Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
PHẦN I: TỔNG QUAN VỀ KINH TẾ HỘ SẢN XUẤT KINH DOANH (SXKD)

PHẦN I: TỔNG QUAN VỀ KINH TẾ HỘ SẢN XUẤT KINH DOANH (SXKD)

Tải bản đầy đủ - 0trang

Trường Đại học Kinh tế Quốc dân



Khoa BĐS&KTTN



và thừa kế. Kết hợp với cơ sở kinh tế của hộ được quy định trong bộ luật dân sự

càng khẳng định tính chủ động trong hoạt động sản xuất kinh doanh của hộ.

+ Về tài sản chung của hộ là tài sản mà các thành viên cùng tạo lập hoặc

được cho chung và các tài sản khác mà các thành viên thỏa thuận là tài sản chung,

quyền sử dụng đất hợp pháp của hộ cũng là tài sản chung.

+ Về đại diện hộ sản xuất trong các giao dịch dân sự vì lợi ích chung của hộ

thì được quy định là chủ hộ. Cha mẹ hay một thành viên khác đã thành niên có thể

là chủ hộ,chủ hộ có thể ủy quyền cho thành viên khác đã thành niên làm đại diện

của hộ trong quan hệ dân sự. Giao dịch dân sự do đại diện của hộ SXKD xác lập,

thực hiện lợi ích chung của hộ làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của cả hộ SXKD.

+ Hộ sản xuất phải chịu trách nhiệm dân sự về việc thực hiện quyền, nghĩa

vụ dân sự do người đại diện xác lập, thực hiện nhân danh hộ sản xuất. Hộ chịu trách

nhiệm dân sự bằng tài sản chung của hộ. Nếu tài sản chung của hộ không đủ để thực

hiện nghĩa vụ dân sự chung của hộ thì các thành viên khác phải chịu trách nhiệm

liên đới bằng tài sản của riêng mình.

Tóm lại: Hộ SXKD được xác định là một đơn vị kinh tế tự chủ bao gồm

nhiều người có cùng quan hệ huyết thống, có tài sản chung được phép kinh

doanh trên một số lĩnh vực nhất định do nhà nước quy định.

II. ĐẶC ĐIỂM CỦA KINH TẾ HỘ SẢN XUẤT KINH DOANH

Kinh tế Việt Nam từ khi mở cửa - tiếp nhận nền kinh tế thị trường, tốc độ tăng

trưởng kinh tế hàng năm trong hơn 10 năm đổi mới đạt mức cao, bình qn hơn 8%.

Cơ cấu nước ta cũng có những thay đổi đáng kể; trước đổi mới chủ yếu là kinh tế

quốc doanh và kinh tế hợp tác xã, kinh tế cá thể và các thành phần kinh tế khác

không đáng kể, nhưng sau gần 20 năm đổi mới, kinh tế cá thể nhận được sự quan

tâm không nhỏ và dần chiếm một vị trí quan trọng trong nền kinh tế thị trường.

Trong lĩnh vực nông nghiệp nông thôn, hộ sản xuất là hướng đầu tư chủ yếu, cần

thiết thực hiện mục tiêu xây dựng nền sản xuất hàng hóa có quy mơ lớn và thực

hiện nhiệm vụ cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa nơng nghiệp nơng thơn.

Đứng trên phương diện nghiên cứu hộ là một chủ thể kinh tế, chịu sự tác động

của các hoạt động tín dụng ta có thể đưa ra các đặc điểm sau của hộ;

1. Hộ SXKD về cơ bản là một đơn vị kinh tế cơ sở, vừa là một đơn vị sản

xuất, vừa là một đơn vị tiêu dùng

Thời gian nước ta bắt đầu đi vào đổi mới chưa lâu, với một cơ cấu nền kinh tế

mới với nhiều thành phần kinh tế, kinh tế hộ vẫn là mục tiêu phát triển chính, chủ

yếu trong các chiến lược, định hướng đầu tư phát triển nông nghiệp nông thôn.



SVTH: Đặng Ngọc Châm



4



Lớp: KTNN&PTNT 49



Trường Đại học Kinh tế Quốc dân



Khoa BĐS&KTTN



Mặt khác, hộ SXKD ở nước ta chủ yếu vẫn còn ở quy mơ nhỏ, sử dụng lao động

trong gia đình là chính, vốn tự có đầu tư cho hoạt động SXKD ở mức hạn chế, hầu

như là khơng có, do vậy sản xuất chủ yếu mang tính tự cấp, tự túc, tỷ trọng hàng

hóa sản xuất ra thường khơng lớn có được phần lớn là tiêu dùng khơng hết, mục

đích sản xuất chủ yếu bắt đầu từ nhu cầu tiêu dùng.

2. Hộ là chủ thể sản xuất - kinh doanh với số lượng đơng

Cả nước ta có hơn 14 triệu hộ gia đình sống tập trung chủ yếu ở vùng đồng bằng

thuận lợi cho việc sản xuất nông nghiệp, giao lưu kinh tế,…như đồng bằng sông

Hồng, đồng bằng sông Cửu Long.

Cho đến nay nơng nghiệp vẫn là đối tượng sản xuất chính của các hộ gia đình:

Trong hơn 14 triệu hộ thì số hộ nông nghiệp là 11 triệu hộ. Số lượng hộ nơng

nghiệp đơng đảo như vậy nhưng trình độ sản xuất thấp, quy mô nhỏ lẻ, manh mún

là chủ yếu. Do vậy phát triển kinh tế hộ là bước đầu tiên đi lên sản xuất hàng hóa.

Mặt khác trong hơn 14 triệu hộ thì gần 12 triệu hộ sinh sống ở địa bàn nông

thôn, một trở ngại lớn cho mục tiêu đưa nước ta cơ bản thành nước công nghiệp vào

năm 2020 - do vậy cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa nơng nghiệp nơng thơn là một

bước đi quan trọng, tức là đưa được kĩ thuật, công nghiệp vào hoạt động sản xuất

kinh doanh của từng hộ dân.

3. Hộ SXKD được hình thành theo những đặc điểm tự nhiên rất đa dạng

Tùy thuộc vào hình thức sinh hoạt ở mỗi vùng và địa phương mà hộ hình thành

kiểu cách sản xuất. tổ chức riêng trong phạm vi hộ gia đình. Các thành viên trong

hộ SXKD chủ yếu có quan hệ than thuộc với nhau, ít lao động th ngồi tùy thuộc

vào mùa vụ trong sản xuất.

Trong sản xuất kinh doanh, chủ hộ là đại diện cũng như là lao động trực tiếp,

chịu trách nhiệm và tự giác trong hoạt động - chủ hộ theo tâm lý chung của nông

thôn hay ngay cả khu vực thành thị nước ta thông thường là người cha hay là con

trai lớn đã thành niên, có năng lực.

Do những đặc điểm hình thành mà việc sản xuất kinh doanh của hộ khá ổn định,

vốn luân chuyển chậm hơn so với các thành phần kinh tế khác, chủ yếu là theo vụ

mùa nhất định trong năm, ngay cả trong sản xuất hay kinh doanh dịch vụ phục vụ

nông nghiệp.

4. Quan hệ giữa tiêu dùng và sản xuất của kinh tế hộ SXKD biểu hiện ở trình

độ phát triển của hộ từ tự cấp hoàn toàn đến sản xuất hàng hóa. Trình độ này

quyết định quan hệ giữa hộ và thị trường

Hiện nay, trình độ sản xuất của chủ hộ chủ yếu ở mức thấp, sản xuất thủ cơng là

chính, máy móc còn ít, giản đơn, tổ chức sản xuất mang tính chất tự phát, quy mơ



SVTH: Đặng Ngọc Châm



5



Lớp: KTNN&PTNT 49



Trường Đại học Kinh tế Quốc dân



Khoa BĐS&KTTN



nhỏ, không được đào tạo bài bản. Đồng thời hộ vẫn chủ yếu hoạt động SXKD có

tính chất truyền thống, thái độ lao động thường bị chi phối bời tình cảm đạo đức gia

đình và nếp sống sinh hoạt theo phong tục tập quán của làng quê. Trình độ ứng

dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất cũng như khả năng sử dụng một cách

hiệu quả các nguồn nội lực đều còn nhiều hạn chế và chưa hợp lí.

5. Hộ SXKD có đối tượng sản xuất hết sức phức tạp và đa dạng, quá trình sản

xuất kinh doanh mang tính thời vụ và ngồi hoạt động nơng nghiệp còn có thể

tham gia vào các hoạt động phi nông nghiệp dưới nhiều mức độ khác nhau

Đối tượng sản xuất của hộ chủ yếu thuộc lĩnh vực nông nghiệp, tính đa dạng,

phức tạp về chủng loại thời gian sống của mỗi loại cây, con đã quyết định tính đa

dạng phức tạp trong hoạt động sản xuất kinh doanh của hộ. Đồng thời chính đặc

điểm này cũng giải thích cho tính thời vụ của kinh tế hộ SXKD - cùng một lúc có

thể sản xuất kinh doanh nhiều loại cây trồng, vật ni khác nhau có tính hỗ trợ cho

nhau và có thể thực hiện các ngành nghề phi nơng nghiệp khác lúc nông nhàn với

quy mô khác nhau.

Kinh tế hộ SXKD có sự gắn bó chặt chẽ với những đặc tính của sản xuất

nơng nghiệp và kinh tế nơng thôn.

6. Kinh tế hộ SXKD hiện nay chủ yếu chịu sự chi phối của Bộ Luật Dân sự( trừ

những trường hợp có u cầu đăng kí kinh doanh) khiến việc quản lý chưa

thực sự đồng nhất

Bên cạnh đó, sự trùng hợp giữa hai vị trí là đơn vị kinh tế và là tế bào xã hội

khiến cho hoạt động của hộ còn chịu nhiều sự chi phối của các yếu tố xã hội như

giới tính,tuổi tác của chủ hộ hay phong tục tập quán, thói quen,… của từng địa

phương khác nhau.

7. Về tính pháp lý và khả năng tài chính của hộ

Đối tượng là hộ gia đình, do vậy mọi thành viên trong hộ gia đình đều liên

đới trách nhiệm trong quan hệ giao dịch tín dụng. Về mặt thủ tục pháp lý trong giao

dịch với ngân hàng, chỉ cần người đại diện hộ đứng tên giao dịch với ngân hàng trên

cơ sở ủy quyền cho các thành viên trong hộ.

Tài sản của hộ là bao gồm cả tài sản riêng của các thành viên góp vào sử

dụng chung. Xét từ góc độ này thì năng lực tài chính của hộ bao gồm tài sản chung

và tài sản riêng của các thành viên. Vốn tự có của chủ hộ chủ yếu là khả năng lao

động của hộ, tức là kinh nghiệm cùng khả năng tổ chức và trực tiếp tham gia lao

động của những thành viên trong hộ.

Từ những đặc điểm trên đây ta thấy kinh tế hộ là thành phần kinh tế khá linh

động, là cơ sở ban đầu cho việc thực hiện các quy hoạch phát triển kinh tế nước ta.



SVTH: Đặng Ngọc Châm



6



Lớp: KTNN&PTNT 49



Trường Đại học Kinh tế Quốc dân



Khoa BĐS&KTTN



III. VAI TRÒ CỦA KINH TẾ HỘ ĐỐI VỚI NỀN KINH TẾ

Từ khi nghị quyết 10 của Bộ chính trị được ban hành, hộ nơng dân được thừa

nhận là một đơn vị kinh tế tự chủ - khằng định vị trí quan trọng của kinh tế hộ đối

với nền kinh tế, tạo động lực mạnh mẽ, năng động trong phát triển kinh tế nơng

thơn, nhờ đó người nơng dân đã gắn bó ruộng đất hơn, chủ động đầu tư vốn để thâm

canh, tăng vụ, khai phá thêm hàng ngàn ha đất mới, đa dạng hóa các đối tượng với

sự phân phối, kết hợp chặt chẽ. Bằng việc trao quyền tự chủ cho hộ nông dân đã

khơi dậy nhiều làng nghề truyền thống, phát hiện và xây dựng những ngành nghề

mới, mạnh dạn hơn trong việc vận dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất để

có hiệu quả kinh tế cao nhất.

Kinh tế hộ đã khẳng định sự tồn tại khách quan của mình trong nền kinh tế với

vai trò là cầu nối quan trọng giữa hai nền kinh tế là nền kinh tế tự nhiên và nền kinh

tế hàng hóa:

1. Kinh tế hộ góp phần tích cực vào cơng cuộc chuyển từ nền kinh tế tự

nhiên sang nền kinh tế hàng hóa

Lịch sử phát triển nền kinh tế đã xác định cụ thể các giai đoạn phát triển sản

xuất hàng hóa. Nền nơng nghiệp nói riêng hồn tồn bắt đầu là nền kinh tế tự nhiên

với mục đích sản xuất hàng hóa trao đổi đểu do những nhu cầu cá nhân mỗi hộ gia

đình. Hộ gia đình sản xuất với quy mơ nhỏ, sử dụng chủ yếu những nguồn lực chủ

sẵn có cho sản xuất, sản xuất chỉ để đảm bảo thỏa mãn những nhu cầu sống tối

thiểu. Đây là giai đoạn khởi điểm của nền kinh tế sản xuất hàng hóa với sự chuyển

biến dần từ nền kinh tế tự nhiên lên nền kinh tế hàng hóa nhỏ.

Tiếp theo là giai đoạn chuyển biến từ nền kinh tế hàng hóa nhỏ lên nền kinh tế

hàng hóa với quy mơ lớn, với sự linh động ngày càng cao trong hoạt động mua bán

trao đổi bằng trung gian tiền tệ.

Mỗi giai đoạn phát triển, kinh tế hộ đều là nhân tố thiết yếu, chiếm vị trí quan

trọng, đặc biệt ở giai đoạn lịch sử ban đầu , kinh tế hộ là mục đích và đối tượng phát

triển chính mà nếu chưa hồn thành tốt thì khó có thể đạt được mục tiêu phát triển

sản xuất hàng hóa với quy mơ lớn, đưa nước ta thốt khỏi tình trạng nền kinh tế còn

ở trình độ phát triển thấp.

2. Kinh tế hộ góp phần dẩy mạnh tiến trình cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa

nơng nghiệp nơng thơn - mục tiêu chiến lược của nước ta

Theo đề án cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa trong phát triển nơng nghiệp và xây

dựng nông thôn thời kỳ 2000-2020, mục tiêu phấn đấu GDP là 800 - 1000

USD/người, cơ cấu GDP nội bộ nông nghiệp trồng trọt - chăn nuôi - dịch vụ - công

nghiệp là 22% - 25% -25% - 28%, đồng thời giảm thiểu tỷ lệ lao động xã hội trong



SVTH: Đặng Ngọc Châm



7



Lớp: KTNN&PTNT 49



Trường Đại học Kinh tế Quốc dân



Khoa BĐS&KTTN



nơng nghiệp đến 2020 chỉ còn 20%, công suất máy đạt 2 mã lực /ha so với mức 0/8

mã lực/ha như hiện nay.

Để hoàn thành mục tiêu đề ra, hướng đi chủ yếu là tổ chức và chuyển dịch quan

hệ sản xuất nông nghiệp theo hướng phát triển kinh tế hộ nông dân, xây dựng và

phát triển những mơ hình kinh tế trang trại một cách hiệu quả. Hộ SXKD là đơn vị

kinh tế trực tiếp nhận và áp dụng những tiến bộ khoa học vào sản xuất (cơng nghệ

gen, tự động hóa, hóa học hóa,…) thúc đẩy tích cực tiến trình cơng nghiệp hóa, hiện

đại hóa nông nghiệp, nông thôn mà thực chất đưa công nghiệp hóa, hiện đại hóa vào

từng hộ SXKD.

3.Kinh tế hộ đẩy mạnh q trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nơng nghiệp, nông

thôn

Thực hiện mục tiêu tăng trưởng cao và ổn định trong nền kinh tế trong nhiều

năm tới, một trong những giải pháp quan trọng là phải chuyển dịch mạnh mẽ cơ cấu

kinh tế nơng nghiệp nơng thơn nói riêng

Từ khi thực hiện chỉ thị 100 của Ban bí thư TW Đảng khóa V và Nghị quyết

10 của Bộ chính trị, nông nghiệp nông thôn đã ngày càng tiến lên một sức mạnh

mới với sự cải thiện rõ rệt về mọi mặt như: tổng sản lượng lương thực tăng cao

trong những năm qua, nước ta xuất phát từ một nước thiếu lương thực nay đã trở

thành quốc gia xuất khẩu lớn trên thế giới, giảm thiểu số hộ đói - nghèo, khôi phục

và phát triển nhiều làng nghề (hiện cả nước có khoảng 1000 làng nghề),…đạt được

kết quả tích cực này, mỗi địa phương đã xây dựng được cho mình những mơ hình

chuyển đổi cơ cấu kinh tế nơng nghiệp, nông thôn hợp lý theo định hướng chung

của cả nước.

Tham gia vào quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, hộ nơng thơn đã có sự

tập trung đa dạng hóa các đối tượng sản xuất, phối kết hợp một cách hợp lý; giúp

gia tăng thu nhập, tạo khả năng tiếp thu công nghệ mới vào sản xuất phù hợp với

điều kiện từng địa phương: làng gốm ở Bát Tràng, làng nghề tre trúc Xuân Lai (Bắc

Ninh)… Bằng sự nỗ lực của Đảng và Nhà nước, các hộ SXKD luôn chủ động và

tích cực chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo những mơ hình hợp lý, mang lại hiệu quả

kinh tế cao, tác động tích cực đến q trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp

nông thôn.

a. Kinh tế hộ nâng cao hiệu quả sử dụng lao động nông thôn, giải

quyết tích cực vấn đề việc làm cho tồn xã hội

Việc làm ln là vấn đề cấp bách với tồn xã hội nói chung và đối với nơng thơn

Việt Nam nói riêng. Với hơn 70% dân số sống ở nơng thơn, dù nhà nước có nhiều



SVTH: Đặng Ngọc Châm



8



Lớp: KTNN&PTNT 49



Trường Đại học Kinh tế Quốc dân



Khoa BĐS&KTTN



biện pháp hỗ trợ tạo việc làm, vấn đề dư thừa lao động ở nông thôn, đặc biệt trong

thời điểm nông nhàn vẫn cần được quan tâm giải quyết.

Từ khi được thừa nhận là đơn vị kinh tế tự chủ, chủ động hơn trong hoạt động

sản xuất kinh doanh, hộ đã tập trung sản xuất, mở rộng quy mô, tận dụng triệt để lao

động sẵn có trong gia đình và địa phương, giải quyết tích cực vấn đề việc làm cho

lao động nơng thôn, nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống. Năng suất lao động cũng

được sử dụng một cách hiệu quả hơn, giúp tăng trưởng kinh tế cao hơn và thực hiện

tốt quá trình chuyển dịch lao động sang những lĩnh vực phi nơng nghiệp, hỗ trợ cho

q trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn.

b. Kinh tế hộ góp phần giải quyết các vấn đề xã hội ở nông thôn

Nông nghiệp và nông thôn là lĩnh vực mang nặng tính truyền thống, thói quen

hay những tập qn tồn tại từ lâu đời ảnh hưởng không nhỏ tới tác phong lao động

của người dân, kìm hãm tốc độ phát triển kinh tế nông thôn.

Với chủ trương mới, một luồng sinh khí mới được thổi vào nơng nghiệp, nơng

thơn. Việc tạo sự tự chủ trong sản xuất kinh doanh đã góp phần cải thiện tác phong

làm việc của lao động nông thôn, hạn chế hẳn những vấn đề xã hội xấu đã tồn tại từ

lâu trong nông thôn. Người dân tập trung sản xuất, sinh hoạt lành mạnh, nâng cao

chất lượng cuộc sống, trình độ dân trí và sức khỏe.

Kinh tế hộ đã khẳng định vai trò quan trọng của mình trong nền kinh tế tạo đà

cho nền kinh tế phát triển mạnh mẽ, sôi động với việc sử dụng hiệu quả hơn đất đai

lao động, tiền bạc, công nghệ và lợi thế sinh thái vùng - đưa nông nghiệp, nơng thơn

nói riêng và tồn ngành kinh tế nói chung đạt được những mục tiêu, chiến lược đề

ra một cách vững chắc.



SVTH: Đặng Ngọc Châm



9



Lớp: KTNN&PTNT 49



Trường Đại học Kinh tế Quốc dân



Khoa BĐS&KTTN



Phần II: TÍN DỤNG NGÂN HÀNG ĐỐI VỚI KINH TẾ HỘ SXKD

I. TÍN DỤNG NGÂN HÀNG (TDNH)

1. Khái niệm

Thuật ngữ “tín dụng” (credit) xuất phát từ chữ Latinh “credo” có nghĩa là “tin

tưởng tín nhiệm”. Khơng phải ngẫu nhiên mà từ này được sử dụng để biểu hiện cho

quan hệ vay mượn - một mối quan hệ nhạy cảm, khá tế nhị mà có thể nói sự tin

tưởng và tín nhiệm nhau là một yếu tố quyết định.

Thuật ngữ “Tín dụng” cũng được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau tùy theo từng

bối cảnh quan hệ tài chính khác nhau. TDNH là một sự thống nhất khái niệm chức

năng giữa tín dụng và ngân hàng.

Có thể nói ngân hàng là nơi biểu hiện tập trung nhất mọi hoạt động kinh tế của

đất nước, những thơng tin có liên quan đến hoạt động ngân hàng luôn là mối quan

tâm hàng đầu của các thành phần kinh tế. Ngân hàng thương mại là tổ chức kinh tế,

hoạt động trên lĩnh vực tiền tệ, trong đó hoạt động nợ cho khách hàng trên cơ sở tín

nhiệm là hoạt động chủ yếu.

Tín dụng xét trên cơ sở chức năng hoạt động của ngân hàng sẽ được hiểu là: một

giao dịch về tài sản (tiền hoặc hàng hóa) giữa bên vay (NH và các định chế tài chính

khác) và bên đi vay (cá nhân, tập thể và các chủ thể khác), trong đó cho vay chuyển

giao tài sản cho bên đi vay sử dụng trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận về

thời gian, phương thức thanh toán, tài sản đảm bảo,… và bên đi vay có trách nhiệm

hồn trả vơ điều kiện vốn gốc và lãi cho bên cho vay khi hết hạn thanh toán

Như vậy TDNH là một giao dịch về tài sản dựa trên cơ sở hoàn trả với những

đặc trưng cơ bản sau:

+ Xuất phát từ nguyên tắc hồn trả, do vậy, hoạt động Tín dụng của ngân hàng

phải có cơ sở để tin rằng người đi vay có thể trả đủ và đúng hạn. Vấn đề thông tin là

cơ sở ban đầu nhưng để quyết định việc mở một quan hệ tín dụng, khả năng hồn

trả ln được tính đến với những ngun tắc hồn trả nhất định.

+ Giá trị hồn trả trong quan hệ tín dụng phải lớn hơn giá trị lúc cho vay, tức

người đi vay phải trả thêm phần lãi ngoài vốn gốc. Với đặc trưng này cả ngân hàng

và khách hàng đều quan tâm đến lãi suất tiền vay. Ngân hàng luôn muốn mức lãi

suất đủ để đáp ứng cho những chi phí trong hoạt động kinh doanh của mình, mặt

khác khách hàng thì ln mong đợi lãi suất thấp nhằm gia tăng tối đa lợi nhuận

trong hoạt động sản xuất kinh doanh hay đảm bảo tốt hơn khả năng trả nợ đúng hạn.

Hệ thống lãi suất luôn là vấn đề tạo nên tính cạnh tranh giữa các tổ chức tín dụng.



SVTH: Đặng Ngọc Châm



10



Lớp: KTNN&PTNT 49



Trường Đại học Kinh tế Quốc dân



Khoa BĐS&KTTN



Theo tốc độ phát triển kinh tế, nhu cầu của khách hàng trong lĩnh vực tín dụng

ngày càng đa dạng, không chỉ bằng tiền mà xuất hiện thêm hinh thức mới là cho

thuê bất động sản, làm đa dạng hóa các hình thức dịch vụ của ngân hàng đáp ứng

mọi nhu cầu của khách hàng.

Do bản chất quan hệ tín dụng là một quan hệ phức tạp và nhạy cảm, nên những

vấn đề phát sinh xung quanh nó nhiều và đòi hỏi sự khắt khe trong quản lý để đảm

bảo quan hệ tín dụng thực sự diễn ra có hiệu quả cho cả ngân hàng và khách hàng

tránh tối đa những rủi ro có thể phát sinh.

Một quan hệ tín dụng được gọi là hồn hảo nếu các đặc trưng cơ bản trên được thỏa

mãn tức là người đi vay sử dụng hiệu quả vốn vay và hoàn trả đầy đủ cả vốn gốc lẫn

lãi đúng thời hạn.

2. Phân loại

Phân loại TDNH là việc sắp xếp các khoản vay theo nhóm dựa trên một số tiêu

thức nhất định. Phân loại tín dụng một cách khoa học sẽ giúp giảm thiểu rủi ro,

mang lại hiệu quả cho hoạt động sản xuất kinh doanh của khách hàng

Dưới đây là một số tiêu thức phân loại chính và hiệu quả tác động của mỗi tiêu

thức:

2.1. Phân loại theo thành phần kinh tế

Bước vào quá trình đổi mới, nền kinh tế nước ta phát triển theo cơ chế thị trường

với sự đa dạng của các thành phần kinh tế. Bằng cách phân loại khách hàng tín dụng

theo thành phần kinh tế sẽ xác định được xác định một cách chính xác đối tượng

chính tham gia vào hoạt động TDNH và ảnh hưởng của TDNH tới hoạt động của

đối tượng đó cũng như hiệu quả hoạt động tín dụng của ngân hàng. Từ đó ngân

hàng sẽ có hướng đầu tư hợp lý vào các đối tượng khách hàng, đảm bảo sự phân bổ

vốn tín dụng cân đối, đa dạng hóa các đối tượng khách hàng.

2.2. Phân loại theo mục đích cho vay

Theo tiêu thức phân loại này TDNH được chia thành các loại sau:

+ Cho vay nông nghiệp: là loại cho vay để trang trải các chi phí sản xuất như

phân bón, thuốc trừ sâu, giống cây trồng, thức ăn gia súc, lao động, nhiên liệu,…

Phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh trong lĩnh vực nông nghiệp.

+ Cho vay công nghiệp thương mại: là loại cho vay ngắn hạn để bổ sung vốn lưu

động cho các doanh nghiệp trong lĩnh vực công nghiệp, thương mại và dịch vụ

+ Cho vay cá nhân: là loại cho vay để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng như mua sắm

các vật dụng đắt tiền, trang trải các chi phí thơng thường của đời sống,…

Cách phân loại này, hoạt động tín dụng của ngân hàng bám sát những mục tiêu

phát triển kinh tế của địa phương cũng như của cả nước, có tác động đến q trình



SVTH: Đặng Ngọc Châm



11



Lớp: KTNN&PTNT 49



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

PHẦN I: TỔNG QUAN VỀ KINH TẾ HỘ SẢN XUẤT KINH DOANH (SXKD)

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×