Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Thực trạng cho thấy, công tác quản lý, xử lý chất thải rắn ở nước ta thời gian qua chưa được áp dụng theo phương thức quản lý tổng hợp, các giải pháp giảm thiểu, tái sử dụng, tái chế và thu hồi năng lượng từ chất thải còn chưa thực sự được chú trọng. Điều

Thực trạng cho thấy, công tác quản lý, xử lý chất thải rắn ở nước ta thời gian qua chưa được áp dụng theo phương thức quản lý tổng hợp, các giải pháp giảm thiểu, tái sử dụng, tái chế và thu hồi năng lượng từ chất thải còn chưa thực sự được chú trọng. Điều

Tải bản đầy đủ - 0trang

TT

7

8

9

IV

1

2

3

4

5

6

7

8

9

10



Địa phương



Lượng CTR sinh hoạt đô thị phát sinh (tấn/năm)

2011

2012

2013

2014

2015

79.753

80.884

82.417

133.590

78.694

157.571

67.160



Ninh Thuận

Quảng Bình

Thái Bình

Tỉnh có đơ thị loại III

Bắc Kạn

8.834

8.941

9.064

8.999

Điện Biên

19.929

20.221

25.842

Hà Giang

33.102

33.763

34.332

34.905

Hà Nam

30.070

30.425

44.785

45.093

Hồ Bình

21.415

26.605

39.551

Kon Tum

23.360

27.740

28.470

29.565

Lạng Sơn

46.676

47.104

47.731

48.330

Quảng Trị

42.158

Tây Ninh

Vĩnh Long

49.003

50.299

57.112

57.721

(Nguồn: Báo cáo HTMT 5 năm (2011-2015) các địa phương, 2015)



Bảng 2.1 cho thấy lượng CTRSH đô thị của các tỉnh trong cả nước có sự biến đổi khơng

ngừng qua các năm. Đáng chú ý nhất là thủ đô Hà Nội với khối lượng CTRSH phát sinh rất

lớn. Qua bảng 2.1 ta cũng thể thấy được đã có một số tỉnh thành giảm thiểu được khối lượng

CTRSH phát sinh trong năm 2015. Đó là một điều đáng mừng và cần phải được tiếp tục thực

hiện trong tương lai.

2.3. Tình hình quản lý, xử lý CTRSH trên Thế giới và Việt Nam

2.3.1. Tình hình quản lý, xử lý CTRSH trên Thế giới

Quản lý CTR hiệu quả ở bất cứ quốc gia nào đang là trọng tâm của những chính sách

phát triển mơi trường bền vững. Quản lý kém hiệu quả CTR ở khu vực đô thị là mối đe dọa

với sức khỏe cộng đồng, đồng thời làm phát sinh nhiều chi phí tốn kém cả trong hiện tại lẫn

về lâu dài. Việc áp dụng các chính sách đặc thù cho mỗi quốc gia để quản lý chất thải là biện

pháp hữu hiệu, cần thiết để đối phó với tình trạng này. Tuy nhiên, quản lý chất thải là vấn đề

toàn cầu và là yếu tố quyết định để tạo ra các công nghệ xử lý phù hợp mang lại hiệu quả. Vì

vậy, điều quan trọng là phải hướng tới xây dựng một hệ thống chất thải chung, bao gồm từ

khâu xử lý ban đầu đến khâu sử dụng cuối cùng.



27.



30.

71.



63.

58.



Phương pháp tiếp cận của hầu hết các nước trên thế giới để quản lý CTR được dựa trên

một số nguyên tắc sau:

- Ngăn ngừa, giảm thiểu chất thải: Đây là yếu tố then chốt trong bất cứ chiến lược quản lý

CTR của mỗi quốc gia. Việc xử lý sẽ trở nên đơn giản hơn khi ta có thể giảm lượng chất thải

tạo ra ở ngay giai đoạn đầu tiên và giảm tính độc hại của nó bằng cách giảm sự hiện diện của

chất nguy hiểm trong sản phẩm.

- Sử dụng lại và tái chế quay vòng: Nếu chất thải khơng thể ngăn ngừa được, các nguyên vật

liệu sẽ được sử dụng lại, tái chế quay vòng một cách tốt nhất. Châu Âu hiện nay yêu cầu các

nước thành viên giới thiệu pháp chế về chất thải thu gom, tái sử dụng, tái chế và thải bỏ các

chất thải nguy hại. Một số quốc gia Châu Âu đã được quản lý để tái chế hơn 50% bao bì đã

sử dụng.

- Cải thiện và giám sát sự tiêu huỷ, loại bỏ những CTR còn lại: Với những chất thải không

được tái chế và tái sử dụng phải được thiêu đốt một cách an tồn, bãi chơn lấp chỉ được sử

dụng như một phương án cuối cùng. Cả hai phương 14 pháp này cần phải giám sát chặt chẽ

vì đều có thể gây ra thiệt hại nghiêm trọng về mơi trường.

Hiện nay có rất nhiều các phương pháp khác nhau để xử lí CTR. Tỉ lệ rác thải được

xử lí theo phương pháp khác nhau của một số nước trên thế giới được giới thiệu ở bảng sau:

Bảng 1.2. Phương pháp xử lý CTR đô thị ở một số nước



STT



Tên nước



Chôn

lấp



1

2

3

4

5

6

7

8

9



Đức

Đan Mạch

Canada

Pháp

Ý

Hà Lan

Anh

Thụy Điển

Nhật Bản



46

29

80

40

74

45

88

35

23



Phương pháp xử lý (%)

Đốt khơng

Chế biến

thu năng

phân

lượng

compost

2

4

2

22

3

5

1

10

4,2



0

0

0

0

20

0

0

0

0



Đốt thu

năng

lượng



36

48

8

38

0

51

11

55

72,8



10



Mỹ



67



2



0



16

(Nguồn: Tạp chí mơi trường)



Bảng 2.2 cho thấy, hai phương pháp chính để xử lý rác thải ở các nước trên thế giới vẫn

là chôn lấp và đốt, tỷ lệ tái chế và ủ phân vi sinh vẫn còn thấp. Thụy Điển là nước có tỷ lệ

CTR được tái chế và chế biến phân vi sinh cao nhất. Đây là mơ hình rất đáng được quan tâm

và học hỏi cho các nước khác trên thế giới.

2.3.2. Tình hình quản lý, xử lý CTRSH tại Việt Nam



2.3.2.1. Thu gom, phân loại CTRSH

CTR sinh hoạt ở các đô thị Việt nam hiện nay chủ yếu do các công ty MTĐT do Nhà

nước thành lập đảm nhiệm. Các đơ thị đều có từ 1 đến một vài các công ty, tùy thuộc vào

quy mô và dân số đô thị. Một số đơ thị có cơng ty tư nhân tham gia và xu hướng này đang

lan rộng tới nhiều đô thị khác. Ở địa bàn nông thôn (huyện, xã, thơn), một số nơi có tổ chức

thu gom và vận chuyển chất thải rắn, hoạt động dưới hình thức mơi trường xã hoặc tổ, đội vệ

sinh mơi trường Kinh phí cho hoạt động của các tổ chức thu gom và vận chuyển chất thải ở

đô thị và nông thôn dựa vào ngân sách của chính quyền địa phương và đóng góp của dân

(Mức đóng góp do chính quyền địa phương quyết định, thường khoảng 2.500 - 3.000

VND/người/tháng ở các đô thị lớn; và khoảng 8.00 - 1.500 VND/người/tháng ở đô thị nhỏ

và địa bàn nông thôn). Công tác phân loại CTR tại nguồn ở Việt nam hiện chưa thực hiện

rộng rãi. Phân loại CTR tại nguồn đang được tiến hành thử nghiệm ở một số đô thị lớn và sẽ

được mở rộng trong tương lai để giảm áp lực cho việc xử lý chất thải. Công tác thu gom chất

thải công nghiệp, hiện vẫn chưa được tổ chức một cách có hệ thống, nhất là đối với chất thải

cơng nghiệp nguy hại. CTR được lưu giữ trong các KCN, CCN và hợp đồng với các công ty

môi trường đô thị thu gom, vận chuyển, xử lý cùng chất thải đô thị hoặc bán cho cơ sở sản

xuất, kinh doanh để tái chế, tái sử dụng. CTR y tế, Bộ Y tế đã quy định các bệnh viện phải

phân loại thành chất thải y tế nguy hại và không nguy hại. Chất thải y tế thường được thu

gom sau đó sẽ được các tổ chức MTĐT vận chuyển đi chôn lấp. CTR y tế nguy hại được quy

định xử lý bằng các thiết bị chuyên dụng.

2.3.2.2. Xử lý chất thải



CTR được thu hồi, tái chế, tái sử dụng còn hạn chế, việc xử lý chất thải chủ yếu là chôn

lấp. Hầu hết các bãi chôn lấp CTR ở các địa phương, kể cả các đô thị lớn, được xây dựng

chưa hợp vệ sinh. Sự tồn tại các BCL CTR tạo nên bức xúc về môi trường không chỉ cho

cộng đồng dân cư gần bãi chơn lấp mà còn cả cư dân ở các địa bàn thu gom rác thải. Trước

sức ép và thách thức gia tăng CTR, một số công nghệ xử lý CTR đã được triển khai nghiên

cứu, áp dụng thí điểm tại một số tỉnh thành ở nước ta, bước đầu mang lại hiệu quả đáng kể

trong công tác xử lý CTR, như:

- Công nghệ Serafin: 15 Công nghệ Serafin thuộc Công ty TNHH Thủy lực máy (tại Hà Nội)

có khả năng tái chế tới 90% lượng CTR gồm rác vơ cơ và hữu cơ, có thể vận hành song song

giữa hai dây chuyền sản xuất rác thải tươi (rác trong ngày) và rác thải khô (rác đã chôn lấp)

để tạo ra những sản phẩm khác nhau.

Công nghệ Serafin hiện được đầu tư xây dựng tại một số địa phương như: Nhà máy xử lý

rác Đông Vinh - xã Hưng Đông, huyện Nghi Lộc - Nghệ An; Nhà máy xử lý CTR sinh hoạt

Xuân Sơn - thành phố Sơn Tây với công suất 20 tấn/ngày. Hiện nay, Công ty cổ phần công

nghệ môi trường xanh đang xây dựng và chuyển giao, lắp đặt công nghệ này để xử lý CTR

sinh hoạt ở nhiều đô thị lớn như Hà nội, Hải phòng và các tỉnh, thành

- Cơng nghệ An Sinh - ASC:

+ Xử lý CTR An Sinh - ASC của Công ty Cổ phần Đầu tư - Phát triển Tâm Sinh Nghĩa (tại

TP.HCM) bao gồm 4 dây chuyền chính được kết nối liên hồn, đồng bộ. Cơng nghệ này xử

lý rác đơ thị cho 3 dòng sản phẩm: phân hữu cơ từ rác hữu cơ, nguyên liệu hỗn hợp nhựa dẻo

và gạch bloch.

+ Công nghệ An Sinh - ASC đã được lắp đặt tại nhà máy xử lý rác Thủy Phương (Thừa

Thiên Huế), bắt đầu đi vào hoạt động từ tháng 4 - 2007, đến nay đã xử lý 90.000 tấn rác sinh

hoạt của TP Huế và huyện Hương Thủy. Hiện nhiều địa phương cũng đang tiến hành xây

dựng nhà máy xử lý CTR theo công nghệ An Sinh - ASC như: huyện Củ Chi (TP.HCM) với

công suất 2.000 tấn/ngày, Long An 200 tấn/ ngày, Kiên Giang 400 tấn/ngày.

- Công nghệ MBT - CD.08:



+ Công nghệ MBT - CD.08 do Công ty TNHH Thủy lực - Máy nghiên cứu và chế tạo. Xử lý

CTR sinh hoạt chưa qua phân loại tại nguồn, hạn chế chơn lấp. MBT-CD.08 có tính linh hoạt

khá cao, tạo ra sản phẩm tái chế từ các nguyên liệu trong rác thải. Các sản phẩm có thể dùng

sản xuất phân bón hữu cơ, sản xuất nhiên liệu từ các CTR hữu cơ và nhiên liệu CN. 16

+ Hiện nay, Công ty đã lắp đặt một nhà máy có cơng suất 50 tấn/ngày tại KCN Đồng Văn Hà Nam để xử lý, tái chế rác và phát điện thử nghiệm. Thời gian tới công ty sẽ lắp đặt dây

chuyền MBT - CD.08 tại nhà máy xử lý rác Sơn Tây và tại BCL CTR Sông Công - Thái

Nguyên.

- Công nghệ đốt không dùng nhiên liệu:

+ CTR gồm CTR sinh hoạt và CTR công nghiệp không nguy hại được xử lý bằng công nghệ

này qua các giai đoạn: xử lý sơ bộ, sấy rác và đốt rác, trong đó đốt rác là cơng nghệ chính.

Ưu điểm của cơng nghệ này là tách được rác thải xây dựng, đốt 80% rác thải hữu cơ và vô

cơ, chôn lấp 4% chủ yếu là tro lò đốt, bùn xử lý khói, bùn xử lý nước.

+ Công nghệ này hiện được lắp đặt tại một số địa phương như: lò đốt rác thải tại Thái Bình,

giai đoạn 1 có cơng suất 0,5 tấn/h, lắp đặt và vận hành năm 2003, giai đoạn 2 có cơng suất 1

tấn/h, lắp đặt và vận hành năm 2006; lò đốt rác thải tại Việt Trì có cơng suất 1,5 tấn/h, lắp

đặt và vận hành năm 2005; lò đốt rác thải tại Nam Định có cơng suất 4 tấn/h, lắp đặt và vận

hành tháng 2/2009.

- Công nghệ Patel của Việt nam:

+ Theo công nghệ này, CTR thu gom và được đổ trực tiếp tại nhà máy để phân loại và đưa

vào dây chuyền sản xuất. Mỗi dây chuyền có cơng suất 150 tấn/ca. sản phẩm sau xử lý gồm:

gạch xi măng cát từ rác thải vô cơ, hạt nhựa tái chế từ nilon, nhựa phế liệu, phân hữu cơ từ

rác thải hữu cơ. Ưu điểm của công nghệ này là khơng phát sinh các khí gây cháy nổ và mùi

hơi, chiếm ít diện tích đất, có khả năng tái chế tới 90% rác thải thành các sản phẩm hữu ích,

thời gian đầu tư, xây dựng ngắn, khoảng 12 - 18 tháng cho 1 nhà máy



+ Hiện nay công nghệ này đã được xây dựng và sản xuất thử nghiệm tại Nhà máy xử lý rác

thải thành phố Hạ Long - Quảng Ninh, bước đầu cho kết quả khả quan, chất lượng sản phẩm

tốt.



PHẦN III. ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN

CỨU

3.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

- Đối tượng nghiên cứu: Thực trạng quản lý, xử lý chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn thành

phố Hạ Long

- Phạm vi nghiên cứu:

+ Không gian: Thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh

+ Thời gian: từ ngày 15/01/2018 đến ngày 07/04/2018

3. 2. Nội dung nghiên cứu

- Tình hình cơ bản khu vực nghiên cứu

- Thực trạng phát sinh CTRSH trên địa bàn thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh

- Thực trạng công tác quản ký CTRSH trên địa bàn thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh

- Thực trạng công tác xử lý CTRSH trên địa bàn thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh

- Dự báo số lượng gia tăng dân số và lượng CTRSH trên địa bàn thành phố Hạ Long, tỉnh

Quảng Ninh trong 5 năm



- Đề xuất các giải pháp về quản lý và xử lý CTRSH giúp nâng cao hiệu quả bảo vệ môi

trường

3.1.3. Phương pháp nghiên cứu

* Phương pháp điều tra, phỏng vấn

– Đối tượng phỏng vấn: Hộ gia đình, cá nhân.

– Hình thức phỏng vấn: phát phiếu điều tra

– Nội dung phỏng vấn

+ Lượng CTRSH phát sinh từ hộ gia đình

+ Thành phần, khối lượng của CTSRH

+ Việc nộp lệ phí thu gom CTRSH của các đối tượng được tiến hành thu gom

+ Ý kiến của người dân về vấn đề môi trường

+ Thái độ làm việc của công nhân thu gom

* Phương pháp khảo sát thực địa

Tiến hành khảo sát tình hình rác thải sinh hoạt tại một số địa điểm trong thành phố

+ Khảo sát chợ Hạ Long

+ Khảo sát một số trường học trong địa bàn

+ Khảo sát một số khu dân cư có mật độ dân số cao

+ Khảo sát bãi chôn lấp rác thải của thành phố

* Phương pháp thu thập tài liệu, số liệu thứ cấp

Thu thập số liệu thứ cấp: thông qua tài liệu, báo cáo tổng hợp, số liệu thống kê của thành

phố với các tài liệu như điều kiện tự nhiên, dân số, kinh tế xã hội, văn hoá đời sống của

thành phố.



Thu thập, kế thừa các thơng tin có liên quan đến thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh.

- Thu thập, kế thừa các kết quả nghiên cứu của các chương trình, đề tài khoa học, các dự án

quốc tế có liên quan tại thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh.

- Nghiên cứu các tài liệu về pháp luật, chính sách, các quy định và các chương trình hành

động ưu tiên bảo vệ môi trường quốc gia để áp dụng cho công tác quản lý chất thải rắn thành

phố Hạ Long, Quảng Ninh.

* Phương pháp chuyên gia

- Tìm hiểu tình hình và có sự trao đổi, học hỏi từ những cán bộ làm việc tại phòng TN-MT

thành phố Hạ Long về vấn đề nghiên cứu.

- Trao đổi ý kiến với thầy cô hướng dẫn để có thêm những kinh nghiệm thực tập

* Phương pháp phân tích, tổng hợp và xử lý số liệu

Sử dụng những phần mềm như Microsoft Word, Microsoft Excel,… để nhập dữ liệu, số

liệu thực hiện bài báo cáo



PHẦN IV. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

4.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh

4.1.1. Điều kiện tự nhiên

a. Vị trí địa lý

Thành phố Hạ Long ở trung tâm của tỉnh Quảng Ninh, có diện tích đất là 27.195,03 ha,

có quốc lộ 18A chạy qua tạo thành chiều dài của thành phố, có cảng biển, có bờ biển dài

50km, có vịnh Hạ Long 2 lần được UNESCO công nhận là Di sản thế giới với diện tích

434km2.

Phía Bắc - Tây Bắc giáp huyện Hồnh Bồ; Phía Đơng - Đơng Bắc giáp thị xã Cẩm Phả;

Phía Tây - Tây Nam giáp huyện Yên Hưng. Phía Nam thơng ra biển, giáp vịnh Hạ Long và

TP Hải Phòng.



Địa giới TP Hạ Long ở toạ độ từ 200 55’ đến 210 05’ vĩ độ Bắc và từ 1060 50’ đến 1070

30’ kinh độ Đơng.

b. Địa hình

Thành phố Hạ Long có địa hình đa dạng và phức tạp, là một trong những khu vực hình

thành lâu đời nhất trên lãnh thổ Việt Nam, bao gồm cả đồi núi, thung lũng, vùng ven biển và

hải đảo, được chia thành 3 vùng rõ rệt:

- Vùng đồi núi bao bọc phía bắc và đơng bắc (phía bắc quốc lộ 18A) chiếm 70% diện tích

đất của Thành phố, có độ cao trung bình từ 150m đến 250m, chạy dài từ Yên Lập đến Hà Tu,

đỉnh cao nhất là 504m. Dải đồi núi này thấp dần về phía biển, độ dốc trung bình từ 15-20%,

xen giữa là các thung lũng nhỏ hẹp.

- Vùng ven biển ở phía nam quốc lộ 18A, độ cao trung bình từ 0,5 đến 5m.

- Vùng hải đảo là tồn bộ vùng vịnh, với gần hòn đảo lớn nhỏ, chủ yếu là đảo đá. Riêng đảo

Tuần Châu, rộng trên 400ha nay đã có đường nối với quốc lộ 18A dài khoảng 2km.

Qua khảo sát địa chất cho thấy, kết cấu địa chất của thành phố Hạ Long chủ yếu là đất

sỏi sạn, cuội sỏi, cát kết, cát sét… ổn định và có cường độ chịu tải cao, từ 2,5 đến

4,5kg/cm2, thuận lợi cho việc xây dựng các cơng trình.

c. Khí hậu

Thành phố Hạ Long thuộc khí hậu vùng ven biển, mỗi năm có 2 mùa rõ rệt, mùa đơng từ

tháng 11 đến tháng 4 năm sau, mùa hè từ tháng 5 đến tháng 10.

Nhiệt độ trung bình hằng năm là 23,7 0C, dao động không lớn, từ 16,7 oC đến 28,6oC. Về mùa

hè, nhiệt độ trung bình cao là 34,9oC, nóng nhất đến 38oC. Về mùa đơng, nhiệt độ trung bình

thấp là 13,7oC rét nhất là 5oC.

Lượng mưa trung bình một năm là 1832mm, phân bố khơng đều theo 2 mùa. Mùa hè,

mưa từ tháng 5 đến tháng 10, chiếm từ 80-85% tổng lượng mưa cả năm. Lượng mưa cao



nhất vào tháng 7 và tháng 8, khoảng 350mm. Mùa đơng là mùa khơ, ít mưa, từ tháng 11 đến

tháng 4 năm sau, chỉ đạt khoảng 15-20% tổng lượng mưa cả năm. Lượng mưa ít nhất là

tháng 12 và tháng 1, chỉ khoảng từ 4 đến 40mm.

Độ ẩm khơng khí trung bình hằng năm là 84%. Cao nhất có tháng lên tới 90%, thấp nhất

có tháng xuống đến 68%.

Do những đặc điểm về địa hình và vị trí địa lý, ở thành phố Hạ Long có 2 loại hình gió

mùa hoạt động khá rõ rệt là gió Đơng Bắc về mùa đơng và gió Tây Nam về mùa hè. Tốc độ

gió trung bình là 2.8m/s, hướng gió mạnh nhất là gió Tây Nam, tốc độ 45m/s.

Hạ Long là vùng biển kín nên ít chịu ảnh hưởng của những cơn bão lớn, sức gió mạnh

nhất trong các cơn bão thường là cấp 9, cấp 10. Cá biệt có cơn bão mạnh cấp 11.

d. Sơng ngòi và chế độ thủy triều

Các sơng chính chảy qua địa phận thành phố gồm có các sông Diễn Vọng, Vũ Oai, Man,

Trới, cả 4 sông này đều đổ vào vịnh Cửa Lục rồi chảy ra vịnh Hạ Long. Riêng sơng Míp đổ

vào hồ n Lập.

Các con suối chảy dọc sườn núi phía nam thuộc phường Hồng Gai, Hà Tu, Hà Phong. Cả

sông và suối ở thành phố Hạ Long đều nhỏ, ngắn, lưu lượng nước không nhiều. Vì địa hình

dốc nên khi có mưa to, nước dâng lên nhanh và thoát ra biển cũng nhanh.

Chế độ thuỷ triều của vùng biển Hạ Long, chịu ảnh hưởng trực tiếp của chế độ nhật triều

vịnh Bắc Bộ, biên độ dao động thuỷ triều trung bình là 3,6m. Nhiệt độ nước biển ở lớp bề

mặt trung bình là 180C đến 30.80C, độ mặn nước biển trung bình là 21,6% (vào tháng7) cao

nhất là 32,4% (vào tháng 2 và 3 hằng năm).

e. Tài nguyên thiên nhiên

- Tài nguyên khoáng sản: Đối với địa bàn thành phố Hạ Long bao gồm chủ yếu là than đá và

nguyên vật liệu xây dựng. Tổng trữ lượng than đá đã thăm dò được đến thời điểm này là trên

530 triệu tấn, nằm ở phía bắc và đông bắc Thành phố trên địa bàn các phường Hà Khánh, Hà



Lầm, Hà Trung, Hà Phong, Hà Tu (Đại Yên và Việt Hưng nằm trong vùng cấm hoạt động

khoáng sản). Loại than chủ yếu là than Antraxit và bán Antraxit. Bên cạnh đó là trữ lượng

sét phục vụ làm nguyên liệu sản xuất vật liệu xây dựng tại vùng Giếng Đáy, theo đánh giá

triển vọng trữ lượng hiện có khoảng trên 39 triệu tấn. Ngồi ra là đá vôi phục vụ làm nguyên

liệu xi măng và vật liệu xây dựng, tập trung tại phường Hà Phong và khu vực Đại Yên, theo

đánh giá trữ lượng hiện còn khoảng trên 15 triệu tấn có thể khai thác được. Bên cạnh đó, còn

có các khu vực có thể khai thác cát xây dựng tại ven biển phường Hà Phong, Hà Khánh, khu

vực sông trới tiếp giáp Hà Khẩu, Việt Hưng… tuy nhiên trữ lượng là không đáng để (đến

nay chưa có đánh giá thống kê cụ thể).

- Tài nguyên rừng: Theo số liệu thống kê, trên địa bàn thành phố có tổng diện tích đất rừng

là 5.862,08ha/tổng diện tích thành phố là 27.153,40 ha. Tỷ lệ che phủ của rừng đạt: 21,58 %.

Trong đó rừng trồng 5.445,69ha và rừng tự nhiên 416,39ha (bao gồm: rừng gỗ 27,94ha, rừng

tre nứa 17,31ha, rừng ngập mặn 371,14ha).

Bên cạnh đó là tài nguyên rừng của Vịnh Hạ Long rất phong phú, đặc trưng với tổng số

loài thực vật sống trên các đảo, núi đá khoảng trên 1.000 loài. Một số quần xã các loài thực

vật khác nhau bao gồm các loài ngập mặn, các loài thực vật ở bờ cát ven đảo, các loài mọc

trên sườn núi và vách đá, trên đỉnh núi hoặc mọc ở của hang hay khe đá. Các nhà nghiên cứu

của Hiệp hội Bảo tồn thiên nhiên thế giới đã phát hiện 7 loài thực vật đặc hữu của vịnh Hạ

Long. Những lồi này chỉ thích nghi sống ở các đảo đá vôi vịnh Hạ Long mà không nơi nào

trên thế giới có được, đó là: thiên tuế Hạ Long, khổ cử đại tím (Chirieta halongensis), cọ Hạ

Long (Livisona halongensis) khổ cử đại nhung (Chirieta hiepii), móng tai Hạ Long, ngũ gia

bì Hạ Long, hài vệ nữ hoa vàng. Ngồi ra, qua các tài liệu khác danh sách thực vật của vịnh

Hạ Long có 347 lồi, thực vật có mạch thuộc 232 chi và 95 họ: trên 477 loài mộc lan, 12 loài

dương xỉ và 20 loài thực vật ngập mặn. Trong số các loại trên, có 16 lồi đang nằm trong

danh sách đỏ của Việt Nam đã nguy cấp và sắp nguy cấp. Trong các loài thực vật quý hiếm,

có 95 lồi thuộc cây làm thuốc, 37 lồi cây làm cảnh, 13 lồi cây ăn quả và 10 nhóm có khả

năng sử dụng khác nhau.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Thực trạng cho thấy, công tác quản lý, xử lý chất thải rắn ở nước ta thời gian qua chưa được áp dụng theo phương thức quản lý tổng hợp, các giải pháp giảm thiểu, tái sử dụng, tái chế và thu hồi năng lượng từ chất thải còn chưa thực sự được chú trọng. Điều

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×