Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

Tải bản đầy đủ - 0trang

8



quản lý rủi ro tốt, các món cho vay đều thu hồi được đầy đủ hoặc tổn thất nằm trong

ngưỡng cho phép, tổn thất của tồn danh mục sẽ khơng làm giảm lợi nhuận của cả

ngân hàng từ hoạt động tín dụng. Rủi ro tín dụng gắn liền với hoạt động quan trọng

nhất, có quy mơ lớn nhất của ngân hàng thương mại – hoạt động tín dụng. Rủi ro tín

dụng là bạn đường trong kinh doanh, có thể phòng ngừa, hạn chế chứ không thể loại

trừ. Do vậy, rủi ro dự kiến luôn được xác định trong chiến lược hoạt động chung của

ngân hàng.

Theo giáo trình Ngân hàng thương mại, 2014, NXB Kinh tế quốc dân, quản trị

rủi ro tín dụng là một hệ thống các hoạt động hồn chỉnh qua đó ngân hàng xác

định, đánh giá và kiểm sốt rủi ro khi cấp tín dụng cũng như lợi nhuận có thể thu

được, từ đó đưa ra các quyết định nhằm đảm bảo lợi ích tối đa cho mình. Hoạt động

quản trị rủi ro tín dụng có thể được xem xét trên cơ sở một khoản tín dụng và một

danh mục tín dụng.

+Quản trị rủi ro đối với một khoản tín dụng: là hệ thống các hoạt động mà từ

đó ngân hàng đánh giá khả năng rủi ro cũng như lợi nhuận khi ngân hàng cấp tín

dụng cho một khách hàng – bao gồm quá trình từ khi tiếp xúc khách hàng, cấp vốn,

thu hồi vốn, báo cáo kết quả và xử lý rủi ro (nếu có). Quản trị rủi ro đối với một

khoản tín dụng là một bộ phận của quản lý rủi ro nằm trong khuôn khổ quản lý rủi

ro tín dụng chung của ngân hàng.

+Quản lý rủi ro tín dụng đối với một danh mục tín dụng: là hệ thống các hoạt

động giúp cho ngân hàng nhận biết và đo lường được mức độ rủi ro cho cả một

danh mục tín dụng, qua đó cho phép ngân hàng đạt được tương quan giữa rủi ro mà

ngân hàng có thể chấp nhận được và lợi nhuận có thể thu được, đồng thời giúp ngân

hàng kiểm soát, giảm thiểu được những rủi ro đó.

Đối với một ngân hàng, khi chấp nhận cho khách hàng vay là chấp nhận rủi

ro. Lãi của món vay giúp ngân hàng khơng chỉ bù đắp chi phí nguồn vốn và chi

phí hoạt động để quản lý món vay mà còn bù đắp những tổn thất có thể xảy ra.

Quản trị rủi ro tín dụng chặt chẽ giúp ngân hàng đánh giá chính xác nguy cơ gây

ra rủi ro của khách hàng trước khi cho vay, làm cơ sở để đưa ra quyết định tín

dụng phù hợp, đồng thời sớm phát hiện được rủi ro từ những khách hàng đang



9



vay vốn, nhanh chóng xử lý rủi ro từ khi mới chớm xuất hiện, để giảm thiểu khả

năng mất vốn và lãi.



1.1.2. Nguyên tắc quản trị rủi ro tín dụng

Hiện nay nhiều quốc gia và các ngân hàng trên thế giới đã và đang áp dụng

các tiêu chuẩn quốc tế về quản lý rủi ro tín dụng ngân hàng do Uỷ ban Basel ban

hành. Quan điểm của Uỷ ban Basel là sự yếu kém trong hệ thống ngân hàng của

một quốc gia có thể ảnh hưởng tới sự ổn định về tài chính khơng chỉ trong phạm vi

quốc gia đó mà trên phạm vi tồn cầu. Chính vì thế, vấn đề quản trị rủi ro tín dụng

ngân hàng được Uỷ ban này đặc biệt quan tâm. Uỷ ban Basel cũng khuyến khích

các ngân hàng xây dựng và hồn thiện hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ, tạo tiền

đề cho việc phân loại, đánh giá khách hàng dựa trên nhiều tiêu chí; phân biệt các

mức độ rủi ro tín dụng ứng với từng đối tượng khách hàng để có biện pháp quản lý

phù hợp nhằm giảm thiểu rủi ro cho ngân hàng.

Tháng 7 năm 2004, Uỷ ban Basel cho ra đời ấn phẩm mang tên “Hiệp ước

quốc tế về tiêu chuẩn vốn và đo lường rủi ro” hay còn gọi là Hiệp ước Basel II.

Hiệp ước Basel II hướng tới thực hiện ba mục tiêu:

- Đảm bảo phương pháp tính mức vốn an tồn của ngân hàng.

- Đo lường tách bạch rủi ro hoạt động và rủi ro tín dụng

- Tăng cường quản trị tồn cầu hố tài chính ngân hàng thống nhất giữa các

quốc gia.

Với ba mục tiêu trên, nội dung chính của Basel II đựơc tóm tắt trong 3 trụ cột:

- Trụ cột thứ nhất: Xoay quanh rủi ro tín dụng, yêu cầu vốn tối thiểu, đưa ra

yêu cầu mức vốn tối thiểu và phương pháp đánh giá rủi ro.

- Trụ cột thứ hai: Quy định về giám sát hoạt động ngân hàng.

- Trụ cột thứ ba: Yêu cầu về việc công bố thông tin hoạt động ngân hàng cho

các đối tượng liên quan.

Khung quản lý rủi ro tín dụng mà Basel đưa ra bao gồm một số nguyên tắc sau:

+Trao đổi thông tin về chiến lược, phương hướng hoạt động, các hướng dẫn và

các phương pháp về tín dụng.

+Xác định các rủi ro hiện có và rủi ro tiềm tàng trong các sản phẩm và hoạt

động tín dụng của ngân hàng.



10



+Xây dựng và thực hiện chính sách tín dụng rõ ràng, được thể hiện một

cách chính thức bằng văn bản – những chính sách này thể hiện các tơn chỉ về tín

dụng của ngân hàng và các thơng số mà theo đó, rủi ro tín dụng được quản lý và

kiểm sốt.

+Kỹ thuật kiểm tra và giám sát tín dụng nhằm hỗ trợ cho việc nhận biết rủi ro

tín dụng.

+Cơ cấu tổ chức trong đó các chức năng liên quan đến tín dụng được tiến hành

– bao gồm vai trò và trách nhiệm, cũng như các kênh báo cáo.

+Trách nhiệm đối với chất lượng tín dụng, thể hiện qua cơ cấu thưởng phạt và

đánh giá phù hợp.

+Một quy trình đánh giá rủi ro tín dụng chặt chẽ bao gồm: Hệ thống chấm

điểm rủi ro tín dụng và Chức năng kiểm tra tín dụng độc lập.

Uỷ ban Basel cũng khuyến khích các ngân hàng xây dựng và hồn thiện hệ

thống xếp hạng tín dụng nội bộ, tạo tiền đề cho việc phân loại, đánh giá khách hàng

dựa trên nhiều tiêu chí; phân biệt các mức độ rủi ro tín dụng ứng với từng đối tượng

khách hàng để có biện pháp quản lý phù hợp nhằm giảm thiểu rủi ro cho ngân hàng.



1.1.3. Nội dung quản trị rủi ro tín dụng

Một cách khái quát, quản trị rủi ro tín dụng bao gồm 4 nội dung sau: nhận diện

rủi ro tín dụng, đo lường rủi ro tín dụng, báo cáo rủi ro tín dụng và xử lý rủi ro (theo

giáo trình Ngân hàng thương mại, 2014, NXB Kinh tế quốc dân). Trong phạm vi

nghiên cứu của luận văn về một chi nhánh, HV chỉ đi sâu nghiên cứu 3 nội dung

quản trị rủi ro tín dụng sau: nhận diện rủi ro, đo lường rủi ro tín dụng theo phương

pháp xếp hạng tín dụng nội bộ, và xử lý tổn thất.



1.1.3.1. Nhận diện rủi ro tín dụng

Nhận diện rủi ro có vai trò quan trọng đối với các bước tiếp theo của một

quy trình QTRRTD. Nhận diện rủi ro tín dụng là q trình xác đinh liên tục và có

hệ thống trong hoạt động tín dụng của NHTM. Nhận diện rủi ro tín dụng bao

gồm các cơng việc theo dõi, xem xét, nghiên cứu môi trường hoạt động tín dụng

và tồn bộ hoạt động tín dụng của ngân hàng, nhằm thống kê được tất cả các rủi



11



ro, không chỉ những loại rủi ro đã và đang xảy ra mà còn dự báo được những rủi

ro mới có thể xuất hiện, trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp kiểm sốt và khắc

phục rủi ro thích hợp.

Nhận diện rủi ro qua các dấu hiệu sẽ giúp ngân hàng có những giải pháp tối ưu

để xử lý kịp thời, là khâu quan trọng quyết định đến việc thực hiện mục tiêu

QTRRTD và nâng cao hiệu quả kinh doanh của ngân hàng. Tuy nhiên, việc nhận

diện rủi ro rất phức tạp, các nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng rất đa dạng. Do đó,

ngân hàng cần xây dựng một bảng liệt kê các dấu hiệu nhận biết rủi ro điển hình để

hỗ trợ cho hoạt động QTRRTD, có các nhóm dấu hiệu như là: Nhóm dấu hiệu từ

phía khách hàng hay nhóm dấu hiệu từ phía chính ngân hàng.

Nhận diện rủi ro tín dụng bao gồm:

+ Nhận diện rủi ro tín dụng với một khách hàng

+ Nhận diện rủi ro tín dụng đối với một danh mục tín dụng

Nhận diện rủi ro tín dụng với một khách hàng:

Căn cứ vào nguyên nhân xảy ra rủi ro rín dụng, ngân hàng cụ thể hóa thành

các dấu hiệu phát sinh trong hoạt động phản ánh rủi ro tín dụng gồm:

+ Nhóm 1: Dấu hiệu liên quan đến quan hệ với ngân hàng. Khách hàng có

biểu hiện như: khơng thanh tốn, thanh toán chậm, xin ngân hàng kéo dài kỳ hạn

vay, xin gia hạn nợ, chu kỳ vay thường xuyên gia tăng, có quan hệ tín dụng với

nhiều ngân hàng,…

+ Nhóm 2: Nhóm các dấu hiệu liên quan đến quản lý và tổ chức của khách

hàng. Khách hàng có nhiều biểu hiện như: khơng có sự thống nhất trong hội đồng

quản trị hay ban điều hành về quan điểm, mục đích, cách thức quản lý, nội bộ mất

đồn kết,…

+ Nhóm 3: Nhóm các dấu hiệu về hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh

nghiệp hay đời sống cá nhân của khách hàng. Khách hàng có các biểu hiện như

doanh thu, lợi nhuận của doanh nghiệp không đạt được như dự kiến, khả năng thanh

toán giảm,… Đối với khách hàng cá nhân, thu nhập của khách hàng không ổn định,



12



hay phải thay đổi cơng việc

+ Nhóm 4: Dấu hiệu về xử lý thơng tin tài chính kế tốn. Khách hàng có

dấu hiệu chận trễ nộp báo cáo tài chính, các số liệu trong báo cáo bị làm giả. Đối

với khách hàng cá nhân, khách hàng từ chối nộp các giấy tờ chứng minh thu nhập,

tài sản,…

+ Nhóm 5: Các dấu hiệu thuộc về thương mại. Doanh nghiệp mở rộng đầu tư

vào các lĩnh vực khơng phải chun mơn của mình, có mức độ rủi ro cao..

+ Nhóm 6: Nhóm các dấu hiệu về pháp luật. Khách hàng vi phạm pháp luật,

chính sách của cơ quan quản lý nhà nước, hay các quy định pháp lý thay đổi theo

hướng bất lợi cho khách hàng.

Nhận diện rủi ro tín dụng đối với một danh mục tín dụng

+ Nhóm 1: Mở rộng quy mơ, tăng trưởng tín dụng cao trong khi chưa đủ

điều kiện:

 Mở rộng quy mô trong khi nguồn nhân lực chưa đủ

 Tăng trưởng tín dụng bất thường

+ Nhóm 2: Cơ cấu phân bổ tín dụng theo ngành nghề, lĩnh vực có thể sẽ ảnh

hưởng đến rủi ro của toàn bộ danh mục tín dụng. Rủi ro tín dụng cao hơn nếu ngân

hàng tập trung tín dụng vào một hoặc một số lĩnh vực, đặc biệt là những khách hàng

có nhu cầu vay cao hơn và chấp nhận lãi suất lớn hơn các khách hàng khác.



1.1.3.2. Đo lường rủi ro tín dụng theo phương pháp xếp hạng tín dụng

nội bộ

Theo Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (2013): Hệ thống xếp hạng tín dụng nội

bộ là hệ thống gồm các bộ chỉ tiêu tài chính và phi tài chính, các quy trình đánh giá

khách hàng trên cơ sở định tính và định lượng về mặt tài chính, tình hình kinh

doanh, quản trị, uy tín của khách hàng.

Hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ phải được xây dựng cho từng đối tượng

khách hàng khác nhau, kể cả các đối tượng bị hạn chế cấp tín dụng và những người

có liên quan của đối tượng này.



13



Hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ phải được xây dựng theo các nguyên tắc sau:

- Xây dựng trên cơ sở số liệu, thông tin của tất cả khách hàng đã thu thập được

trong thời gian ít nhất 01 (một) năm liền kề trước năm xây dựng hệ thống xếp hạng

tín dụng nội bộ.

- Ít nhất mỗi năm một lần, hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ phải được

xem xét, sửa đổi, bổ sung trên cơ sở số liệu, thông tin khách hàng thu thập

được trong năm.

- Có quy định các mức xếp hạng tương ứng với mức độ rủi ro từ thấp đến cao.

- Được Hội đồng quản trị (đối với tổ chức tín dụng là công ty cổ phần), Hội đồng

thành viên (đối với tổ chức tín dụng là cơng ty trách nhiệm hữu hạn), Tổng giám đốc

hoặc Giám đốc (đối với chi nhánh ngân hàng nước ngoài) phê duyệt áp dụng.

Hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ được xây dựng trên cơ sở xây dựng các

bảng chấm điểm các chỉ tiêu tài chính và chỉ tiêu phi tài chính của khách hàng nhằm

lượng hóa các rủi ro mà ngân hàng có khả năng phải đối mặt. Hệ thống xếp hạng rủi

ro tín dụng nội bộ sử dụng phương pháp chấm điểm và xếp hạng riêng đối với từng

nhóm khách hàng. Thơng thường có thể chia thành 2 nhóm đối tượng khách hàng:

doanh nghiệp và cá nhân.

Mục đích của việc chấm điểm tín dụng và xếp hạng khách hàng nhằm:

- Ra quyết định cấp tín dụng: xác định hạn mức tín dụng, thời hạn, mức lãi

suất, các biện pháp đảm bảo tiền vay.

- Giám sát và đánh giá khách hàng đang còn dư nợ, phát hiện sớm các dấu

hiệu cho thấy khoản vay đang có dấu hiệu xấu đi.

- Giám sát và đánh giá chất lượng của tồn bộ danh mục tín dụng.

- Ước lượng mức vốn có nguy cơ khơng thu hồi được để trích lập dự phòng

rủi ro tín dụng.

Các ngân hàng phải có bộ phận kiểm sốt rủi ro tín dụng độc lập chịu trách

nhiệm thiết kế, thực hiện hoạt động các hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ của

mình. Bộ phận này phải độc lập về chức năng đối với các bộ phận quản lý.



14



Xếp hạng tín dụng (XHTD) là một trong những công cụ quản trị rủi ro tín

dụng hữu hiệu mà các NHTM đã và đang áp dụng khi cấp tín dụng cho khách hàng.

Để quản trị rủi ro tín dụng, cần phải xây dựng mơi trường rủi ro tín dụng phù hợp

với quy trình cấp tín dụng lành mạnh; hệ thống quản lý, đo lường và theo dõi tín

dụng phù hợp; và phải kiểm sốt được rủi ro tín dụng. XHTD nói chung và xếp

hạng doanh nghiệp nói riêng đề cập đến cả bốn lĩnh vực của quản trị rủi ro tín dụng.

Trước hết, bằng việc cung cấp các thông tin và báo cáo chuẩn mực về rủi ro tín

dụng ở cấp độ tổng thể như: danh mục đầu tư tín dụng tồn hàng, chi tiết tới từng

vùng, khu vực địa lý, ngành hàng, lĩnh vực kinh tế, loại doanh nghiệp, loại hình tài

sản bảo đảm, loại sản phẩm hoặc thậm chí tới từng khoản tín dụng riêng lẻ; sau đó

xem xét ở từng thời điểm hay kết quả hoạt động của cả một thời kỳ dài… Kết quả

XHTD ở mức thấp, thì rủi ro khi cho vay càng cao và ngược lại. Vì vậy, để hạn chế

rủi ro tín dụng, các NHTM thường lựa chọn những khách hàng có kết quả xếp hạng

ở mức nhất định. Căn cứ vào kết quả xếp hạng, ngân hàng có thể từ chối ngay

những khách hàng có mức điểm thấp, dành nhiều thời gian, nhân lực để tiếp tục

thẩm định các khách hàng vay đạt mức điểm yêu cầu. Vì thế, sử dụng xếp hạng tín

dụng nội bộ (XHTDNB) sẽ tiết kiệm được thời gian, công sức, giảm bớt sự can

thiệp từ con người và mang lại lợi ích cho cả ngân hàng và khách hàng. Mặt khác

XHTDNB còn là căn cứ để ngân hàng đưa ra các quyết định cấp tín dụng mới, bổ

sung cho các khách hàng tốt hay “cảnh báo sớm” để có biện pháp kịp thời đối với

các khách hàng có hạng tín nhiệm thấp. Ở khía cạnh kiểm sốt rủi ro tín dụng, thì

XHTDNB tạo thêm một căn cứ độc lập để ngân hàng đánh giá về hiệu quả quá trình

quản trị rủi ro của các bộ phận có liên quan, bảo đảm chức năng cấp tín dụng được

quản lý phù hợp, các tài sản có rủi ro tín dụng nằm trong các giới hạn thống nhất

với các tiêu chuẩn thận trọng và các giới hạn nội bộ, phát hiện sớm các khoản tín

dụng xấu, các khoản tín dụng có vấn đề.Với vai trò quản trị rủi ro tín dụng,

XHTDNB giúp thu thập, quản lý, khai thác, phân tích thơng tin. Trên thực tế, thách

thức lớn nhất đối với các NHTM chính là việc thu thập và phân loại thơng tin chính

xác, chi tiết về người vay, về các đặc điểm của các loại hình rủi ro (loại sản

phẩm/ngành kinh tế/khu vực địa lý khác nhau…) và kết quả của đầu tư tín dụng vào



15



các loại hình rủi ro đó. XHTDNB vốn đòi hỏi rất nhiều thông tin đầu vào để vận

hành, cũng như tạo ra nhiều thơng tin đầu ra có giá trị. Điều này sẽ tạo ra động lực

để ngân hàng đầu tư vào hạ tầng cơng nghệ, hệ thống hóa, lưu giữ và tích lũy dần

các thơng tin cần thiết.

Hiện nay, việc xây dựng hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ đang trở nên cần

thiết và quan trọng đối với cơng tác quản trị rủi ro nói chung, đặc biệt là rủi ro tín

dụng nói riêng của các ngân hàng. Việc thực hiện xếp hạng tín dụng nội bộ nhằm

mục đích là phân loại các khoản nợ, đánh giá chất lượng tín dụng, trích lập dự

phòng trong các hoạt động tín dụng của ngân hàng.

Xếp hạng tín dụng nội bộ được xem là một công cụ hữu hiệu trong công tác

thẩm định, ra quyết định cho vay và giúp ngân hàng có thể đánh giá chính xác mức

độ rủi ro của từng khoản vay, phân loại nợ theo thông lệ quốc tế và cũng là cơ sở để

nâng cao chất lượng quản lý tín dụng và trích lập dự phòng phù hợp.



1.1.3.3. Xử lý rủi ro

Theo giáo trình Ngân hàng thương mại, 2014, NXB Đại học Kinh tế quốc dân,

xử lý rủi ro gồm 5 nội dung cơ bản sau:

- Trích và sử dụng dự phòng rủi ro tín dụng

- Cấp thêm vốn, cơ cấu lại thời gian trả nợ hoặc miễn, giảm lãi gốc.

- Bán tài sản đảm bảo

- Bán nợ

- Chuyển nợ thành cổ phần

Tuy nhiên, trong phạm vi luận văn viết về một chi nhánh, tác giả chỉ tập trung

phân tích các nội dung sau: trích và sử dụng dự phòng rủi ro tín dụng và bán tài sản

đảm bảo.

 Trích và sử dụng dự phòng rủi ro tín dụng

Ngay khi có dấu hiệu xảy ra tổn thất, ngân hàng trích lập dự phòng theo mức

độ nghiêm trọng của khả năng xảy ra rủi ro để có nguồn bù đắp tổn thất trong tương

lai mà không làm ảnh hưởng đến vốn của ngân hàng. Căn cứ vào kết quả của hoạt

động đo lường rủi ro, ngân hàng chia danh mục tín dụng thành các nhóm và trích

lập dự phòng rủi ro tín dụng theo tỷ lệ phù hợp với từng nhóm. Theo Ngân hàng



16



Nhà nước Việt Nam (Thông tư số 02/2013/TT-NHNN ban hành ngày 21/01/2013),

quy định về phân loại, mức trích, phương pháp trích lập dự phòng rủi ro và việc sử

dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng đối với các

khoản nợ, bao gồm tài sản có phân loại nợ, các khoản nợ của ngân hàng được chia

thành 5 nhóm như sau:

- Nhóm 1 (Nợ đủ tiêu chuẩn) bao gồm: Các khoản nợ được tổ chức tín dụng,

chi nhánh ngân hàng nước ngồi đánh giá là có khả năng thu hồi đầy đủ cả nợ gốc

và lãi đúng hạn.

- Nhóm 2 (Nợ cần chú ý) bao gồm: Các khoản nợ được tổ chức tín dụng, chi

nhánh ngân hàng nước ngồi đánh giá là có khả năng thu hồi đầy đủ cả nợ gốc và

lãi nhưng có dấu hiệu khách hàng suy giảm khả năng trả nợ. Gồm: nợ quá hạn từ 10

ngày đến 90 ngày và nợ điều chỉnh kỳ hạn trả nợ lần đầu.

- Nhóm 3 (Nợ dưới tiêu chuẩn) bao gồm: Các khoản nợ được tổ chức tín dụng,

chi nhánh ngân hàng nước ngồi đánh giá là khơng có khả năng thu hồi nợ gốc và

lãi khi đến hạn. Các khoản nợ này được tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước

ngồi đánh giá là có khả năng tổn thất. Cụ thể, bao gồm các trường hợp sau:

+Nợ quá hạn từ 91 ngày đến 180 ngày

+Nợ gia hạn nợ lần đầu

+Nợ được miễn hoặc giảm lãi do khách hàng không đủ khả năng trả lãi đầy đủ

theo hợp đồng tín dụng

+Nợ thu hồi đang theo kết luận thanh tra

- Nhóm 4 (Nợ nghi ngờ) bao gồm: Các khoản nợ được tổ chức tín dụng, chi

nhánh ngân hàng nước ngồi đánh giá là có khả năng tổn thất cao.

+Nợ quá hạn từ 181 ngày đến 360 ngày

+Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn dưới 90 ngày theo thời hạn trả

nợ được cơ cấu lại lần đầu

+Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai

- Nhóm 5 (Nợ có khả năng mất vốn) bao gồm: Các khoản nợ được tổ chức

tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đánh giá là khơng còn khả năng thu

hồi, mất vốn.



17



+Nợ q hạn trên 360 ngày

+Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn từ 90 ngày trở lên theo thời hạn

trả nợ được cơ cấu lại lần đầu

+Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai quá hạn theo thời hạn trả nợ được cơ

cấu lại lần thứ hai

+ Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ ba trở lên, kể cả chưa bị quá hạn hoặc

đã quá hạn.

Sau khi tiến hàng phân loại nợ, ngân hàng cần trích lập dự phòng cụ thể với tỷ lệ như sau:



Dự phòng cụ thể

Nhóm 1

Nhóm 2

Nhóm 3

Nhóm 4

Nhóm 5

Mức trích lập dự phòng cụ thể:



Tỷ lệ trích

0%

5%

20%

50%

100%



R=

Trong đó:

- R: Tổng số tiền dự phòng cụ thể phải trích của từng khách hàng



-



: là tổng số tiền dự phòng cụ thể của từng khách hàng từ số dư nợ thứ



nhất đến thứ n.

-



: là số tiền dự phòng cụ thể phải trích của từng khách hàng đối với số dư



nợ gốc của khoản nợ thứ i. Ri được xác định theo công thức:

Ri = (Ai – Ci) x r

Trong đó:

Ai: Số dư nợ gốc thứ i

Ci: giá trị khấu trừ của tài sản đảm bảo, tài sản cho thuê tài chính (sau đây gọi

chung là tài sản đảm bảo) cho khoản nợ thứ i

r: Tỷ lệ trích lập dự phòng cụ thể theo nhóm theo quy định.



18



Trường hợp Ci > Ai thì Ri được tính bằng 0.

Ngồi ra, ngân hàng còn trích lập dự phòng chung với dư nợ từ nhóm 1 đến

nhóm 4 với tỷ lệ 0.75%.

Riêng đối với các khoản nợ khoanh chờ Chính phủ xử lý, tổ chức tín dụng lập

dự phòng cụ thể theo khả năng tài chính của tổ chức tín dụng.

- Nếu số tiền dự phòng cụ thể và dự phòng chung còn lại của quý trước nhỏ

hơn số tiền dự phòng cụ thể và dự phòng chung phải trích của quỹ trích lập, ngân

hàng phải trích bổ sung phần chênh lệch thiếu.

- Nếu số tiền dự phòng cụ thể và dự phòng chung còn lại của quý trước lớn

hơn số tiền dự phòng cụ thể và dự phòng chung phải trích của quỹ trích lập, ngân

hàng phải hồn nhập phần chênh lệch thừa.

Ngân hàng thường sử dụng dự phòng để bù đắp tổn thất và đưa nợ ra theo dõi

ngoại bảng khi:

- Khách hàng là tổ chức, doanh nghiệp bị giải thể, phá sản theo quy định của

pháp luật; cá nhân bị chết, mất tích.

- Nợ nhóm 5 là các khoản nợ được ngân hàng đánh giá là khơng còn khả năng

thu hồi và có thể mất vốn.

Sau khi đã sử dụng dự phòng (sau khi trừ phần thu hồi từ tài sản đảm bảo)

đề bù đắp tổn thất do rủi ro tín dụng, ngân hàng phải nhanh chuyển các khoản

nợ đã được bù đắp bằng dự phòng từ hạch tốn nội bang ra hoạch toán ngoại

bảng để tiếp tục theo dõi và có biện pháp để thu hồi nợ triệt để. Nếu dự phòng

đã trích khơng đủ, ngân hàng phải sử dụng đến Quỹ dự phòng tài chính để bù

đắp phần tổn thất chưa được bù đắp bằng dự phòng (bao gồm cả dự phòng cụ

thể và dự phòng chung).

 Bán tài sản đảm bảo

Tài sản đảm bảo là tài sản mà bên đảm bảo dùng để đảm bảo thực hiện nghĩa

vụ trả nợ đối với ngân hàng. Tài sản đảm bảo có thể là tài sản hiện có hoặc tài sản

hình thành trong tương lai mà pháp luật khơng cấm giao dịch.

- Điều kiện về tài sản đảm bảo:



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×