Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Bằng chứng kiểm toán đặc biệt là tư liệu của chuyên gia

Bằng chứng kiểm toán đặc biệt là tư liệu của chuyên gia

Tải bản đầy đủ - 0trang

Đề án mơn học



GVHD: Nguyễn Thị Lan Anh



dù KTV có sử dụng ý kiến chuyên gia làm bằng chứng kiểm tốn vẫn đòi hỏi KTV

là người chịu trách nhiệm sau cùng về ý kiến nhận xét đối với báo cáo tài chính

được kiểm tốn.

Bằng chứng kiểm tốn đặc biệt là giải trình của giám đốc

Bằng chứng này được sử dụng nhằm mục đích thừa nhận trách nhiệm của ban

giám đốc phải chịu trách nhiệm về sự tin cậy và tính hợp pháp của các thông tin trên

BCTC qua hệ thống kiểm soát nội bộ và hệ thống kế toán.

Nội dung giải trình thường có ba loại cam kết chính:

Loại I: Giải trình chung về trách nhiệm của ban giám đốc (tính độc lập, khách

quan, trung thực) trong việc trình bày đúng đắn báo cáo tài chính.

Loại II: Giải trình từng mặt , yếu tố cấu thành sự trung thực và hợp lý, có 5

loại ; xác nhận về quyền và nghĩa vụ; xác nhận về định giá và phân bổ; xác nhận về

phân loại và trình bày.

Loại III: Giải trình về mối quan hệ của ban giám đốc với KTV.

Hình thức giải trình bao gồm: Các giải trình bằng văn bản được thể hiện dưới hình

thức: Bản giải trình của giám đốc; Thư của KTV liệt kê tất cả những hiểu biết của

mình về các giải trình của giám đốc xác nhận là đúng; Biên bản họp hội đồng quản

trị hoặc báo cáo tài chính đã được giám đốc ký duyệt.

Thu thập và sử dụng giải trình của giám đốc:

Đánh giá giải trình của giám đốc: KTV cần phải xác minh các giải trình của

giám đốc có mâu thuẫn với bằng chứng kiểm tốn khác hay khơng, xem xét độ tin

cậy của bằng chứng kiểm tốn và các giải trình của giám đốc; xác định mức độ hiểu

biết các vấn đề đã được giải trình của người lập giải trình.

Một số hạn chế của bằng chứng giải trình: Giải trình của giám đốc không thể

thay thế các bằng chứng kiểm tốn mà KTV thu thập được; giải trình của giám đốc

có độ tin cậy khơng cao do bằng chứng loại này được cung cấp từ phía DN do đó nó

phụ thuộc vào mức độ liêm khiết và trung thực của giám đốc.

Bằng chứng kiểm toán đặc biệt là tư liệu của KTV nội bộ

Bằng chứng này được sử dụng nhằm mục đích giúp cho KTV xác định lịch

trình, nội dung, phạm vi của các thủ tục kểm toán.

Thực hiện thu thập và sử dụng tư liệu của kiểm toán nội bộ: Liên hệ và phối

hợp công việc với KTV nội bộ; đánh giá và kiểm tra lại tư liệu kiểm toán nội bộ:

Các bằng chứng đã thu thập được là đầy đủ, thích hợp để làm căn cứ vững chắc,

hợp lý để rút ra các kết luận…

Lê Thị Thu- Kiểm tốn 49C



19



Đề án mơn học



GVHD: Nguyễn Thị Lan Anh



Với việc sử dụng tư liệu của KTV nội bộ, KTV phải kiểm sốt được q trình

kiểm tốn của KTV nội bộ và KTV chỉ sử dụng tư liệu của KTV nội bộ đối với

những đơn vị có tổ chức kiểm tốn nội bộ và tổ chức này hoạt động có hiệu quả,

hiệu lực. Khi sử dụng các tư liệu của KTV nội bộ, KTV nhận thấy KTV nội bộ đã

phát hiện ra một số sai sót một khoản mục nào đó thì với tính hồi nghi và sự xét

đốn của mình, KTV sẽ phải kiểm tra kỹ hơn, thực hiện nhiều thủ tục hơn để thu

thập nhiều bằng chứng hơn về khoản mục này.

Bằng chứng kiểm toán đặc biệt là tư liệu của các KTV khác

Mục đích sử dụng của bằng chứng này là khi kiểm tốn báo cáo tài chính một

đơn vị trong đó có gộp cả thơng tin tài chính của đơn vị cấp trên với một hay nhiều

đơn vị cấp dưới và đơn vị kinh tế khác thì KTV sử dụng tư liệu kiểm toán của KTV

khác (là KTV chịu trách nhiệm kiểm tốn báo cáo tài chính và ký báo cáo kiểm toán

của các đơn vị được gộp vào báo cáo tài chính của đơn vị cấp trên) về các thơng tin

tài chính của các đơn vị đó.

Trường hợp KTV kết luận báo cáo tài chính của đơn vị cấp dưới và đơn vị kinh tế

khác có ảnh hưởng khơng trọng yếu thì khơng cần thu thập loại bằng chứng này.

Quá trình thu thập và sử dụng tư liệu của KTV khác:

Thủ tục kiểm toán: Khi lập kế hoạch trong đó có dự kiến sẽ sử dụng tư liệu của

KTV khác tiếp theo đó KTV cần thơng báo cho KTV khác.

Kết luận và lập báo cáo kiểm toán: Khi KTV kết luận và tư liệu của KTV khác

là không dùng được và KTV không thể tiến hành thêm các thủ tục kiểm toán bổ

sung đối với báo cáo tài chính của đơn vị cấp dưới và đơn vị kinh tế khác được

KTV khác kiểm toán, nếu xét thấy có ảnh hưởng trọng yếu đến báo cáo tài chính

được kiểm tốn thì KTV cần phải đưa ra ý kiến bị giới hạn phạm vi kiểm toán.

Trường hợp KTV khác đưa ra hoặc dựa kiến đưa ra báo cáo kiểm tốn sửa đổi thì

KTV cần phải xem xét lại bản chất và mức độ ảnh hưởng của những sửa đổi đó đối

với báo cáo tài chính do KTV kiểm tốn và từ đó có thể phải sửa đổi báo cáo của

mình. KTV cần lưu vào hồ sơ của mình các tài liệu liên quan đến báo cáo tài chính

đã được KTV khác kiểm toán.

Bằng chứng kiểm toán đặc biệt là bằng chứng về các bên liên quan

Mục đích của việc thu thập BC về các bên hữu quan để xác định liệu ban giám

đốc đã xác minh và thuyết minh một cách đầy đủ về các bên hữu quan và nghiệp vụ

Lê Thị Thu- Kiểm tốn 49C



20



Đề án mơn học



GVHD: Nguyễn Thị Lan Anh



với các bên hữu quan chưa bởi vì sự tồn tại của các bên hữu quan và nghiệp vụ giữa

các bên có thể ảnh hưởng tới BCTC.

Thu thập bằng chứng về sự tồn tại và về các nghiệp vụ với các bên hữu quan:

Thu thập bằng chứng về sự tồn tại: KTV cần kiểm tra tính đầy đủ của những

thông tin do ban giám đốc đơn vị cung cấp về việc xác định tên của các bên hữu quan.

Thu thập bằng chứng về các nghiệp vụ: Ở khâu này, KTV cần phải tiến hành

các thủ tục: Xác nhận điều kiện và giá trị nghiệp vụ với các bên hữu quan; kiểm tra

các bằng chứng do các bên hữu quan nắm giữ; xác nhận hay thảo luận thơng tin với

những người có liên quan đến nghiệp vụ như ngân hàng, luật sư, các nhà bảo lãnh

và các nhà mơi giới chứng khốn.

I.3.



Vận dụng kỹ thuật thu thập bằng chứng kiểm toán để thu thập bằng



chứng trong các bước của một cuộc kiểm toán

Giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán: các BCKT thu được trong giai đoạn này

chủ yếu là các thông tin cơ sở về đơn vị được kiểm tốn như: các thơng tin cơ sở về

ngành nghề và thực trạng hoạt động kinh doanh của khách hàng, các thông tin về

nghĩa vụ pháp lý của khách hàng, các thơng tin về hệ thống kiểm sốt nội bộ của

khách hàng.

Các phương pháp, cách thức mà KTV sử dụng chủ yếu ở giai đoạn này là: tìm

kiếm thơng tin về ngành nghề hoạt động kinh doanh của công ty khách hàng, xem xét

kết quả kiểm toán của cuộc kiểm toán trước và hồ sơ kiểm toán, tham quan phân

xưởng, sử dụng tư liệu của chuyên gia, tham khảo điểu lệ của công ty, tham khảo các

biên bản họp cổ đông, giám đốc, hội đồng quản trị của công ty. Ở giai đoạn này KTV

thực hiện thủ tục phân tích nhằm xác định nội dung cơ bản của cuộc kiểm toán.

Giai đoạn thực hiện kiểm toán: trong giai đoạn này thì thu thập bằng chứng

kiểm tốn chính là cơng việc chính và chủ đạo. Ở giai đoạn này, KTV sử dụng tất cả

các kỹ thuật thu thập bằng chứng, vận dụng tất cả các thủ tục kiểm toán để thu thập

những bằng chứng đầy đủ và có hiệu lực, dùng làm cơ sở cho việc đưa ra ý kiến về

tính trung thực và hợp lý của BCTC.

Giai đoạn kết thúc kiểm toán: Trong giai đoạn kết thúc kiểm toán, chủ nhiệm

kiểm toán tập hợp và đưa ra ý kiến về BCTC của đơn vị được kiểm toán. Trừ một số

trường hợp đặc biệt KTV cần thu thập các thông tin sau cuộc kiểm tốn, khi đó

những bằng chứng này được xếp vào các BCKT đặc biệt.

Lê Thị Thu- Kiểm tốn 49C



21



Đề án mơn học



GVHD: Nguyễn Thị Lan Anh



I.4. Hồ sơ kiểm toán với bằng chứng kiểm toán

Hồ sơ kiểm tốn bao gồm các thơng tin cần thiêt liên quan đến cuộc kiểm tốn

đủ làm cơ sở cho việc hình thành ý kiến của KTV và chứng minh rằng cuộc kiểm

toán đã được thực hiện theo đúng yêu cầu.

Một trong những vai trò của hồ sơ kiểm tốn là ghi chép những bằng chứng

thu được và ghi chép kết quả của việc thực hiện các thử nghiệm.

Hồ sơ kiểm toán thường được phân làm hai loại chính là hồ sơ kiểm toán

chung và hồ sơ kiểm toán năm.

Hồ sơ kiểm toán chung: là hồ sơ kiểm toán chứa đựng các thông tin chung về

khách hàng liên quan đến hai hay nhiều cuộc kiểm tốn trong nhiều năm tài chính

của một khách hàng. Hồ sơ kiểm tốn chung do đó thường chứa đựng những thơng

tin mang tính lịch sử hay mang tính liên tục qua các năm tài chinh.

Hồ sơ kiểm toán năm: là hồ sơ kiểm toán chứa đựng các thông tin về khách

hàng chỉ liên quan đến cuộc kiểm tốn một năm tài chính.

Kiểm tốn viên phải đảm bảo tính bí mật, an tồn, khơng được tiết lộ những

thơng tin về đơn vị được kiểm toán.



CHƯƠNG 2

THỰC TRẠNG SỬ DỤNG CÁC KỸ THUẬT THU THẬP

BẰNG CHỨNG KIỂM TOÁN TẠI VIỆT NAM

2.1. Thực trạng sử dụng các kỹ thuật thu thập bằng chứng kiểm toán

2.1.1. Thực trạng sử dụng các kỹ thuật thu thập bằng chứng kiểm tốn nói

chung

Tại các cơng ty kiểm tốn tại Việt Nam, các cơng ty kiểm tốn đều đã đưa ra

được chương trình của một cuộc kiểm tốn nhằm hướng dẫn KTV trong q trình

thực hiện cuộc kiểm toán, giúp KTV thu thập được đầy đủ các bằng chứng kiểm

toán đáng tin cậy làm cơ sở cho ý kiến đưa ra trong báo cáo kiểm toán. Việc thu thập

BCKT được thực hiện trong suốt quá trình kiểm tốn, từ giai đoạn chuần bị kiểm tốn

đến thực hiện và kết thúc kiểm toán. Kiểm toán viên phải thu thập đầy đủ các bằng

chứng kiểm tốn có hiệu lực để làm căn cứ cho việc đưa ra ý kiến của mình.

Trong chương trình kiểm tốn của đơn vị mình, các cơng ty thường chia đối

tượng kiểm tốn theo các giai đoạn của cuộc kiểm toán hoặc các chu trình và hướng



Lê Thị Thu- Kiểm tốn 49C



22



Đề án môn học



GVHD: Nguyễn Thị Lan Anh



dẫn cho KTV loại bằng chứng kiểm toán cần thu thập đối với từng chu trình khác

nhau đối với chu trình cũng như kỹ thuật thu thập các BCKT đó.

Các cơng ty đều xây dựng được một hệ thống hồ sơ kiểm toán tương đối hồn

thiện dựa trên kinh nghiệm của bản thân các cơng ty và sự hợp tác của các chuyên

gia trong lĩnh vực kiểm tốn. Hồ sơ được lập với trình tự logic đảm bảo giảm thiểu

rủi ro kiểm toán đến mức thấp nhất. Ứng với mỗi phần hành kiểm toán là các thủ

tục, kỹ thuật để thu thập BCKT cần thực hiện tương đối đầy đủ và chặt chẽ, đảm

bảo chất lượng thành cơng của cuộc kiểm tốn.

Các kiểm tốn viên về cơ bản khi thực hiện kiểm toán đã tuân thủ đúng trình

tự thủ tục kiểm tốn đề ra như chương trình kiểm tốn hướng dẫn. Kiểm tốn viên

đã nắm vững được các kỹ thuật thu thập BCKT và vận dụng các kỹ thuật đó vào

thực tế một cách phù hợp với từng phần hành. Hầu hết các kỹ thuật thu thập BCKT

báo cáo tài chính đều đã được các KTV độc lập áp dụng, đưa vào phục vụ cuộc

kiểm tốn để tìm ra những sai phạm của thơng tin trình bày trên BCTC của khách

hàng.

2.1.2. Thực trạng sử dụng các kỹ thuật thu thập bằng chứng tại một số

công ty kiểm toán

Thực trạng vận dụng các kỹ thuật thu thập BCKT trong kiểm tốn BCTC tại

các cơng ty có vốn đầu tư nước ngồi

Các cơng ty kiểm tốn có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam áp dụng các kỹ

thuật thu thập bằng chứng chủ yếu sau: Kiểm kê, Tính tốn, Quan sát, Phỏng vấn,

Lấy xác nhận, Phân tích và kiểm tra tài liệu. Các kỹ thuật này được KTV thực hiện

dựa vào hướng dẫn thực hiện sẵn có của cơng ty và hầu hết là áp dụng các chuẩn

mực kiểm toán, các hướng dẫn này nằm trong các chương trình kiểm tốn được

thiết lập sẵn. Chương trình kiểm toán hướng dẫn KTV từng bước thu thập các

BCKT đầy đủ và có hiệu lực trong từng giai đoạn của cuộc kiểm tốn. Các KTV

trong q trình thực hiện kiểm tốn phải tn thủ đúng theo chương trình kiểm toán

đã thiết lập sẵn. Cụ thể ở các giai đoạn của cuộc kiểm toán như sau:

Giai đoạn chuẩn bị kiểm toán: Các kỹ thuật thu thập BCKT được áp dụng là

phỏng vấn, quan sát và phân tích. Kiểm tốn viên thục hiện phỏng vấn khách hàng

Lê Thị Thu- Kiểm toán 49C



23



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Bằng chứng kiểm toán đặc biệt là tư liệu của chuyên gia

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×