Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Các biện pháp đã tiến hành để giải quyết vấn đề:

Các biện pháp đã tiến hành để giải quyết vấn đề:

Tải bản đầy đủ - 0trang

Trong đề tài này tơi khơng thể trình bày được hết phần thực nghiệm và đánh

giá kết quả thực nghiệm của tôi trong năm qua, chỉ xin mô tả một vài bài thực

nghiệm ở chương trình tốn 2 để chứng minh phần lý luận đã nêu .

Chẳng hạn “ Một giàn có 46 quả gấc” bài 4/65 SHD. Hay “ Bạn Tú cân nặng

32 kg...” 5/86 SHD vv.... Mỗi học sinh trong nhóm cần đọc nhẩm nhiều lần đề

tốn đã cho.

Cần dùng bút chì gạch chân hoặc ghi vào vở nháp những điều kiện đã biết và cái

phải tìm.

Ví dụ: Bài toán: Mảnh vải màu xanh dài 34 dm, mảnh vải màu tím ngắn hơn mảnh

vải màu xanh 15 dm. Hỏi mảnh vải màu tím dài bao nhiêu dm?

+ Học sinh đọc đề, tìm hiểu và có thể gạch chân như trên. Sau đó học sinh có

thể nêu được (có thể cho các em tự hỏi đáp nhau)

* Bài toán cho biết gì? (Mảnh vải xanh: 34dm, mảnh vải tím ngắn hơn mảnh

vải xanh: 15dm).

* Bài tốn hỏi gì? (Mảnh vải tím dài bao nhiêu dm?).

+ Cho học sinh phân tích ngược:

* Bài tốn hỏi gì? (Mảnh vải tím dài bao nhiêu dm?)

* Bài tốn cho biết gì? (Mảnh vải xanh: 34dm, mảnh vải tím ngắn hơn mảnh

vải xanh: 15dm)

* Tìm tòi cách giải tốn :

- Chọn phép tính giải thích hợp

-Sau khi các em đã xác định được đề tốn như cái gì đã cho và cái gì phải

tìm cần giúp học sinh chọn phép tính thích hợp: Chọn “ PHÉP CỘNG” nếu bài toán

yêu cầu: “ Nhiều hơn, nặng hơn, cao hơn hoặc “ gộp”, “ Tất cả”. Chọn tính trừ nếu

đề tốn ra là “ bớt” hoặc “tìm phần còn lại” “ ngắn hơn” hay là “ ít hơn” “ trong

đó”

- Lập kế hoạch giải tốn nhằm xác định trình tự giải quyết, thực hiện phép

tính. Từ tóm tắt đề tốn, một lần nữa cho học sinh nắm lại mối liên hệ giữa đề toán

đã cho và cái cần tìm.

Trong lớp GV phải quan sát, nếu có một nhóm đưa thẻ cứu trợ thì ta đến

nhóm đó để hướng dẫn . Trường hợp nếu có nhiều nhóm cùng đưa thẻ cứu trợ thì

giáo viên nên cho các em cùng quay mặt lên bảng để giáo viên hướng dẫn.

Ta có thể hướng dẫn cho học sinh suy luận từ câu hỏi bài toán đến dữ kiện đã cho.

+ Bài tốn hỏi gì? (Tấm vải tím dài mấy đề xi mét).

+ Trong đó dữ kiện nào đã biết? (Tấm vải tím ngắn hơn tấm vải xanh

15dm)

Trang 4



+ Mà tấm vải xanh đề toán đã cho biết là bao nhiêu dm? (Vải xanh dài 34

dm)

+ Vậy muốn biết tấm vải tím dài bao nhiêu dm ta thực hiện phép tính gì?

(Thực hiện phép tính trừ 34 trừ đi 15).

+ Vậy kết quả cuối cùng có phải là đáp số của bài tốn khơng? (Đó là đáp số

của bài tốn).

* Thực hiện cách giải quyết bài tốn:

- Q trình tìm tòi cách giải quyết, học sinh tự trình bày bài giải của mình có

thể làm vở ơ li, vở nháp.

- Hoặc tạo sự hỗ trợ, giúp đỡ lẫn nhau giữa các đối tượng học sinh trong

nhóm, học sinh trong nhóm trao đổi ý kiến về cách làm bài hoặc giải bài tốn.

- Giáo viên có thể lựa chọn nội dung cho thật tinh giản, xác định rõ các kiến

thức cơ bản, các thuật ngữ quan trọng trong bài, lời giải thích phải ngắn, gọn, nhấn

mạnh các chỗ cần thiết, minh họa bằng nhiều ví dụ quen thuộc (gợi ý một số đặc

điểm riêng của đơn vị. Đối với bài toán này đơn vị của nó là dm).

- Sau khi đã hướng dẫn, giáo viên cho các nhóm làm bài vào vở. Bài tốn

này có một phép tính nhưng có thể có nhiều lời giải khác nhau mà vẫn phù hợp

.Việc cho học sinh tự tìm nhiều lời giải khác nhau có tác dụng lớn trong việc gây

hứng thú cho học sinh, thúc đẩy các cố gắng tìm tòi, sáng tạo và rèn luyện óc suy

nghĩ linh hoạt, độc lập.

Học sinh có thể nêu lời giải như sau:

Số dm mảnh vải tím dài là (Mảnh vải tím dài là /Chiều dài mảnh vải

tím là /Độ dài mảnh vải tím là ...)

34 – 15 = 19 (dm).

Đáp số: 19 dm.

* Kiểm tra cách giải bài tốn:

- Việc kiểm tra này nhằm phân tích cách giải đúng hay sai, sai chỗ nào để sửa

chữa. Giáo viên hướng dẫn học sinh kiểm tra lại trình tự các bước giải thử lại phép

tính đã thực hiện trong bài giải ... Từ đó giúp các em có thói quen kiểm tra đánh

giá, sửa bài.

- Với kết quả bài tốn trên có thể hướng dẫn học sinh kiểm tra xem mảnh vải

tím có phải là 19 dm khơng?

- Hay khi cộng 19 dm của mảnh vải tím với 15 dm chiều dài tấm vải xanh dài

hơn có bằng chiều dài tấm vải xanh là 34 dm không? Ta xét tính hợp lý của đáp số.

* Tóm lại:



Trang 5



Đối với mỗi bài toán, học sinh cần đọc thật kĩ đề bài, tìm hiểu đặc điểm của

bài tốn: các dữ kiện đã có và vấn đề cần tìm. Sau đó tóm tắt đề tốn bằng sơ đồ

minh họa hoặc bằng lời. Rồi tự suy nghĩ hoặc thảo luận nhóm, tổ để tìm ra hướng

giải quyết bài tốn, lựa chọn cách giải hay nhất, phù hợp nhất.

- Khi giải xong cần kiểm tra thử lại kết quả có đúng và phù hợp khơng?

- Khuyến khích học sinh tự đánh giá bài làm của mình, của bạn để khắc sâu

kiến thức.

- Đối với bài tốn khó học sinh cần phải đọc đi, đọc lại nhiều lần, cố gắng

suy nghĩ tìm ra cách giải cho phù hợp.

c) Rèn cho học sinh những thói quen cần thiết trong q trình h ọc t ập

mơn Tốn :

- Hình thành nề nếp học tập: Mọi học sinh phải độc lập suy nghĩ, làm việc

tích cực. Có thói quen tự giác, chủ động khi làm bài, khơng quay cóp bài bạn,

khơng đưa thẻ cứu trợ khi chưa suy nghĩ và chưa đọc đề toán. Học sinh biết huy

động các kiến thức của mình tham gia tích cực vào việc giải quyết nội dung, yêu

cầu bài toán.

- Rèn cho học sinh tính cẩn thận chu đáo trong học tập như : Trước khi làm

bài phải nháp. Hay không hiểu thì nên hỏi nhóm trưởng hoặc các bạn khác trong

nhóm.

-Khi thấy đúng mới chép vào vở.

- Yêu cầu học sinh ở từng nhóm phải viết chữ và số trong phép tính rõ ràng.

Trình bày bài giải tốn có lời văn đúng, đẹp.

- Diễn đạt lời văn phải chính xác, cụ thể. Tạo cho học sinh tính mạnh dạn để

trao đổi ý kiến trong nhóm hoặc tồn lớp vì sự hổ trợ giữa các học sinh trong

nhóm, lớp, góp phần làm các em mạnh dạn hơn hiểu bài sâu hơn, giúp học sinh tự

tin hơn vào khả năng của bản thân , tự rút kinh nghiệm về cách học của mình .

- Sau khi làm xong bài tập cho các em tự kiểm tra, đánh giá và sửa chữa bài

làm của mình trước khi nộp bài.

- Cần rèn ý chí vượt khó cho các em khi làm bài. Khi giải tốn gặp các bài

tốn khó, giáo viên cần giúp các em có sự tự tin, khơng nên nản lòng. Khuyến

khích các em tự lực làm bài, tìm tòi hướng giải quyết để đạt được kết quả cao trong

học tập.

d) Các biện pháp khác giúp học sinh giải tốn có l ời văn:

- Dạy học theo mơ hình mới này đòi hỏi người giáo viên khi chia nhóm giáo

viên chia đủ các đối tượng giỏi, khá, trung bình, yếu. Khi học tập, làm việc theo

nhóm, học sinh thường mạnh dạn trao đổi ý kiến, khuyến khích học sinh tìm tòi,

sáng tạo, biết đánh giá ý kiến của bạn. Chẳng hạn một bài tốn khó, nếu như nhiều

Trang 6



em cùng bàn bạc, phân tích thì nhất định sẽ tìm cách giải hay. Nhờ như vậy các em

tự tin hơn trong khi làm bài.

- Giáo viên cần động viên, tuyên dương kịp thời khi đến từng nhóm kiểm tra

để học sinh có sự hứng thú trong học tập. Nhất là các học sinh Trung bình, yếu.

Giáo viên phải theo dõi nhận xét, bổ sung khuyến khích, khen các em khi các em

trả lời đúng.

- Việc tổ chức hướng dẫn cho học sinh làm bài tập là việc làm rất quan trọng,

nên mỗi câu hỏi của giáo viên đều phải có nội dung chính xác phù hợp với mục

đích yêu cầu, nội dung bài học, câu hỏi rõ ràng. Cùng nội dung có thể đặt câu hỏi

dưới những hình thức khác nhau để giúp học sinh nắm vững kiến thức và linh hoạt

trong suy nghĩ.

- Tổ chức học sinh khá giỏi trong nhóm thường xuyên giúp đỡ các bạn yếu,

kém, nếu các bạn có yêu cầu về phương pháp vận dụng kiến thức.

- Tổ chức kèm cặp, phụ đạo trong điều kiện thời gian qui định một số tiết

tăng cường trong ngày. Trong các buổi này chủ yếu là việc lĩnh hội các kiến thức

giảng dạy trên lớp, nếu cần ôn tập , củng cố kiến thức để các em nắm vững chắc

hơn .

- Phân tích cụ thể các sai lầm và hướng dẫn phương pháp giải để các em nắm

vững.

- Cải tiến giảng dạy sao cho sát đối tượng, nói chuỵên riêng và giải thích

thêm cho các học sinh trong từng nhóm để học sinh lĩnh hội được nội dung cơ bản

của bài học.

- Cần hướng dẫn cụ thể khi kiểm tra từng nhóm, Giáo viên u cầu học sinh

trình bày cách giải hay câu trả lời bằng cách diễn đạt của mình, không nhất thiết

phải lắp nguyên văn theo sách.

- Củng cố kiến thức dưới các hình thức tổ chức trò chơi, tạo sự vui vẻ, hứng

thú trong học tập và khắc sâu kiến thức đã học.

* Bên cạnh đó người giáo viên cần phải :

+ Người giáo viên rèn thường xuyên kĩ năng nghe, nói, đọc, viết trong mơn Tiếng

Việt. Luyện kĩ năng hỏi - đáp để các em có vốn từ lưu lốt hơn.

+ Người giáo viên kiên trì uốn nắn học sinh trong mọi lúc trong giờ học.

+ Nghiên cứu kĩ giáo án, lập kế hoạch cụ thể cho từng tiết. Trong tiết dạy phải kiên

trì giúp đỡ từng em, biết cách gợi mở và nâng cao tri thức mỗi em.

+ Người giáo viên lên lớp phải có tác phong nhẹ nhàng, giọng nói, lời giảng rõ ràng

dễ hiểu cũng giúp cho học sinh tiếp thu nhanh và làm bài tốt hơn.



Trang 7



e) Hiệu quả của giải pháp:

- Qua một thời gian từ đầu năm đến nay áp dụng giải pháp mới lớp 2D do

tôi làm chủ nhiệm đạt kết quả rất cao, đặc biệt là mơn tốn có 24/32 học sinh hồn

thành tốt u cầu học tập mơn học; 8/32 em học sinh hoàn thành yêu cầu học tập

mơn học; khơng có học sinh chưa hồn thành.

- 100% số học sinh đạt bài kiểm tra trên điểm 5.

- Số học sinh đạt điểm 9, 10 ở mơn Tốn là 17 em đạt 53% đó cũng nhờ một

phần lớn các em nắm bắt được kĩ năng giải Tốn có lời văn do giáo viên khắc sâu

được kiến thức bài dạy trên lớp.

III. PHẦN NỘI DUNG:

1. Bài học kinh nghiệm :

- Để giúp học sinh lớp 2 giải tốn có lời văn đạt kết quả tốt thì chúng ta cần:

+ Hướng dẫn học sinh trong từng nhóm trước khi làm tốn phai đọc đề bài

và tìm hiểu đề bài thật kĩ. Đây là bước quan trọng giúp các em tìm ra hướng giải

quyết bài toán.

+ Lưu ý học sinh trung bình, yếu cần xác định rõ đâu là dữ kiện đã có và vấn

đề cần tìm của đề tốn để tất cả các đối tượng đều giải được toán. Nếu như các em

đó nêu lời giải đúng mà khi tính đến phép tính giả sử là phép tính nhân hay chia mà

các em khơng thuộc thì giáo viên cũng có thể cho các em mở bảng nhân hay

chia nhìn theo mà ghi kết quả vào. Chính vấn đề này từng bước dìu dắt những em

quá yếu vươn lên trong học tập.

+ Chính cách dạy học theo kiểu mới này, việc học theo nhóm các em có điều

kiện phát huy hết khả năng của mình trong việc bàn bạc trao đổi tìm ra cách giải

quyết để đi đến kết quả.

+ Giáo viên theo dõi đến từng nhóm chấm bài thường xuyên để nắm bắt

phần sai sót của học sinh uốn nắn sửa chữa từng bài, từng lời văn trong bài làm của

các em một cách kịp thời.

+ Giáo viên không ngừng đầu tư, nghiên cứu về đổi mới trong phương pháp

dạy học.

+ Trong các giờ học khi khởi động cần áp dụng những trò chơi để khắc sâu

kiến thức cho các em, đồng thời làm cho các em hăng say trong học tập, gây hứng

thú trong giờ học chính vì điều đó sẽ đem lại kết quả cao.

+ Đến từng nhóm kiểm tra động viên, tuyên dương khen ngợi kịp thời để

các em phấn khởi, tự tin trong học tập.

+ Tạo khơng khí lớp học vui vẻ.

+ Khảo sát kiến thức từng đợt, từng tháng .



Trang 8



+ Quan tâm đến tất cả các đối tượng học sinh trung bình, yếu. Khi chấm bài

phát hiện những em hỏng kiến thức, ghi tên vào sổ riêng của giáo viên để tiếp tục

phụ đạo.

+ Kết hợp với gia đình: Thường xuyên nhắc nhở học sinh về nhà làm phần

hoạt động ứng dụng để từ đó phụ huynh quan tâm hơn đến việc học của con em

mình, học sinh có kiến thức sâu hơn, chắc hơn.

+ Thường xuyên phối hợp với phụ huynh trong việc giáo dục học sinh.

2. Ý nghĩa của giải pháp

Qua việc áp dụng, thực hiện sáng kiến tôi thấy mang lại những ý nghĩa sau:

- Việc thực hiện theo sáng kiến này giúp các em học sinh lớp 2D giải toán có

lời văn nhanh và chính xác.

- Sáng kiến đã được anh chị đồng nghiệp trong khối khảng định là sáng kiến

hay và áp dụng có hiệu quả đối với các em học sinh lớp 2

- Riêng với bản thân tôi, tôi nhận thấy rằng đề tài cần được tiếp tục đầu tư

thực hiện ở trường trong những năm tới. Tất nhiên, mỗi năm sẽ có bổ sung thêm

những biện pháp mới để nâng cao tính hiệu quả của đề tài và để khẳng định giá trị

thiết thực của đề tài.

- Khả năng ứng dụng của giải pháp: Giải pháp này có thể áp dụng tốt ở tất

các trường tiểu học trong huyện.

- Những kiến nghị, đề xuất: Để việc làm trên đạt hiệu quả cao khi áp dụng

thì điều cần thiết và không thể xem nhẹ là giáo viên cho các em trong nhóm thực

hiện tốt phần hoạt động cơ bản từ đó mới phát triển được tư duy suy luận của các

em để phần hoạt động các em mới nắm chắc bài và làm bài tốt hơn. Để rèn kĩ năng

giải tốn có lời văn ở lớp ở 2 thì trong q trình giảng dạy giải tốn nên kết hợp và

lựa chọn các phương pháp dạy tốt, cần đặt ra các tình huống để các em suy nghĩ,

tìm tòi cách giải. Một điều không kém phần quan trọng nữa là người giáo viên khi

đứng lớp phải có lòng tận tình, say mê với nghề nghiệp, làm hết lương tâm, trách

nhiệm của người thầy. Qua một tiết dạy Toán trên lớp phải nắm bắt được những cái

gì học sinh làm được và những điều gì học sinh còn vướng mắc, khó khăn để từ đó

người giáo viên nghiên cứu và tìm ra được hướng giải quyết tốt hơn cho tiết học

Tốn sau.

Thạnh Đơng A, ngày 28 tháng 9 năm 2017

Người viết



Nguyễn Thị Thùy Liên



Trang 9



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Các biện pháp đã tiến hành để giải quyết vấn đề:

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×