Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Biều 2: Thư xác nhận dạng mở

Biều 2: Thư xác nhận dạng mở

Tải bản đầy đủ - 0trang

Đề án môn học



GVHD: Nguyễn Thị Lan Anh



Địa chỉ………………….

Fax……………………..

Chúng tôi xác nhận sơ dư trên sổ sách kế tốn ngày… tháng… năm… của chúng tôi là:

Nợ chúng tôi phải thu:………..(Bằng chữ:……………)

Nợ chúng tôi phải trả:………..(Bằng chữ:……………)

Ý kiến khác:…………………..

Giám đốc hoặc người đại diện (khách nợ)

(Họ tên, chữ ký, đóng dấu)

(Nguồn: Thư yêu cầu xác nhận số dư của AASC )

Ngoài xác nhận qua thư, đơi khi KTV còn sử dụng xác nhận qua đối thoại, tuy

nhiên những xác nhận này cũng cần được lưu lại trong giấy tờ làm việc.

Nếu KTV không nhận được phản hồi của thư xác nhận lần đầu, lúc đó KTV sẽ

tiến hành gửi thư xác nhận lần hai. Nếu tiếp tục không nhận được KTV sẽ tiến hành

các thủ tục kiểm toán bổ sung và thay thế nhằm thu thập BCKT thích hợp.

Khi nhận được kết quả xác nhận, nếu có sự chênh lệch lớn giữa giá trị trên thư

xác nhận và giá trị trên sổ kế tốn thì KTV cần phải xem xét để tìm ra ngun nhân

của chênh lệch đó. Nếu tìm ra nguyên nhân của chênh lệch đó, KTV có thể yêu cầu

đơn vị được kiểm toán điều chỉnh theo đề nghị của KTV. Sau đó, tùy vào việc Ban

giám đốc có thực hiện điều chỉnh theo yêu cầu của KTV hay không để KTV đưa ra

ý kiến trên báo cáo kiểm tốn. Cũng có thể KTV khơng tìm ra được ngun nhân

của chênh lệch, trong trường hợp này, KTV phải tiến hành đánh giá ảnh hưởng của

chênh lệch để đưa ra ý kiến phù hợp.

Đối với những thư xác nhận không nhận được thư trả lời, KTV phải áp dụng

các thủ tục kiêm toán thay thế.

I.2.2.3. Kỹ thuật xác minh tài liệu

Xác minh tài liệu là quá trình xem xét, kiểm tra, đối chiếu các chứng từ, tài

liệu, sổ sách kế tốn liên quan có sẵn trong đơn vị để chứng minh thơng tin trình

bày trên BCTC là đầy đủ và trung thực. Có hai thủ tục dùng để xác minh tài liệu

bao gồm:

Thứ nhất là kiểm tra chứng từ: là so sánh giữa số dư hoặc số phát sinh của

các nghiệp vụ với chứng từ. Q trình này có thể thực hiện theo hai cách với mục



Lê Thị Thu- Kiểm tốn 49C



11



Đề án mơn học



GVHD: Nguyễn Thị Lan Anh



tiêu hướng tới khác nhau:

Từ chứng từ gốc lên sổ sách: khi muốn chứng minh rằng nghiệp vụ phát sinh

đã được ghi đầy đủ. Kiểm toán viên kiểm tra về thời gian ghi chép về nghiệp vụ

kinh tế nhằm thu thập bằng chứng cho thấy nghiệp vụ phát sinh có được ghi chép,

phản ánh đầy đủ trong các sổ kế tốn khơng, có được ghi chép đúng kỳ hay khơng

và KTV thường tập trung kiểm tra các chứng từ phát sinh vào thời điểm cuối năm

của các tài khoản doanh thu, thu nhập, chi phí mua hàng, … Đây là thời điểm nhạy

cảm, dễ có nguy cơ xảy ra sai sót nhất.

Từ sổ sách kiểm tra ngược về chứng từ gốc: khi muốn kiểm tra tính hiện hữu

của nghiệp vụ ghi sổ. KTV sẽ tiến hành lựa chọn các nghiệp vụ ghi trong sổ chi tiết

các tài khoản rồi kiểm tra ngược lại chứng từ gốc của các nghiệp vụ đó. Các nghiệp

vụ sẽ được lựa chọn trên nguyên tắc các khoản phát sinh lớn hoặc bất thường. Khi

thực hiện việc kiểm tra chứng từ gốc, KTV cần chú ý xem xét tính hợp lý, hợp lệ

của chúng: các chữ ký phê duyệt có đầy đủ và có hơp lệ hay khơng, có được áp

dụng theo các biểu mẫu của Bộ Tài Chính quy định hay khơng,..

Thứ hai là kiểm tra kết luận: từ một kết luận có trước, KTV thu thập tài liệu

làm cơ sở cho việc kết luận mà cần khẳng định. Theo cách này, KTV cần xác định

phạm vi kiểm tra để tìm được BCKT phù hợp với kết luận đã có trước.

Phương pháp này có ưu điểm là cho ta những bằng chứng là tài liệu chứng

minh tương đối thuận tiện vì nó thường có sẵn, chi phí thu thập bằng chứng cũng

thấp hơn các phương pháp khác. BCKT thu thập được từ kỹ thuật này được gọi là

kiểu mẫu tài liệu chứng minh, đôi khi các kiểu mẫu này lại là bằng chứng hợp lý

duy nhất nếu KTV khơng tìm được các loại bằng chứng khác.

Tuy nhiên kỹ thuật này cũng có những hạn chế nhất định. KTV không thể tiến

hành kiểm tra, đối chiếu tất cả các sổ sách, chứng từ trong đơn vị đuợc kiểm tốn vì

số lượng chứng từ sổ sách là rất lớn. Hơn nữa việc kiểm tra tất cả các tài liệu sẽ làm

mất thời gian, tốn kém chi phí mà khơng thật sự cần thiết, ảnh hưởng tới tính hiệu

quả kinh tế đối với cơng ty kiểm tốn. Do vậy, khi kiểm tra, xác minh tài liệu KTV

phải tiến hành chọn mẫu kiểm toán và thực hiện xác minh tài liệu đối với các mẫu

được chọn. Mặt khác, độ tin cậy của BCKT phụ thuộc vào nguồn gốc của BCKT

(hay sự độc lập của BCKT so với đơn vị được kiểm tốn), các tài liệu cung tấp có

Lê Thị Thu- Kiểm tốn 49C



12



Đề án mơn học



GVHD: Nguyễn Thị Lan Anh



thể đã bị sửa chữa, giả mạo làm mất tính khách quan nên cần có sự kiểm tra, xác

minh bằng các phương pháp kỹ thuật khác.

I.2.2.4. Kỹ thuật quan sát

Quan sát là kỹ thuật theo dõi một sự vật, hiện tượng, một chu trình hoặc một

thủ tục do đơn vị được kiểm toán thực hiện. Việc quan sát được thực hiện bởi các

giác quan của KTV nhằm đánh giá một phạm vi lớn các sự việc. Ví dụ: KTV quan

sát việc kiểm kê thực tế hoặc quan sát các thủ tục kiểm sốt do đơn vị được kiểm

tốn tiến hành; KTV có thể đi thị sát đơn vị được kiểm toán để có ấn tượng chung

về máy móc, thiết bị của đơn vị, quan sát tính cũ, mới và vận hành của máy móc;

Quan sát các cá nhân thực hiện nhiệm vụ để đánh giá chung về tình hình hoạt động

của đơn vị... Khi tiến hành kỹ thuật quan sát để thu thập thông tin, KTV phải thường

xuyên ghi chép các thông tin quan sát được cùng với những nhận xét, đánh giá.

Kỹ thuật quan sát rất hữu ích trong nhiều phần hành của cuộc kiểm toán,

BCKT thu được đáng tin cậy, tuy nhiên bản thân BCKT thu được từ kỹ thuật này

chưa thể hiện tính đầy đủ nên cần kết hợp với các kỹ thuật khác. Kỹ thuật này chỉ

cung cấp các BC về phương pháp thực thi công việc tại thời điểm quan sát, khơng

chắc chắn có được thực hiện tại các thời điểm khác hay khơng. Mặt khác tính hiệu

quả của việc quan sát còn phụ thuộc vào yếu tố chủ quan đó là trình độ và kinh

nghiệm của kiểm toán viên.

I.2.2.5. Kỹ thuật phỏng vấn

Phỏng vấn là quá trình KTV thu thập thơng tin bằng văn bản hoặc bằng lời nói

qua việc thầm vấn những người hiểu biết về vấn đề mà KTV quan tâm. Một cuộc

phỏng vấn phải được chuẩn bị tốt và được thực hiện qua ba giai đoạn: lập kế hoạch,

thực hiện và kết thúc với những cơng việc chính như sau:

Lập kế hoạch cho cuộc

phỏng vấn

Đặt câu hỏi

Nghe câu trả lời

Đánh giá câu trả lời



Lê Thị Thu- Kiểm tốn 49C



13



Đề án mơn học



GVHD: Nguyễn Thị Lan Anh



Hỏi thêm câu hỏi

Tóm tắt những điểm chính

Ghi chép vào tài liệu làm việc

Sơ đồ 01: Các công việc chính của cuộc phỏng vấn

Cụ thể qua các giai đoạn thì cuộc phỏng vấn được thực hiện như sau:

Giai đoạn lập kế hoạch: KTV phải xác định mục đích, nội dung, đối tượng

phỏng vấn, thời gian, địa điểm phỏng vấn. KTV chuẩn bị câu hỏi cho quá trình

phỏng vấn để phù hợp với mục tiêu kiểm toán nhằm thu được BCKT có chất lượng

cao nhất, tránh sự lãng phí thời gian cho việc phỏng vấn.

Giai đoạn thực hiện phỏng vấn: KTV giới thiệu lý do cuộc phỏng vấn, trao đồi

về những trọng điểm đã xác định. Trong giai đoạn này, kỹ thuật nêu câu hỏi là hết

sức quan trọng. KTV thường dùng hai loại câu hỏi cơ bản đó là “câu hỏi đóng và

câu hỏi mở”.

Câu hỏi mở giúp KTV thu được câu trả lời chi tiết và đầy đủ hơn, được sử

dụng khi KTV muốn thu thập thêm thơng tin.

Câu hỏi đóng giới hạn câu trả lời của người được phỏng vấn, được sử dụgn khi

KTV muốn xác nhận một vấn đề đã nghe hay biết.

Giai đoạn kết thúc phỏng vấn: KTV cần chú ý đến trình độ và tính khách quan

của người được phỏng vấn để rút ra kết luận đúng đắn trên cơ sở bằng chứng thu

được phục vụ cho mục đích kiểm tốn. KTV thường kết luận từng phần và cuối

cùng là tóm tắt các điểm chính.

Ưu điểm của kỹ thuật này là giúp KTV thu thập được những BCKT chưa có

nhằm thu thập những thông tin phản hồi đề củng cố luận cứ của KTV. Tuy nhiên,

nhược điểm của kỹ thuật này là BCKT có độ tin cậy khơng cao, mang tính chủ quan

vì đối tượng phỏng vấn chủ yếu là người trong đơn vị, chất lượng của BCKT cũng

phụ thuộc vào trình độ và sự hiểu biết của người được phỏng vấn. Do đó, BCKT thu

được nên được dùng để củng cố cho các bằng chứng khác, hay để thu thập thông tin

phản hồi. BCKT thu được từ kỹ thuật này gọi là kiểu mẫu phỏng vấn.

Lê Thị Thu- Kiểm toán 49C



14



Đề án mơn học



GVHD: Nguyễn Thị Lan Anh



I.2.2.6. Kỹ thuật tính tốn

Tính tốn là q trình kiểm tra chính xác về mặt toán học của số liệu trên

chứng từ, sổ kế toán, báo cáo tài chính và các tài liệu liên quan khác hay việc thực

hiện các tính tốn độc lập của KTV. Phương pháp này được các KTV sử dụng khá

phổ biến trong các cuộc kiểm toán nhằm thu thập BCKT về tính chính xác số học

của các khoản mục trên BCTC khi thực hiện kiểm tra chi tiết số dư của các khoản

mục. Thông qua việc cộng dồn số dư, số phát sinh theo tháng, quý của từng tài

khoản theo đối ứng bên Nợ, bên Có để xác định số dư cuối kỳ của các tài khoản

được kiểm tra. KTV còn thu thập bằng chứng về tính chính xác của các phép tính

trên hóa đơn, phiếu nhập, xuất kho,… các số liệu sau khi dùng kỹ thuật tính tốn lại

sẽ được đối chiếu với số liệu trên các sổ chi tiết, sổ tổng hợp. Nếu có sự chênh lệch,

KTV cần phỏng vấn kế toán trưởng, kế toán phụ trách từng phần hành đề tìm ra

ngun nhân chênh lệnh và có các hướng giải quyết.

Kỹ thuật này chỉ quan tâm đến tính chính xác thuần túy về mặt số học, khơng

chú ý đến sự phù hợp của phương pháp tính được áp dụng. Do đó kỹ thuật này

thường sử dụng kết hợp với các kỹ thuật khác.

Ưu điểm của kỹ thuật này là thu được BCKT có kỹ thuật cao về mặt số học,

song nó còn có nhiều các phép tính và phân bổ đôi khi khá phức tạp, tốn thời gian,

đặc biệt là các cuộc kiểm tốn có quy mơ lớn, loại hình kinh doanh đa dạng, luồng

tiền ra vào lớn… BCKT thu được từ kỹ thuật này gọi là kiều mẫu chính xác số học.

I.2.2.7. Kỹ thuật phân tích

Phân tích là q trình so sánh, đối chiếu, đanh giá các mối quan hệ để xác định

tính hợp lý của các số dư trên tài khoản. Các mối quan hệ bao gồm quan hệ giữa các

thơng tin tài chính với nhau và giữa các thơng tin tài chính với thơng tin phi tài

chính. Do đó kỹ thuật phân tích gồm ba nội dung: dự đoán, do sánh và đánh giá.

Dự đoán: Là việc ước đoán về số dư tài khoản, giá trị tỷ suất hoặc xu hướng…

So sánh: Là việc đối chiếu ước đoán trên với báo cáo

Đánh giá: Là việc sử dụng các phương pháp chuyên môn và kỹ thuật khác

(phỏng vấn, quan sát) để phân tích và kết luận khi so sánh.

Kỹ thuật phân tích được sử dụng để thu thập bằng chứng có hiệu lực gồm ba

loại: kiểm tra tính hợp lý, phân tích xu hướng và phân tích tỷ suất.

Kiểm tra tính hợp lý thường bao gồm những so sánh cơ bản như:

So sánh giữa số liệu thực tế với số liệu kế hoạch, dự toán,…Từ kết quả so

Lê Thị Thu- Kiểm toán 49C



15



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Biều 2: Thư xác nhận dạng mở

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×