Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
MỘT SỐ NỘI DUNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CHO VAY TIÊU DÙNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

MỘT SỐ NỘI DUNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CHO VAY TIÊU DÙNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

Tải bản đầy đủ - 0trang

4



1.1.Tổng quan về cho vay tiêu dùng của Ngân hàng Thương mại

1.1.1.Khái niệm về cho vay tiêu dùng

Ngân hàng thương mại là một trong những tổ chức trung gian tài chính quan

trọng nhất của nền kinh tế, thực hiện chức năng chủ yếu là tạo vốn và cung ứng vốn

cho nền kinh tế. Hoạt động cơ bản của ngân hàng là huy động vốn, cho vay và đầu

tư, cung cấp các sản phẩm, dịch vụ ngân hàng.

Cho vay là một trong những hoạt động truyền thống của ngân hàng. Cho vay

có thể được phân loại theo nhiều tiêu thức khác nhau. Căn cứ vào phương thức

cho vay, gồm có: cho vay trực tiếp từng lần, cho vay theo hạn mức, cho vay luân

chuyển, cho vay trả góp, cho vay thấu chi và cho vay gián tiếp. Căn cứ vào thời

hạn cho vay, gồm có: cho vay ngắn hạn, cho vay trung hạn và cho vay dài hạn.

Căn cứ vào TSBĐ, gồm có: cho vay có TSBĐ và cho vay khơng có TSBĐ. Căn

cứ vào mục đích sử dụng vốn vay, gồm có: cho vay sản xuất kinh doanh và cho

vay tiêu dùng.

Khi nền kinh tế phát triển, mức sống của người dân được nâng cao nên họ

có nhu cầu vay tiêu dùng ngày càng lớn. Bên cạnh đó, cho vay tiêu dùng cũng đem

lại nguồn lợi nhuận cao cho ngân hàng nên hiện nay các ngân hàng trong nước và

thế giới đều phát triển hoạt động này.

Như vậy, có thể hiểu: Cho vay tiêu dùng là các khoản cho vay nhằm tài trợ

cho nhu cầu chi tiêu của người tiêu dùng bao gồm cá nhân và hộ gia đình. Đây

là một nguồn tài chính quan trọng nhằm thỏa mãn nhu cầu mua sắm hàng tiêu

dùng lâu bền như nhà ở, đồ dùng gia đình, phương tiện vận chuyển, nhu cầu du

lịch, giáo dục, y tế…

1.1.2.Đặc điểm cho vay tiêu dùng

1.1.2.1. Về đối tượng cho vay

Đối tượng cho vay: là các cá nhân và hộ gia đình. Thu nhập và tiêu dùng có

mối quan hệ thuận chiều với nhau nên những người có thu nhập cao thường có

xu hướng vay tiền nhiều hơn những người có thu nhập thấp, và thường có nhu



5



cầu vay nhiều hơn so với thu nhập hàng năm của mình. Tương tự như vậy, những

gia đình mà chủ gia đình hay người tạo ra thu nhập chính có học vấn cao cũng

thường có nhu cầu sử dụng những hàng hóa hiện đại và đắt tiền hơn, do đó mà

nhu cầu tiêu dùng cũng cao hơn.

1.1.2.2. Về quy mô

Do cho vay tiêu dùng là khoản cho vay cấp cho các cá nhân, hộ gia đình

khơng phải sử dụng cho mục đích kinh doanh nên nó thường là các khoản vay có giá

trị khơng lớn thậm chí còn rất nhỏ. Giá trị này được xác định trên cơ sở giá cả hàng

hóa, dịch vụ mà khách hàng đang có nhu cầu tiêu dùng trong khi giá trị những thứ

này thường không quá lớn. Hơn nữa, phần lớn khách hàng vay tiêu dùng đều đã có sự

tích lũy từ trước, ngân hàng chỉ là người hỗ trợ cho việc mua sản phẩm được dễ dàng

hơn khi tích lũy là chưa đủ vì thế quy mơ đối với mỗi khoản vay thường là nhỏ.

Tuy nhiên với số lượng khách hàng có nhu cầu vay tiêu dùng lớn và vì thế

tổng quy mô cho vay lớn. Đây cũng là xu thế phổ biến, trong hướng xã hội ngày

càng phát triển thì nhu cầu của con người ngày càng trở nên đa dạng dẫn đến số

lượng cho vay tiêu dùng sẽ rất lớn.

1.1.2.3. Về lãi suất

Các khoản cho vay tiêu dùng có lãi suất cao,”cứng nhắc”, và nhu cầu vay kém

nhạy cảm với lãi suất.

Cho vay tiêu dùng có tính nhạy cảm theo chu kì. Nó tăng lên trong thời kì nền

kinh tế rộng mở, khi mà mọi người dân cảm thấy lạc quan về tương lai. Ngược lại

khi nền kinh tế rơi vào suy thoái, rất nhiều cá nhân và họ gia đình cảm thấy khơng

tin tưởng nhất là khi họ thấy tình trạng thất nghiệp tăng lên và họ sẽ hạn chế việc

vay mượn từ ngân hàng. Khi vay tiền, người tiêu dùng dường như kém nhạy cảm

với lãi suất.

Người tiêu dùng thường quan tâm đến khoản tiền họ phải trả hàng tháng

hơn là lãi suất của khoản vay. Bên cạnh đó mức thu nhập và trình độ dân trí cũng

tác động rất lớn đến việc sử dụng các khoản cho vay tiêu dùng. Những người có

thu nhập cao có xu hướng vay nhiều hơn so với thu nhập hàng năm mà mình có

được. Những gia đình mà người chủ gia đình hay người tạo thu nhập chính có



6



trình độ, có học vấn cao thì việc vay mượn là một cơng cụ để đạt được mức sống

như mong muốn.

Ngân hàng có thể sử dụng nhiều phương pháp khác nhau để xác định mức lãi

suất thực tế đối với cho vay phục vụ nhu cầu tiêu dùng. Song phần lớn lãi suất được

xác định dựa trên lãi suất cơ bản cộng phần lợi nhuận cận biên và phần bù đắp rủi

ro, có thể đưa ra cơng thức tính tổng qt như sau:

Lãi suất cho vay tiêu dùng= Chi phí huy động vốn + Rủi ro tổn thất dự kiến +

Phần bù kỳ hạn với các khoản cho vay dài hạn+ Lợi nhuận cận biên

Hiện nay, mỗi ngân hàng thương mại có những phương pháp tính lãi riêng,

song nhìn chung, tập trung vào những phương pháp như: Phương pháp lãi đơn,

phương pháp lãi gộp, phương pháp tỷ lệ chiết khấu, phương pháp lãi suất biến đổi…

1.1.2.4.Về lợi nhuận

Lợi nhuận từ cho vay tiêu dùng cao: Do rủi ro và chi phí cao nên ngân hàng

thường đặt mức lãi suất cao đối với các khoản cho vay tiêu dùng. Lãi suất cho vay

tiêu dùng phải đáp ứng được phần lợi nhuận mong đợi và phần bù rủi ro.

1.1.3 Vai trò của cho vay tiêu dùng trong nền kinh tế thị trường

- Đối với các ngân hàng thương mại

Trong môi trường cạnh tranh khốc liệt của nền kinh tế hội nhập, các ngân hàng

thương mại muốn hoạt động một cách có hiệu quả, có lợi nhuận, có thể tồn tại và

phát triển đòi hỏi mỗi ngân hàng phải có một chiến lược kinh doanh riêng, phải

cạnh tranh với nhau để giành thị phần cho mình. Chính vì vậy, nếu ngân hàng nào

chỉ chú trọng đến nhóm khách hàng là doanh nghiệp mà khơng để ý đến những

khách hàng cá nhân thì đối tượng khách hàng sẽ rất hạn chế. Do đó hình thức cho

vay tiêu dùng giúp các ngân hàng mở rộng đối tượng khách hàng, quan hệ với nhiều

khách hàng hơn, phát triển khả năng huy động vốn các loại tiền gửi cho ngân hàng

đồng thời đa dạng hóa sản phẩm, giảm thiểu rủi ro… từ đó làm tăng khả năng cạnh

tranh của các ngân hàng.

- Đối với người tiêu dùng

Nhu cầu tiêu dùng đối với mỗi người là tất yếu, và đương nhiên khơng phải ai



7



cũng có thể tự đáp ứng được nhu cầu của mình bằng chính thu nhập của mình. Hoạt

động cho vay tiêu dùng của ngân hàng ra đời giúp cho người dân có thể kết hợp nhu

cầu hiện đại và khả năng thanh toán trong tương lai, thỏa mãn được nhiều hơn

những nhu cầu của mình trước khi có khả năng chi trả và đặc biệt quan trọng trong

những trường hợp cấp bách, như chi tiêu cho giáo dục hay y tế…Cho vay tiêu dùng

làm cho chất lượng cuộc sống của người dân được nâng cao.

- Đối với nhà sản xuất

Cho vay tiêu dùng giúp kích cầu tiêu dùng của nền kinh tế, kích thích người

tiêu dùng mua sắm nhiều hàng hóa, giúp nhà sản xuất bán được nhiều sản phẩm,

tăng khả năng quay vòng vốn, từ đó góp phần mở rộng sản xuất, gia tăng lợi nhuận.

Ngoài ra, cho vay tiêu dùng cũng tạo điều kiện cho nhà sản xuất mở rộng mối

quan hệ hợp tác với các ngân hàng để bán được nhiều sản phẩm hơn.

- Đối với nền kinh tế

Thứ nhất, cho vay tiêu dùng giúp người dân được hưởng các tiện ích trước khi

tích luỹ đủ tiền, nhất là trong những trường hợp chi tiêu có tính cấp bách như chi

tiêu cho giáo dục, y tế. Như vây cho vay tiêu dùng không chỉ mang lại lợi ích cho

người tiêu dùng mà còn mang lại lợi ích cho nền kinh tế.

Thứ hai, cho vay tiêu dùng có vai trò quan trọng trong việc kích cầu, góp phần

vào việc xây dựng nền tài chính vững mạnh cho một quốc gia. Thị trường cho vay

tiêu dùng đã góp phần tạo nên sự sơi động của nền kinh tế, thúc đẩy sản xuất phát

triển, tạo nguồn vốn cho khu vực sản xuất trong nước, thu hút vốn đầu tư nước

ngồi, từ đó tăng GDP cho nền kinh tế. Đi đơi với nó là hàng loạt các vấn đề xã hội

được giải quyết như tạo công ăn việc làm, tăng thu nhập cho người lao động, giúp

họ cải thiện mức sống, giảm tệ nạn xã hội…

Thứ ba, cho vay tiêu dùng còn góp phần làm giảm chi phí giao dịch xã hội

thơng qua việc tiết kiệm chi phí và thời gian cho cả ngân hàng và khách hàng.

Tóm lại, cho vay tiêu dùng mang lại lợi ích cho cả người tiêu dùng, người sản

xuất, ngân hàng thương mại hay tổng quan nền kinh tế nói chung. Có thể nói, phát

triển cho vay tiêu dùng là một hướng đi phù hợp với sự phát triển của xã hội và tuân



8



theo quy luật kinh tế của các ngân hàng thương mại trong điều kiện hội nhập kinh tế

quốc tế hiện nay.

1.1.4. Các hình thức cho vay tiêu dùng

Có nhiều hình thức phân loại cho vay tiêu dùng, trong đó có một số cách phân

loại chủ yếu như sau:

1.1.4.1. Căn cứ vào mục đích vay: Theo cách phân loại này cho vay tiêu dùng

được chia thành các hình thức sau:

• Cho vay bất động sản: là các khoản cho vay nhằm mục đích đáp ứng nhu cầu



mua mới nhà ở hoặc đất đai của các cá nhân hoặc hộ gia đình. Quy mô của mỗi

khoản vay bất động sản thường lớn hơn khoản vay tiêu dùng thơng thường, tuy

nhiên có kỳ hạn dài hơn và độ rủi ro cao hơn.

• Cho vay xây dựng, sửa chữa nhà: là các khoản cho vay nhằm mục đích đáp



ứng nhu cầu cải tạo, xây mới nhà ở của các cá nhân, hộ gia đình.

Cho vay mua ô tô: là các khoản cho vay nhằm mục đích phục vụ nhu cầu đi lại

của cá nhân hoặc hộ gia đình.

Cho vay tiêu dùng khác: là các khoản cho vay nhằm mục đích tài trợ cho nhu

cầu khác như chữa bệnh, đi du lịch, du học, mua sắm vật dụng gia đình…

Trong từng thời kỳ, mỗi ngân hàng sẽ đưa ra những sản phẩm cho vay tiêu

dùng khác nhau. Nếu ngân hàng nào có chính sách cho vay tiêu dùng phù hợp, linh

hoạt sẽ thu hút được nhiều đối tượng khách hàng, từ đó góp phần mở rộng hoạt

động cho vay tiêu dùng.

1.1.4.2. Căn cứ vào phương thức hồn trả nợ

• Cho vay tiêu dùng trả góp: là các khoản vay được thanh toán nợ (gồm cả gốc



và lãi) làm nhiều lần, theo những kỳ hạn nhất định (thường theo tháng hoặc theo

quý). Hình thức này chủ yếu đáp ứng cho nhu cầu mua sắm hàng lâu bền hoặc có

giá trị lớn như mua nhà, mua ơ tơ…

Hình thức này giúp ngân hàng có khả năng thanh tốn đều đặn và phù hợp với

những khách hàng có thu nhập ổn định và đều đặn. Việc thu nợ có thể thực hiện

theo hai phương pháp: phương pháp thu nợ gốc đều đặn mỗi kỳ và lãi vay được tính



9



theo nợ gốc còn lại đầu mỗi kỳ; phương pháp thu nợ trong số tiền lãi và gốc được

thu đều đặn mỗi kỳ.

• Cho vay tiêu dùng trả một lần: là các khoản vay có giá trị nhỏ, ngắn hạn



nhằm thỏa mãn nhu cầu tiền mặt tức thời, và khách hàng chỉ phải thanh toán một

lần cho ngân hàng khi khoản vay đáo hạn. Các khoản vay này phần lớn đáp ứng cho

nhu cầu mua đồ gia dụng, đi du lịch, chữa bệnh…

• Cho vay tiêu dùng tuần hồn: là các khoản vay mà ngân hàng cho phép



khách hàng vay và trả nợ nhiều kỳ một cách tuần hoàn, theo một hạn mức tín dụng

nhất định bằng cách sử dụng thẻ tín dụng hoặc phát hành séc được phép thấu chi

dựa trên tài khoản vãng lai.

Mỗi thẻ tín dụng có một hạn mức tín dụng nhất định và mức này có thể thay

đổi phụ thuộc vào nhu cầu và độ tín nhiệm của khách hàng. Ưu điểm của thẻ tín

dụng là: được sử dụng thanh toán thay cho tiền mặt, séc; gọn nhẹ; có thể sử dụng để

rút tiền hoặc chuyển khoản; phạm vi hoạt động rộng. Tuy nhiên, thẻ tín dụng có

nhược điểm là: chủ yếu sử dụng thanh tốn cho các khoản tiêu dùng có giá trị nhỏ;

rủi ro nếu bị mất cắp, đánh rơi và lộ mã thẻ.

Phương thức thấu chi gắn liền với tài khoản vãng lai và người đi vay dùng

phương tiện chủ yếu là thẻ thanh tốn.

Căn cứ vào chính sách cho vay tiêu dùng chung và thu nhập cũng như hoạt

động kinh doanh của khách hàng mà ngân hàng có cách thức thu nợ phù hợp để

đảm bảo an toàn trong hoạt động cho vay và giúp khách hàng có khả năng trả nợ

đầy đủ, đúng hạn, từ đó góp phần thu hút thêm nhiều khách hàng mới.

1.1.4.3.Căn cứ vào hình thức của khoản vay

• Cho vay tiêu dùng trực tiếp: là các khoản vay trong đó ngân hàng trực tiếp



cho vay và cũng trực tiếp thu nợ từ người vay.

Cho vay tiêu dùng trực tiếp được thể hiện qua sơ đồ sau:



10



(3)



Ngân hàng



(5)



Công ty

bán lẻ



(4)

Người tiêu dùng



(1)



(2)



Sơ đồ 1.1: Sơ đồ cho vay tiêu dùng trực tiếp

Trong đó:

(1) Ngân hàng ký hợp đồng tín dụng với người tiêu dùng.

(2) Người tiêu dùng trả trước một phần tiền mua hàng cho công ty bán lẻ.

(3) Ngân hàng thanh toán số tiền mà người tiêu dùng còn thiếu cho cơng ty

bán lẻ.

(4) Cơng ty bán lẻ giao hàng cho người tiêu dùng.

(5) Người tiêu dùng thanh tốn số tiền đã vay cho ngân hàng.

Hình thức này giúp ngân hàng giảm được rủi ro do các khoản vay được thẩm

định bởi cán bộ tín dụng ngân hàng là những người có trình độ chun mơn và

nhiều kinh nghiệm. Trong khi cán bộ tín dụng ngân hàng thường chú trọng đến chất

lượng khoản cho vay thì nhân viên của công ty bán lẻ lại quan tâm đến việc bán

được nhiều hàng hay khơng. Tuy nhiên, chi phí cho hoạt động này khá cao do giá trị

khoản vay thường nhỏ.

• Cho vay tiêu dùng gián tiếp: là các khoản vay trong đó ngân hàng mua các

khoản nợ phát sinh do những công ty bán lẻ đã bán chịu hàng hố, dịch vụ cho

người tiêu dùng. Đây là hình thức ngân hàng tài trợ cho các công ty bán lẻ hàng lâu

bền, các công ty xây dựng để các cơng ty này bán hàng trả góp cho người tiêu dùng.

Cho vay tiêu dùng gián tiếp được thể hiện qua sơ đồ sau:



11



(1)

(4)



Ngân hàng



Công ty

bán lẻ



(5)

(2)

(6)



Người tiêu dùng



(3)

Sơ đồ 1.2: Sơ đồ cho vay tiêu dùng gián tiếp

Trong đó:

(1) Ngân hàng ký hợp đồng mua bán nợ với công ty bán lẻ.

(2) Công ty bán lẻ và người tiêu dùng ký hợp đồng mua bán chịu hàng hóa.

Người tiêu dùng thường phải trả trước 20 - 30% giá trị hàng.

(3) Công ty bán lẻ giao hàng cho người tiêu dùng.

(4) Cơng ty bán lẻ bán tồn bộ chứng từ bán chịu hàng hóa cho ngân hàng.

(5) Ngân hàng thanh tốn số tiền mà người tiêu dùng còn thiếu cho cơng ty

bán lẻ.

(6) Người tiêu dùng thanh tốn tiền trả góp cho ngân hàng theo mức và kỳ hạn nhất định.

Cho vay tiêu dùng gián tiếp có ưu điểm: phù hợp với những khách hàng có

nhu cầu vay cao, giúp ngân hàng giảm được chi phí trong cho vay, tăng doanh số

trong cho vay tiêu dùng, thu hút khách hàng sử dụng các dịch vụ khác của ngân

hàng, nếu công ty bán lẻ có mối quan hệ tốt với khách hàng thì cho vay tiêu dùng

gián tiếp khá an tồn. Tuy nhiên, hình thức này có một số nhược điểm như: làm tăng

rủi ro cho ngân hàng do không tiếp xúc trực tiếp với khách hàng, phụ thuộc vào

trình độ của nhân viên công ty bán lẻ. Bởi vậy, ngân hàng cho vay theo hình thức

này cần có cơ chế giám sát chặt chẽ.

Mỗi hình thức cho vay trên đều có ưu nhược điểm nhất định. Để đảm bảo an

toàn hoạt động, tạo mối quan hệ hợp tác tốt với các cơng ty bán lẻ và thu hút khách

hàng thì ngân hàng cần đưa ra chính sách và quy trình cho vay tiêu dùng phù hợp,

linh hoạt trong từng thời kỳ.



12



1.1.4.4. Căn cứ vào tài sản đảm bảo

• Cho vay tiêu dùng có TSBĐ: là các khoản vay mà khách hàng cầm cố



hoặc thế chấp tài sản của mình để đảm bảo cho khoản vay. TSBĐ là căn cứ

pháp lý để ngân hàng có thêm nguồn thu nợ dự phòng khi nguồn thu chính của

khách hàng thiếu hụt, tạo áp lực buộc khách hàng phải trả nợ, giảm thiểu rủi ro

cho ngân hàng.

• Cho vay tiêu dùng khơng có TSBĐ: là các khoản vay khơng có tài sản cầm



cố hay thế chấp của khách hàng mà chủ yếu dựa vào mối quan hệ và uy tín của

khách hàng.

Đối với mỗi đối tượng khách hàng, ngân hàng cần có chính sách cho vay tiêu

dùng phù hợp. Với những khách hàng có quan hệ truyền thống, có uy tín tốt thì

ngân hàng khơng yêu cầu TSBĐ; với những khoản cho vay tiêu dùng có độ rủi ro

cao, có giá trị lớn thì ngân hàng cần yêu cầu TSBĐ để hạn chế rủi ro khi tổn thất

xảy ra. Điều này sẽ góp phần nâng cao chất lượng hoạt động cho vay tiêu dùng,

đồng thời nâng cao khả năng cạnh tranh với các ngân hàng khác.

1.2. Mở rộng cho vay tiêu dùng tại ngân hàng thương mại

1.2.1. Khái niệm mở rộng cho vay tiêu dùng

Cho vay tiêu dùng tại các ngân hàng thương mại càng ngày càng chứng tỏ

được vai trò của mình và vì thế các ngân hàng càng ngày càng đi sâu vào lĩnh vực

này để mở rộng và cho vay một cách có hiệu quả các khoản cho vay tiêu dùng.

Khi nói về mở rộng cho vay tiêu dùng, ta cần phải xem xét việc mở rộng cả

theo hai chiều hướng. Thứ nhất là mở rộng cho vay tiêu dùng theo chiều rộng, nghĩa

là nâng qui mô, mở rộng về số lượng các hợp đồng cho vay, phương thức cho vay

tiêu dùng sao cho đa dạng, phong phú. Thứ hai là mở rộng theo chiều sâu, nghĩa là

số lượng phải đi kèm chất lượng. Ngân hàng cần nâng cao chất lượng của từng sản

phẩm cho vay tiêu dùng.

Mở rộng cho vay tiêu dùng của các ngân hàng thương mại được thể hiện ở

một số điểm chủ yếu sau:



13



+ Đối với khách hàng: Mở rộng cho vay tiêu dùng có nghĩa là phải thoả mãn

được các nhu cầu hợp lý của khách hàng về khối lượng cung cấp, sự đa dạng hố

các hình thức cho vay tiêu dùng cũng như các dịch vụ kèm theo.

+ Đối với sự phát triển kinh tế xã hội: Cho vay tiêu dùng phải góp phần chuyển

dịch một khối lượng lớn các nguồn tài chính, trợ giúp ngân sách nhà nước cũng như tạo

điều kiện thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, góp phần cải thiện đời sống dân cư.

+ Đối với các ngân hàng thương mại: Cho vay tiêu dùng cần phải chiếm một

khối lượng đáng kể trong tổng dư nợ cho vay của ngân hàng. Tuy nhiên, bên cạnh

việc mở rộng cho vay, ngân hàng cũng cần chú ý đến chất lượng của khoản vay, sao

cho đảm bảo mở rộng gắn với cho vay tiêu dùng chất lượng cao.

Mở rộng cho vay tiêu dùng là sự tăng lên cả về số lượng và chất lượng của các

khoản vay tiêu dùng tại các ngân hàng thương mại.

1.2.2. Các chỉ tiêu đánh giá về việc mở rộng cho vay tiêu dùng của ngân

hàng thương mại

a) Số lượng sản phẩm cho vay tiêu dùng

Vì cho vay tiêu dùng có đặc điểm là quy mô khoản vay nhỏ, số lượng các

khoản vay lớn nên để thu hút khách hàng, ngân hàng phải có khả năng cung cấp

nhiều sản phẩm cho vay tiêu dùng khác nhau. Mỗi sản phẩm cho vay tiêu dùng có

tác dụng và có mục đích sử dụng riêng, nên khi ngân hàng có khả năng đa dạng hóa

danh mục cho vay tiêu dùng chứng tỏ sự mở rộng trong hoạt động cho vay tiêu

dùng và cho thấy ngân hàng đó có uy tín, đáp ứng được các nhu cầu khác nhau của

khách hàng.

Do đó, đa dạng hóa danh mục cho vay tiêu dùng là mục tiêu của các ngân

hàng trong quá trình mở rộng cho vay tiêu dùng. Tuy nhiên, do đặc điểm là các sản

phẩm, dịch vụ của ngân hàng dễ bị bắt chước và thay thế bởi những dịch vụ tốt hơn,

nên ngân hàng cũng cần áp dụng những chính sách đi kèm, nghiên cứu phát triển

sản phẩm mới, loại bỏ những sản phẩm khơng còn phù hợp và tập trung vào giai

đoạn đầu của sản phẩm.



14



b) Số lượng và đối tượng khách hàng cho vay tiêu dùng

Số lượng khách hàng sẽ quyết định việc duy trì, phát triển hay chấm dứt sự tồn

tại của một sản phẩm hay dịch vụ ngân hàng. Lượng khách hàng hiện tại và tiềm

năng cho biết khả năng đáp ứng các nhu cầu đa dạng của ngân hàng. Mặt khác, đặc

điểm của cho vay tiêu dùng là số lượng khách hàng vay rất lớn. Do vậy, nếu một

ngân hàng có số lượng khách hàng vay tiêu dùng ngày càng tăng thì chứng tỏ hoạt

động cho vay tiêu dùng của ngân hàng đó có uy tín và đang ngày càng mở rộng.

Những khách hàng này đồng thời là những kênh quảng cáo hữu hiệu để ngân hàng

mở rộng cho vay tiêu dùng hơn nữa.

Cùng với quá trình hội nhập quốc tế, mở cửa thị trường tài chính, thực hiện

các cam kết trong khuôn khổ WTO hiện nay, các đối tượng khách hàng tham gia

vay tiêu dùng cũng rất đa dạng, bao gồm nhiều trình độ, nghề nghiệp, tuổi tác…

khác nhau. Do đó, việc mở rộng đối tượng khách hàng cho vay tiêu dùng cả trong

và ngoài nước cũng là dấu hiện phản ánh khả năng cung cấp và mở rộng hoạt động

cho vay tiêu dùng của ngân hàng.

c) Doanh số cho vay tiêu dùng

Doanh số cho vay tiêu dùng là tổng giá trị các khoản cho vay tiêu dùng phát

sinh trong kỳ. Doanh số cho vay tiêu dùng năm sau cao hơn năm trước (nếu kỳ là

năm) thể hiện quy mô cho vay tiêu dùng tăng. Do vậy, doanh số cho vay tiêu dùng

thể hiện quy mô và tỷ trọng cho vay tiêu dùng của ngân hàng.

Tốc độ tăng doanh số cho vay tiêu dùng qua các năm được thể hiện qua công

thức sau:

Tốc độ tăng



=



Doanh số CVTD kỳ n - Doanh số CVTD kỳ (n-1)



doanh số CVTD

d) Dư nợ cho vay tiêu dùng



Doanh số CVTD kỳ (n-1)



x 100%



Dư nợ cho vay tiêu dùng là tổng số tiền mà ngân hàng cho khách hàng vay

tính đến một thời điểm cụ thể. Đây là chỉ tiêu tích lũy qua các thời kỳ. Chỉ tiêu dư

nợ cho vay tiêu dùng giúp cho lãnh đạo ngân hàng nắm bắt được thực trạng cho vay

tiêu dùng tại ngân hàng, để từ đó có những định hướng cụ thể cho năm tiếp theo.

Chỉ tiêu này được phân chia theo các tiêu thức: dư nợ cho vay tiêu dùng theo mục



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

MỘT SỐ NỘI DUNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CHO VAY TIÊU DÙNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×