Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Hoạt tính sinh học

Hoạt tính sinh học

Tải bản đầy đủ - 0trang

của cây Trứng quốc trị ho, ho ra máu. Lá dùng chữa đau mắt hoặc nấu nước uống

thay chè.

Ngoài ra, cây này còn có tác dụng hạ men gan, lợi mật với bài thuốc: 5 g

Trứng quốc, 5 g dứa dại sắc với 1 lít nước, ngày uống 2 lần.

1.2. Tổng quan các phương pháp phân tích để phân lập và xác định cấu

trúc các hợp chất.

1.2.1. Phương pháp chiết xuất

Phương pháp chiết xuất là bao gồm cả việc chọn dung môi, dụng cụ và

cách chiết. Một phương pháp chiết xuất thích hợp chỉ có thể được hoạch định

khi biết rõ thành phần của các chất cần biết trong cây ra. Mỗi loại hợp chất có độ

hòa tan khác nhau trong từng loại dung mơi. Vì vậy khơng thể có một phương

pháp chiết xuất chung cho tất cả các dược liệu.

Phương pháp chiết có hai phương pháp chiết:

Phương pháp 1: Phương pháp chiết xuất nhằm mục đích nghiên cứu sơ

bộ khi chưa biết rõ thành phần hóa học của dược liệu, dùng phương pháp cổ

điển là sử dụng một dãy dung môi từ không phân cực đến phân cực mạnh để

phân đoạn các hợp chất ra khỏi dược liệu. Ví dụ: sử dụng dãy dung môi: ether

dầu, ether, chloroform, cồn và cuối cùng là nước.



Phương pháp 2: Phương pháp chiết xuất khi cần chiết lấy toàn bộ thành

phần trong dược liệu thì dung mơi thích hợp nhất methanol hoặc ethanol (80%).

Nhất là methanol được xem như là dung môi vạn năng, nó hòa tan được chất

khơng phân cực đồng thời cũng có khả năng tạo dây nối hydro với các nhóm

phân cực khác. Dịch chiết với methanol thu được, đem loại hết dung mơi thu

được cao tồn phần chứa hầu hết hợp chất của dược liệu. Khi cần tách phân

đoạn các hợp chất trong cao thì sử dụng dung mơi khơng hòa lẫn với nước và có

độ phân cực từ yếu đến mạnh. Ví dụ dãy dung mơi: Ether dầu, ether, chloroform,

ethyl axetate, n-buthanol.

Cách chiết có hai cách chiết: chiết ở nhiệt độ thường và chiết nóng.



Chiết ở nhiệt độ thường: Cách chiết thông thường là ngấm kiệt và ngâm

phân đoạn.



Chiết nóng: Nếu dung mơi là các chất bay hơi thì áp dụng cách chiết liên

tục hoặc chiết hồi lưu, nếu dung mơi là nước thì sắc đặc hoặc là hãm phân đoạn.

Để thu hồi dung môi, sử dụng máy cô quay chân không dưới áp suất giảm

cho hiệu suất cao.

1.2.2. Các phương pháp sắc ký

Phương pháp sắc ký lớp mỏng (TLC)

Sắc ký lớp mỏng là công cụ đắc lực trong nghiên cứu dược liệu vì đơn

giản, ít tốn thiết bị và dung môi mà lại đạt hiệu quả cao.

Sắc ký lớp mỏng là kỹ thuật tách các chất được tiến hành khi cho pha

động di chuyển qua pha tĩnh đã đặt sẵn hỗn hợp chất cần phân tích. Pha tĩnh là

chất hấp phụ được lựa chọn tùy theo yêu cầu phân tích, được trải mỏng đồng

nhất và được cố định trên các phiến kính hoặc kim loại. Pha động là một hệ

dung môi đơn hoặc đa thành phần được trộn với nhau theo tỷ lệ nhất định tùy

theo mục đích cụ thể. Trong q trình di chuyển qua lớp hấp phụ, các cấu tử

trong hỗn hợp mẫu thử được di chuyển trên lớp mỏng theo hướng pha động, với

những tốc độ khác nhau. Kết quả, ta thu được một sắc ký đồ trên lớp mỏng.

Đại lượng đặc trưng cho mức độ di chuyển của chất phân tích là hệ số di

chuyển Rf được tính bằng tỷ lệ giữa khoảng dịch chuyển của chất thử và khoảng

dịch chuyển của dung mơi (Hình 2.2). Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến giá trị Rf.



Hình 1.3: Cách tính giá trị Rf.



 Các bước trong kỹ thuật sắc ký lớp mỏng (Hình 2.2):



Chuẩn bị bản mỏng: Bản mỏng trước khi dùng phải hoạt hóa trong tủ

sấy và sấy ở 105-110°C trong một giờ. Để nguội và bảo quản trong bình hút ẩm.

Dùng bút chì mềm kẻ bản mỏng. Vạch đường chấm chất phân tích (cách mép

dưới của bản mỏng 1,2 cm), đường giới hạn di chuyển của dung môi (cách mép

trên của bản mỏng 0,8 cm) và đánh dấu vị trí chấm chất (các vết chấm cách nhau

0,5 cm và cách hai bờ bên của bản mỏng ít nhất 1 cm).



Chấm chất phân tích lên bản mỏng: Dùng ống mao quản hoặc micropipet

chấm chất lên các vị trí đã đánh dấu. Các vết chấm phải nhỏ, lượng chất phải

đồng đều, không quá lớn dễ kéo vết hoặc chồng vết, cũng không quá nhỏ khó

hiện vết bằng thuốc thử.

Triển khai sắc ký: Bình triển khai thường là bình thủy tinh, có nắp đậy

kín và đáy phải bằng. Lót giấy lọc xung quanh thành trong của bình. Pha hệ

dung mơi với tỷ lệ thích hợp và vừa đủ, rót vào bình triển khai. Lắc rồi để giấy

lọc thấm đều dung môi. Đặt bản mỏng gần như thẳng đứng với bình triển khai,

các vết chấm phải ở trên bề mặt của lớp dung môi triển khai. Đậy kín bình và để

n ở nhiệt độ khơng đổi. Khi dung môi chạy đến đường giới hạn, lấy bản mỏng

ra khỏi bình và sấy khơ bản mỏng rồi hiện vết.



Hiện vết trên bản mỏng: Có thể hiện vết bằng cách soi UV (bước sóng

254 và 365 nm) hoặc phun thuốc thử (thuốc thử dùng trong đồ án là Ce(SO4)2).



Hình 1.4: Các bước tiến hành sắc ký bản mỏng.

Hiện nay, chủ yếu sử dụng bản mỏng tráng sẵn silica gel Merck 60 F 254,

kích thước 20×20 cm, dày 0,2 mm.



Phương pháp sắc ký cột (CC)

Sắc ký cột là một dạng của sắc ký bản mỏng. Trong sắc ký cột, chất hấp

phụ pha tĩnh được nhồi trong các ống hình trụ gọi là “cột”. Nhờ vậy mà có thể

triển khai nhiều hệ dung môi khác nhau từ phân cực yếu đến mạnh.

Giống như sắc ký lớp mỏng, phương pháp này cũng dựa vào độ phân cực

của các chất, những chất có ái lực lớn hơn đối với chất hấp phụ sẽ ra khỏi cột

chậm hơn và những chất có ái lực yếu hơn sẽ ra khỏi cột nhanh hơn trong quá

trình sắc ký. Sự tách trong cột xảy ra chủ yếu theo cơ chế hấp phụ hoặc phân bố

tùy theo tính chất của chất được sử dụng làm cột.

 Kỹ thuật sắc ký cột (Hình 2.3):



Chuẩn bị chất hấp phụ và cột: Silicagel phải được hoạt hóa ở 120°C

trong 4 giờ trước khi đưa lên cột. Cột sắc ký phải là một khối đồng nhất, phải

thật khô và lắp thẳng đứng trên một giá cố định vững chắc.



Nhồi cột: Chất hấp phụ phải được phân tán đồng đều trong cột. Có 2

cách nhồi cột: nhồi khô và nhồi ướt với dung mơi. Sau khi đưa chất hấp phụ lên

cột, rót dung môi vào cột và để chạy liên tục một thời gian để ổn định cột và

không được để khô dung môi trong cột.



Đưa chất cần phân tách lên cột: Phải đưa chất lên cột sao cho chất phân

tán thành một lớp mỏng đồng đều trên mặt cột bằng phẳng. Có nhiều cách đưa

chất lên cột: phương pháp dùng đĩa giấy, cho thẳng dung dịch chất cần phân tách

lên cột, trộn chất cần phân tách với một lượng chất hấp phụ…



Rửa cột: Tùy theo chất hấp phụ dùng và yêu cầu tốc độ chảy của cột mà

áp dụng cách rửa cột bằng áp suất thường hoặc áp xuất nén. Hứng dịch chảy ra ở

đáy cột theo phân đoạn, theo thời gian hoặc bằng ống nghiệm cùng thể tích.



Hình 1.5: Các bước tiến hành sắc ký cột (CC)

1.2.3. Các phương pháp phân tích xác định cấu trúc các chất phân lập được

Phương pháp chung để xác định cấu trúc hóa học của các hợp chất là kết

hợp giữa việc xác định các thông số vật lý với các phương pháp phổ hiện đại.

Tuy nhiên, phương pháp phổ biến nhất là các phương pháp đo phổ: phổ hồng

ngoại (IR), phổ khối (MS), phổ cộng hưởng từ hạt nhân ( 1H-NMR,



13



C-NMR,



DEPT,…).

Phân tích cấu trúc hợp chất bằng phổ hồng ngoại (IR)

Các hợp chất hữu cơ hấp thụ bức xạ hồng ngoại ở những tần số trong

vùng từ 10000 đến 100 cm-1 và biến thành năng lượng của dao động phân tử. Sự

biến đổi năng lượng dao động này luôn đi kèm với sự biến đổi năng lượng quay.

Sự hấp thụ này có định lượng và biểu hiện thành các dải hấp thụ với cường độ

khác nhau, gọi là phổ hấp thụ bức xạ hồng ngoại (IR). Mỗi loại dao động hấp

thụ ở một tần số hay độ dài sóng xác định, phụ thuộc vào khối lượng tương đối

của các nguyên tử, hằng số lực các dây nối và cấu trúc hình học của nguyên tử.

Do đó, phổ hồng ngoại cho phép xác định thơng tin về cấu trúc hóa học như cấu

dạng và nhóm chức đặc trưng của hợp chất hữu cơ.

Đơn vị trong phổ hồng ngoại là số sóng (cm-1). Sự hấp thụ có nhiều ý

nghĩa trong việc ứng dụng phổ hồng ngoại để phân tích câu trúc các hợp chất

hữu cơ là sự hấp thụ trong vùng 4000 – 660 cm-1



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Hoạt tính sinh học

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×