loại theo mức độ tín nhiệm đối với khách hàng

Theo căn cứ này, TDNH được chia thành 2 loại:

+ Cho vay khơng đảm bảo (cho vay tín chấp) : Là loại cho vay khơng có tài

sản thế chấp, cầm cố hay bảo lãnh của người thứ 3. Đối với những hộ hoạt động

trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn theo quy định rõ ràng của nhà nước về mục

đích sản xuất thì khơng cần bảo đảm bằng tài sản khi vay vốn TDNH: hộ sản xuất

nông nghiệp được vay đến 10 triệu đồng, hộ phát triển kinh tế trang trại hay sản

xuất hàng hóa được vay đến 30 triệu đồng không cần tài sản đảm bảo, và đến 50

triệu đồng đối với hộ vay vốn sản xuất giống thủy hải sản…

+ Cho vay có đảm bảo: là loại cho vay dựa trên cơ sở các bảo đảm như thế

chấp, cầm cố hay phải có sự bảo lãnh của người thứ 3. Bảo đảm tiền vay là cần thiết

và là căn cứ để NH có thêm nguồn thu nợ thứ hai, bổ sung cho nguồn thu nợ thứ

nhất trong trường hợp món vay nhiều rủi ro, thiếu chắc chắn.

Ngồi các tiêu thức phân loại trên, TDNH còn được phân loại theo các tiêu

thức khác như theo phương pháp hồn trả, theo xuất sứ tín dụng,…

Với từng phương thức phân loại khác nhau, các nhà phân tích sẽ nắm bắt

được kết cấu của từng loại tín dụng, của từng loại khách hàng một cách chính xác

nhất, giúp họ đánh giá, xem xét liệu mỗi kết cấu tín dụng đã phù hợp với Ngân

hàng, phù hợp với mục tiêu phát triển kinh tế chung chưa, để từ đó đưa ra các giải

pháp thích hợp mang lại hiệu quả cao nhất cho mỗi loại tín dụng được mở.



SVTH: Đặng Ngọc Châm



12



Lớp: KTNN&PTNT 49



Trường Đại học Kinh tế Quốc dân



Khoa BĐS&KTTN



II.



VAI TRÒ CỦA TÍN DỤNG NGÂN HÀNG ĐỐI VỚI KINH TẾ HỘ

SXKD

Đối với các hộ SXKD hiện nay, vốn vẫn luôn là vấn đề gây khó khăn nhất cho

hoạt động SXKD của hộ - tình trạng thiếu vốn là phổ biến và nghiêm trọng, làm

chậm tiến trình thực hiện các nhiệm vụ kinh tế.

Giải quyết vấn đề vốn cho hoạt động SXKD, với đồng vốn tự có khơng đáng kể,

hộ phải tham gia các hình thức tài chính tiêu cực ở nơng thôn như cho vay nặng lãi,

hụi, bán lúa non,… gây ảnh hưởng tâm lý, xã hội xấu, đồng thời cũng không mang

lại hiệu quả cao cho hoạt động SXKD. Nhờ đường lối đổi mới của Đảng và Nhà

nước, TDNH dần chiếm vai trò chủ đạo trong hoạt động đầu tư vốn cho hộ SXKD.

Có thể nói sau hơn 10 năm đổi mới, ngành ngân hàng thực hiện thành công trong

cho vay trực tiếp đến hộ sản xuất, TDNH trở thành người bạn đồng hành tin cậy của

hộ.

Dưới đây là một số vai trò cụ thể của TDNH đối với kinh tế hộ SXKD:

1. TDNH đáp ứng nhu cầu vốn của hộ SXKD

Dù đã đạt được khá nhiều những kết quả khả quan, kinh tế hộ vẫn gặp phải

rất nhiều khó khăn về vốn sản xuất. Do đặc điểm sản xuất của hộ nơng dân mang

tính hợp, nhiều đối tượng sản xuất với chu kì sản xuất đan xen nhau nên nhu cầu

vay tối đa để sản xuất một loại sản phẩm nông nghiệp tại một thời điểm của hộ

thường không cao nhưng nhu cầu vốn lại yêu cầu rải rác suốt chu kì sản xuất, đồng

thời đa số hộ khi chưa thu hoạch sản phẩm, chưa có hàng hóa để bán thì chưa có thu

nhập . Vốn TDNH là hình thức đầu tư vốn linh động, phù hợp với mọi nhu cầu vốn

SXKD của hộ, giúp hộ tận dụng tối đa những tiềm lực kinh tế sẵn có.

2. TDNH giúp vấn đề việc làm được giải quyết một cách tích cực

Hiện nay, hơn 70% dân số nước ta sống ở nông thôn và sản xuất nông

nghiệp. Các hộ SXKD đều ở quy mơ nhỏ, lẻ kết hợp với tính thời vụ sản xuất nơng

nghiệp thì vấn đề thếu việc làm trong thời gian nông nhàn, hay ngay cả trong mùa

vụ là thường xuyên. Như vậy, bằng việc hỗ trợ vốn TDNH tích cực cho hộ SXKD,

giúp hộ mở rộng quy mơ sản xuất, đa dạng hóa các đối tượng sản xuất, mang lại

hiệu quả cao trong vấn đề tọa việc làm liên tục cho hộ, nâng cao thu nhập, cải thiện

đời sống cho hộ

3. TDNH giúp phát triển các làng nghề truyền thống, ngành nghề mới

Nước ta là một nước có nhiều ngành nghề truyền thống, với tay nghề, trình

độ kỹ thuật cao, khơng chỉ khảng định được vị trí của mình trong nước mà cả trên

trường quốc tế như: làng lụa Vạn Phúc (Hà Tây), làng gốm Bát Tràng…trong điều



SVTH: Đặng Ngọc Châm



13



Lớp: KTNN&PTNT 49



Trường Đại học Kinh tế Quốc dân



Khoa BĐS&KTTN



kiện hiện nay, việc tập trung phát triển hợp lý các làng nghề truyền thống sẽ mang

lại hiệu quả cao cho nền kinh tế qua xuất khẩu và thu hút du lịch.

TDNH là một trong những giải pháp về vốn.

Đa số các cơ sở sản xuất nghề truyền thống đều nằm sâu trong làng, đi lại

khó khăn, nhiều món vay nhỏ, lẻ, khiến việc tham gia đầu tư TDNH gặp nhiều khó

khăn. Tuy nhiên, với sự nhiệt tình trong hoạt động của mình, TDNH đã góp phần

tích cực vào sự khôi phục và phát triển của các làng nghề truyền thống cùng các

làng nghề mới.

Phát huy được các làng nghề cũng chính là phát huy được các nội lực của

kinh tế hộ và TDNH đã, đang và sẽ là công cụ tài trợ hiệu quả cho hoạt động kinh tế

nơng thơn.

4. Thúc đẩy q trình tập trung vốn và ổn định sản xuất

Bước sang cơ chế thị trường với sự chun mơn hóa ngày càng cao, tập trung

vốn là điều kiện cần thiết để sản xuất kinh doanh thực sự mang lại hiệu quả. Trước

đây, kinh tế hộ chủ yếu sản xuất theo hướng tự phát, tự cấp, xuất phát từ nhu cầu

của cá nhân mình trước, hiệu quả kinh tế mang lại không cao. Với sự tham gia của

TDNH ta có thể nhìn từ hai phương diện để thấy được tác động tích cực của TDNH

đối với quá trình tập trung vốn và ổn định sản xuất.

Về phía Ngân hàng ln quan tâm và thực hiện tốt mối quan hệ giữa tiết

kiệm và đầu tư, bằng đồng vốn huy động được, Ngân hàng luôn mong muốn sử

dụng nó trong quan hệ tín dụng một cách có hiệu quả, do vậy, khi thực hiện quan hệ

tín dụng đối với hộ, ngân hàng luôn trú trọng một cách sâu sát đến kế hoạch sản

xuất kinh doanh của hộ, tránh những việc sử dụng lãng phí vốn vay, khơng tập trung

vào mục đích sản xuất.

Còn về người vay, vay vốn Ngân hàng với những ràng buộc nhất định đòi hỏi hộ

phải biết tập trung vốn như thế nào để sản xuất mang lại lợi nhuận cao nhất nhằm

hoàn thành tốt quan hệ tín dụng cũng như quy mơ sản xuất sẽ ngày càng được mở

rộng.

5. TDNH giúp giải quyết các vấn đề chính trị, xã hội

TDNH ngồi những vai trò to lớn về mặt kinh tế còn đóng góp một vị trí khơng nhỏ

trong các vấn đề chính trị, xã hội.

Trước đây, khi TDNH chưa thực sự nằm trong suy nghĩ của người dân bởi sự

xa lạ của hoạt động của NH và những thủ tục vay mượn phức tạp; cán bộ tín dụng

thì ngại tiếp xúc với đối tượng vay là kinh tế do khó quản lý, giám sát và chưa có

quy định cụ thể,…do vậy để thỏa mãn nhu cầu vốn cho SXKD, người dân phải tìm

đến những hình thức như: hụi, vay nặng lãi, bán lúa non,...; không những không



SVTH: Đặng Ngọc Châm



14



Lớp: KTNN&PTNT 49



Trường Đại học Kinh tế Quốc dân



Khoa BĐS&KTTN



mang lại hiệu quả mà còn gây tâm lý, thói quen xấu. Bằng những đổi mới và cách đi

đúng đắn, TDNH đã dần tạo được chỗ đứng trong suy nghĩ của người dân, đẩy lùi

các hình thức tài chính tiêu cực trong nơng thơn, giúp hộ yên tâm sản xuất.

Bên cạnh đó, việc cho vay mở rộng sản xuất đã góp phần giải quyết tốt vấn

đề việc làm cho người lao động, khôi phục truyền thống tốt đẹp của từng địa

phương, hạn chế tệ nạn xã hội như rượu chè, cờ bạc, mê tín dị đoan…

TDNH cũng góp phần thực hiện thành cơng các chính sách đổi mới của

Đảng và Nhà nước, đặc biệt là chính sách xóa đói giảm nghèo, nâng cao trình độ

dân trí,…tạo lòng tin ngày càng lớn đối với hộ nơng dân.

6. TDNH đưa tiến bộ khoa học, công nghệ mới vào từng hộ SXKD

Bằng việc không ngừng đầu tư vốn cho hộ SXKD mở rộng sản xuất, phát

triển thêm nhiều loại đối tượng sản xuất, TDNH đã góp phần thúc đẩy hộ SXKD

tiếp cận nhiều hơn với với tiến bộ khoa học kỹ thuật, công nghệ mới, hộ sản xuất đã

đưa máy móc, thiết bị vào sản xuất nhiều hơn, mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn;

đồng thời áp dụng vào việc những giống cây, con mới, quy trình sản xuất mới…

năng xuất lao động và cây trồng cũng tăng thêm đáng kể.

Mặt khác đối với những mục tiêu phát triển kinh tế cụ thể cho từng địa

phương, TDNH có thể thay việc chuyển giao vốn vay bằng tiền, bằng máy móc,

thiết bị, giống cây, con hay thuốc trừ sâu, thức ăn gia súc để phục vụ trực tiếp cho

quá trình SXKD của hộ.

Như vậy, TDNH đã đáp ứng nhu cầu vốn cho kinh tế hộ, giúp mở rộng quy mô

SXKD , phát triển thêm nhiều ngành nghề trong nông thôn; TDNH cũng giúp khai

thác tốt mọi tiềm năng sẵn có của hộ về lao động, tài nguyên, hay các nguồn lực

khác, giúp cải thiện đời sống của họ, tăng sản phảm cho xã hội, đồng thời thực hiện

một cách nhanh nhất những mục tiêu phát triển kinh tế chung của địa phương và cả

nước.

TDNH cũng giúp hộ sản xuất kinh doanh tiếp cận nhanh hơn những tiến bộ

khoa học, tham gia vào loại hình dịch vụ tài chính tiện ích nhất, tiếp cận gần hơn

với cơ chế thị trường, tạo chỗ đứng và những bước xây dựng nền kinh tế sản xuất

hàng hóa với quy mơ lớn.

TDNH hạn chế các hình thức cho vay vốn tiêu cực trong nơng thôn cũng như

các tệ nạn xã hội, giúp giải quyết việc làm, xây dựng một cơ cấu kinh tế hợp lý thực

hiện mục tiêu cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa nông thôn.

TDNH đã khẳng định một cách chắc chắn vai trò quan trọng của mình đối

với hoạt động sản xuất kinh doanh của kinh tế hộ.



SVTH: Đặng Ngọc Châm



15



Lớp: KTNN&PTNT 49



Trường Đại học Kinh tế Quốc dân



Khoa BĐS&KTTN



III. YÊU CẦU CỦA HỘ SXKD ĐỐI VỚI TÍN DỤNG NGÂN HÀNG

Nước ta là một nước nông nghiệp truyền thống, cho đến nay sản xuất nông

nghiệp vẫn chiếm tỷ trọng cao trong nền kinh tế - kinh nghiệm sản xuất nông

nghiệp là vốn tự có ở tất cả các hộ nơng nghiệp nước ta, tuy nhiên hộ chưa thực sự

biết tận dụng hết khả năng của mình trong sản xuất và trong tiếp thu tiến bộ khoa

học, cũng như chưa biết cách tiếp cận với TDNH – một hình thức cho vay tài chính

tạo điều kiện thuận lợi nhất cho hoạt động SXKD của hộ. Do vậy TDNH đối với hộ

SXKD trước hết phải thực sự gần gũi với hộ, làm cho hộ thực sự hiểu được sự hỗ

trợ tích cực của vốn TDNH, thấy được những mặt lợi khi tham gia một quan hệ

TDNH để có thể đa dạng hóa vốn SXKD của mình.

Tín dụng là một hình thức vay mượn tài chính đặt trong sự kiểm sốt, quản

lý chung của nhà nước, do vậy, nó cũng phải tuân theo những qui chế nhất định về

thủ tục vay vốn. mặt khác, đối với đối tượng vay vốn là hộ SXKD, một chủ thể

kinh tế cơ bản, quan trọng của nền kinh tế nhưng còn ở mức độ phát triển thấp như

nước ta thì để phát huy cao nhất hiệu quả của TDNH, không thể không xem xét

những yêu cầu đặt ra của hộ đối với vốn TDNH.

Sản xuất nông nghiệp và kinh tế nơng thơn cũng như hộ SXKD có những đặc

thù riêng có của nó đòi hỏi sự hỗ trợ, tạo điều kiện thuận lợi từ NH:

+ Về thủ tục vay vốn:

Hộ nông nghiệp nước ta chủ yếu đi lên từ sản xuất tự nhiên, cách nghĩ, cách

làm còn mang tính tự phát, đơn giản, do vậy, khi thiếu vốn sản xuất, hộ thường vay

mượn ở những nơi tạo tâm lý thuận tiện nhất cho hộ (hàng xóm) với sự đơn giản

tuyệt đối về thủ tục vay mượn dù lãi xuất vay cao, lợi nhuận mang lại cho hộ không

đáng kể. Để TDNH thực sự là nguồn cung ứng vố hiệu quả cho hộ, yêu cầu trước

hết là những bước thủ tục vay vốn NH đặt ra: liệu đã phù hợp với giá trị mỗi món

vay khác nhau, với mỗi kế hoạch sản xuất của hộ thì mưc tiền vay là bao nhiêu.

+ Về thời hạn vay vốn:

Với mỗi đối tượng sản xuất cây, con khác nhau lại có một chu kỳ sinh trưởng, phát

triển khác nhau. Mặt khác hộ lại thường phối kết hợp nhiều loại cay con dẫn tới sự

đa dạng về chu kỳ sống tương ứng là sự đa dạng về thời gian thu hoạch – mà thông

thường chỉ khi thu hoạch hộ mới có khả năng trả nợ NH. Do vậy xác định một thời

hạn vay vốn hợp lý là yêu cầu quan trọng đối hộ nông, đảm bảo sự hỗ trợ tích cực

của vốn TDNH Đối với hộ SXKD.

Thời hạn cho vay cũng phải đảm bảo tính thời vụ cao của sản xuất nơng nghiệp,

tránh trường hợp lúc thừa vốn, lúc lại thiếu vốn.



SVTH: Đặng Ngọc Châm



16



Lớp: KTNN&PTNT 49



Trường Đại học Kinh tế Quốc dân



Khoa BĐS&KTTN



Ngoài ra, TDNH cho kinh tế hộ cũng phải đảm bảo khuyến khích hộ vay vốn trung,

dài hạn với sự phối kết hợp các đối tượng cây, con một cách hợp lý; có sự xen kẽ

các hợp đồng tín dụng theo từng đối tượng sản xuất, lấy ngắn nuôi dài, đảm bảo

hiệu quả sử dụng vốn tốt hơn, hộ thường bị áp lực trả nợ NH đè nặng.

+ Về mức lãi suất vay vốn

Tham gia sản suất nông nghiệp, hộ gặp khá nhiều rủi ro. Rủi ro phát sinh từ ngay

trong q trình SXKD của hộ hay khi đã đưa nơng sản ra thị trường. Điều này ảnh

hưởng không nhỏ tới thu nhập của hộ. Mặt khác, với mỗi đối tượng sản xuất khác

nhau lại mang lại mức thu nhập khác nhau và có mức rủi ro khác nhau. Do vậy,

trong cho vay lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn mức lãi suất phù hợp với đặc điểm

sản xuất của hộ cũng là vấn đề hộ đặc biệt quan tâm.

+ Về xử lý rủi ro

Như trên ta đã nhắc đến vấn đề rủi ro trong hoạt động SXKD của hộ. Khi hộ gặp

phải vấn đề này, bên cạnh những lý do chủ quan, không thể bỏ qua những nguyên

nhân khách quan – điều này đòi hỏi sự đánh giá, xử lý khách quan, hợp lý của Ngân

hàng.

+ Về hình thức cấp phát vốn:

Hộ SXKD có nhiều quy mơ sản xuất với trình độ sản xuất khác nhau như: hộ nghèo,

hộ trung bình, hộ khá, hộ giầu; việc cung ứng vốn TDNH không thể đánh đồng tất

cả các hộ là một, cũng không thể lúc nào cũng cho hộ vay bằng tiền mặt. Hộ thiếu

vốn sản xuất, Ngân hàng phải là người cung ứng vốn sáng suốt, xác định loại vốn

nào là cần thiết với hộ để đồng vốn được sử dụng tốt nhất.

+ Về bảo đảm tiền vay:

Cho đến nay dù đã được sửa đổi nhiều để phù hợp hơn với điều kiện vay vốn của hộ

thì vẫn nằm trong mối quan tâm của hộ khi tham gia vay vốn TDNH. Vốn tự có của

hộ hầu như là khơng đáng kể, chủ yếu là quyền sử dụng đất nhưng vẫn còn gặp

nhiều khó khăn trong vấn đề hồn tất thủ tục pháp lý, do vậy, TDNH phải hiểu rõ

hoàn cảnh của hộ để có biện pháp linh động trong đáp ứng nhu cầu vốn của hộ

SXKD.

Về cơ bản, TDNH phải thực sự thấu hiểu và đặt mình trong từng loại hình SXKD

của hộ để có thể đáp ứng tốt nhất nhu cầu vốn của hộ.



SVTH: Đặng Ngọc Châm



17



Lớp: KTNN&PTNT 49



Trường Đại học Kinh tế Quốc dân



Khoa BĐS&KTTN



PHẦN III: HIỆU QUẢ CỦA TDNH ĐỐI VỚI HỘ SXKD

I. QUAN ĐIỂM VỀ HIỆU QUẢ CỦA TDNH ĐỐI VỚI HỘ SXKD

Như ở trên ta đã nói, quan hệ TDNH thực chất là quan hệ cho vay giữa một

bên là ngân hàng, một bên là hộ SXKD nói riêng; và để có được một mối quan hệ

tín dụng hoàn hảo, về cơ bản cả bên cho vay và bên đi vay đều thỏa mãn được mục

đích của mình khi bắt đầu một quan hệ tín dụng.

TDNH là một quan hệ khá phức tạp và có nhiều vấn đề phát sinh. Do vậy

việc đánh giá hiệu quả của TDNH đối với các đối tượng vay vốn nói trung và đối

tượng hộ SXKD, trước hết ta cần phải chú ý đến các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu

quả hoạt động của các đối tượng tham gia quan hệ tín dụng:

1. Các nhân tố ảnh hưởng đến hộ SXKD trong quan hệ TDNH

1.1. Khả năng sử dụng vay vốn của hộ SXKD

Hộ SXKD là đơn vị lập phương án SXKD, dự án xin vay và sau khi được

Ngân hàng chấp nhận cho vay thì hộ SXKD chính là đơn vị trực tiếp sử dụng vốn

vay vào các mục đính TDNH của mình. Do vậy, khả năng sử dụng vốn vay đúng

mục đính của hộ là vấn đề quyết định ảnh hưởng đến hiệu quả của TDNH.

Sự phối kết hợp của các thành viên, lao động trong hộ ra sao, đã hợp lý với quy mô

và nội dung SXKD hay chưa?

Phương án SXKD được xây dựng đã chặt chẽ hay chưa? Chi phí phát sinh, yêu cầu

của thị trường về sản phẩm, kế hoạch sản xuất,… phải được tính tốn cụ thể đầy đủ

thì khả năng trả nợ NH mới cao, hiệu quả của quan hệ TDNH mới tốt.

1.2. Rủi ro trong hoạt động SXKD của hộ

Hoạt động SXKD của hộ chủ yếu nằm trong lĩnh vực nơng nghiệp, có sự gắn

bó chặt chẽ với điều kiện tự nhiên (khí hậu, thời tiết,…) trong khi giá cả biến động

bất thường với một nghịch lý là nỗi lo về giá cả đến với nông dân cả khi được mùa

và mất mùa.

Rủi ro - những biến cố phát sinh ngời ý muốn, đem lại hậu quả xấu - có thể

coi là khơng hề xa lạ đối với hộ SXKD, do vậy để mở ra một quan hệ tín dụng với

NH, thực hiện tốt một phương án SXKD, hộ phải thực sự chú ý đến vấn đề rủi ro có

thể phát sinh để đảm bảo SXKD có lãi và khả năng thanh tốn nợ.

1.3. Những quy định, chính sách hỗ trợ hộ SXKD vay vốn

Từ khi hộ gia đình được thừa nhận là một đơn vị kinh tế tự chủ, hoạt động SXKD

của hộ đã được các cấp lãnh đạo chú trọng với việc ban hành hàng loạt các văn bản

pháp quy quy định quyền lợi cũng như nghĩa vụ của các hộ SXKD trong các quan

hệ kinh tế, đặc biệt là trong quan hệ tín dụng với các NHTM, tạo điều kiện thuận lợi



SVTH: Đặng Ngọc Châm



18



Lớp: KTNN&PTNT 49



Trường Đại học Kinh tế Quốc dân



Khoa BĐS&KTTN



cho các hộ SXKD được tiếp cận gần hơn với vốn TDNH, đáp ứng nhu cầu về vốn

cho hoạt động sản xuất kinh doanh như: Nghị định số 41/2010/NĐ – CP ngày

12/04/2010 về một số chính sách TDNH phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn;

văn bản số của Tổng Giám đốc NHNo&PTNT Việt Nam về việc thực hiện một số

chính sách TDNH phục vụ việc phát triển nông nghiệp, nông thôn nhằm triển khai

cụ thể các chủ trương lớn của Chính phủ và NHNN; Văn bản số 13/2010/TTNHNN quy định về các tỷ lệ bảo đảm an tồn trong hoạt động của tổ chức tín dụng;

Văn bản 14/2010/TT-NHNN hướng dẫn chi tiết thực hiện Nghị định số

41/2010/NĐ-CP ngày 12/4/2010 của Chính phủ về chính sách tín dụng phục vụ phát

triển nông nghiệp, nông thôn; Thông tư số 20/2010/TT-NHNN hướng dẫn thực

hiện các biện pháp điều hành công cụ chính sách tiền tệ để hỗ trợ tổ chức tín dụng

cho vay phát triển nơng nghiệp, nơng thơn…

1.4.Tài sản đảm bảo

Hộ SXKD cho đến nay, vốn tự có chủ yếu khơng đáng kể, do vậy một quan

hệ tín dụng để diễn ra thường gặp nhiều khó khăn. Là một tổ chức tài chính, các

NHTM thực hiện hoạt động kinh doanh của mình trên cơ sở phải mang lại lợi nhuận

do vậy khơng thể thực hiện một quan hệ tín dụng với khách hàng đơn thuần chỉ dựa

vào lòng tin, tư cách của khách hàng hay một kế hoạch sản xuất kinh doanh hoàn

thiện,…Tài sản đảm bảo là một yếu tố khách quan tồn tại trong một quan hệ tín

dụng để minh chứng cho khả năng thu hồi vốn vay cả gốc và lãi của NH là có thể,

và khách hàng cũng có ý thức hơn trong sử dụng vốn vay.

Với tư cách là một đơn vị kinh tế tự chủ, được giao quyền sử dụng đất lâu

dài, hộ SXKD đã chủ động hơn trong vay vốn kết hợp với những hỗ trợ của Đảng

và Nhà nước, của ngành về cơ chế cho vay không cần tài sản đảm bảo theo mục tiêu

phát triển kinh tế đát nước.

2.Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động TDNH

2.1.Trình độ của cán bộ tín dụng

Tiếp xúc trực tiếp với khách hàng trong mối quan hệ tín dụng chính là cán bộ

tín dụng (CBTD), do vậy, muốn nâng cao được hiệu quả của TDNH việc đầu tư cho

chất lượng cho cán bộ tín dụng là mục tiêu quan trọng hàng đầu. Đặc biệt trong cho

lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn - một lĩnh vực đặt ra nhiều khó khăn cả bên cho

vay và bên đi vay – sự am hiểu, kiến thức về sản xuất và kinh doanh nông nghiệp

của CBTD là rất cần thiết; có hiểu, có biết thì mới đảm bảo cho vay đúng và có ý

nghĩa trong việc cải thiện đời sống cho hộ nông dân.



SVTH: Đặng Ngọc Châm



19



Lớp: KTNN&PTNT 49



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Phần II: TÍN DỤNG NGÂN HÀNG ĐỐI VỚI KINH TẾ HỘ SXKD

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×