Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
PHẦN IV. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

PHẦN IV. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Tải bản đầy đủ - 0trang

Địa giới TP Hạ Long ở toạ độ từ 200 55’ đến 210 05’ vĩ độ Bắc và từ 1060 50’ đến 1070

30’ kinh độ Đơng.

b. Địa hình

Thành phố Hạ Long có địa hình đa dạng và phức tạp, là một trong những khu vực hình

thành lâu đời nhất trên lãnh thổ Việt Nam, bao gồm cả đồi núi, thung lũng, vùng ven biển và

hải đảo, được chia thành 3 vùng rõ rệt:

- Vùng đồi núi bao bọc phía bắc và đơng bắc (phía bắc quốc lộ 18A) chiếm 70% diện tích

đất của Thành phố, có độ cao trung bình từ 150m đến 250m, chạy dài từ Yên Lập đến Hà Tu,

đỉnh cao nhất là 504m. Dải đồi núi này thấp dần về phía biển, độ dốc trung bình từ 15-20%,

xen giữa là các thung lũng nhỏ hẹp.

- Vùng ven biển ở phía nam quốc lộ 18A, độ cao trung bình từ 0,5 đến 5m.

- Vùng hải đảo là tồn bộ vùng vịnh, với gần hòn đảo lớn nhỏ, chủ yếu là đảo đá. Riêng đảo

Tuần Châu, rộng trên 400ha nay đã có đường nối với quốc lộ 18A dài khoảng 2km.

Qua khảo sát địa chất cho thấy, kết cấu địa chất của thành phố Hạ Long chủ yếu là đất

sỏi sạn, cuội sỏi, cát kết, cát sét… ổn định và có cường độ chịu tải cao, từ 2,5 đến

4,5kg/cm2, thuận lợi cho việc xây dựng các cơng trình.

c. Khí hậu

Thành phố Hạ Long thuộc khí hậu vùng ven biển, mỗi năm có 2 mùa rõ rệt, mùa đơng từ

tháng 11 đến tháng 4 năm sau, mùa hè từ tháng 5 đến tháng 10.

Nhiệt độ trung bình hằng năm là 23,7 0C, dao động không lớn, từ 16,7 oC đến 28,6oC. Về mùa

hè, nhiệt độ trung bình cao là 34,9oC, nóng nhất đến 38oC. Về mùa đơng, nhiệt độ trung bình

thấp là 13,7oC rét nhất là 5oC.

Lượng mưa trung bình một năm là 1832mm, phân bố không đều theo 2 mùa. Mùa hè,

mưa từ tháng 5 đến tháng 10, chiếm từ 80-85% tổng lượng mưa cả năm. Lượng mưa cao



nhất vào tháng 7 và tháng 8, khoảng 350mm. Mùa đông là mùa khơ, ít mưa, từ tháng 11 đến

tháng 4 năm sau, chỉ đạt khoảng 15-20% tổng lượng mưa cả năm. Lượng mưa ít nhất là

tháng 12 và tháng 1, chỉ khoảng từ 4 đến 40mm.

Độ ẩm khơng khí trung bình hằng năm là 84%. Cao nhất có tháng lên tới 90%, thấp nhất

có tháng xuống đến 68%.

Do những đặc điểm về địa hình và vị trí địa lý, ở thành phố Hạ Long có 2 loại hình gió

mùa hoạt động khá rõ rệt là gió Đơng Bắc về mùa đơng và gió Tây Nam về mùa hè. Tốc độ

gió trung bình là 2.8m/s, hướng gió mạnh nhất là gió Tây Nam, tốc độ 45m/s.

Hạ Long là vùng biển kín nên ít chịu ảnh hưởng của những cơn bão lớn, sức gió mạnh

nhất trong các cơn bão thường là cấp 9, cấp 10. Cá biệt có cơn bão mạnh cấp 11.

d. Sơng ngòi và chế độ thủy triều

Các sơng chính chảy qua địa phận thành phố gồm có các sơng Diễn Vọng, Vũ Oai, Man,

Trới, cả 4 sông này đều đổ vào vịnh Cửa Lục rồi chảy ra vịnh Hạ Long. Riêng sơng Míp đổ

vào hồ n Lập.

Các con suối chảy dọc sườn núi phía nam thuộc phường Hồng Gai, Hà Tu, Hà Phong. Cả

sông và suối ở thành phố Hạ Long đều nhỏ, ngắn, lưu lượng nước không nhiều. Vì địa hình

dốc nên khi có mưa to, nước dâng lên nhanh và thoát ra biển cũng nhanh.

Chế độ thuỷ triều của vùng biển Hạ Long, chịu ảnh hưởng trực tiếp của chế độ nhật triều

vịnh Bắc Bộ, biên độ dao động thuỷ triều trung bình là 3,6m. Nhiệt độ nước biển ở lớp bề

mặt trung bình là 180C đến 30.80C, độ mặn nước biển trung bình là 21,6% (vào tháng7) cao

nhất là 32,4% (vào tháng 2 và 3 hằng năm).

e. Tài nguyên thiên nhiên

- Tài nguyên khoáng sản: Đối với địa bàn thành phố Hạ Long bao gồm chủ yếu là than đá và

nguyên vật liệu xây dựng. Tổng trữ lượng than đá đã thăm dò được đến thời điểm này là trên

530 triệu tấn, nằm ở phía bắc và đông bắc Thành phố trên địa bàn các phường Hà Khánh, Hà



Lầm, Hà Trung, Hà Phong, Hà Tu (Đại Yên và Việt Hưng nằm trong vùng cấm hoạt động

khoáng sản). Loại than chủ yếu là than Antraxit và bán Antraxit. Bên cạnh đó là trữ lượng

sét phục vụ làm nguyên liệu sản xuất vật liệu xây dựng tại vùng Giếng Đáy, theo đánh giá

triển vọng trữ lượng hiện có khoảng trên 39 triệu tấn. Ngồi ra là đá vơi phục vụ làm nguyên

liệu xi măng và vật liệu xây dựng, tập trung tại phường Hà Phong và khu vực Đại Yên, theo

đánh giá trữ lượng hiện còn khoảng trên 15 triệu tấn có thể khai thác được. Bên cạnh đó, còn

có các khu vực có thể khai thác cát xây dựng tại ven biển phường Hà Phong, Hà Khánh, khu

vực sông trới tiếp giáp Hà Khẩu, Việt Hưng… tuy nhiên trữ lượng là khơng đáng để (đến

nay chưa có đánh giá thống kê cụ thể).

- Tài nguyên rừng: Theo số liệu thống kê, trên địa bàn thành phố có tổng diện tích đất rừng

là 5.862,08ha/tổng diện tích thành phố là 27.153,40 ha. Tỷ lệ che phủ của rừng đạt: 21,58 %.

Trong đó rừng trồng 5.445,69ha và rừng tự nhiên 416,39ha (bao gồm: rừng gỗ 27,94ha, rừng

tre nứa 17,31ha, rừng ngập mặn 371,14ha).

Bên cạnh đó là tài nguyên rừng của Vịnh Hạ Long rất phong phú, đặc trưng với tổng số

loài thực vật sống trên các đảo, núi đá khoảng trên 1.000 loài. Một số quần xã các loài thực

vật khác nhau bao gồm các loài ngập mặn, các loài thực vật ở bờ cát ven đảo, các loài mọc

trên sườn núi và vách đá, trên đỉnh núi hoặc mọc ở của hang hay khe đá. Các nhà nghiên cứu

của Hiệp hội Bảo tồn thiên nhiên thế giới đã phát hiện 7 loài thực vật đặc hữu của vịnh Hạ

Long. Những lồi này chỉ thích nghi sống ở các đảo đá vôi vịnh Hạ Long mà không nơi nào

trên thế giới có được, đó là: thiên tuế Hạ Long, khổ cử đại tím (Chirieta halongensis), cọ Hạ

Long (Livisona halongensis) khổ cử đại nhung (Chirieta hiepii), móng tai Hạ Long, ngũ gia

bì Hạ Long, hài vệ nữ hoa vàng. Ngồi ra, qua các tài liệu khác danh sách thực vật của vịnh

Hạ Long có 347 lồi, thực vật có mạch thuộc 232 chi và 95 họ: trên 477 loài mộc lan, 12 loài

dương xỉ và 20 loài thực vật ngập mặn. Trong số các loại trên, có 16 lồi đang nằm trong

danh sách đỏ của Việt Nam đã nguy cấp và sắp nguy cấp. Trong các lồi thực vật q hiếm,

có 95 loài thuộc cây làm thuốc, 37 loài cây làm cảnh, 13 lồi cây ăn quả và 10 nhóm có khả

năng sử dụng khác nhau.



- Tài nguyên đất: Thành phố Hạ Long có tổng diện tích đất tự nhiên là 27.195,03 ha, bao

gồm các loại đất sau: Đất nông nghiệp 9544,86 ha; Đất phi nông nghiệp 16.254,92 ha, đất

chưa sử dụng 1395,25 ha.

- Tài nguyên biển: Với tổng diện tích 1.553km2 bao gồm 1969 hòn đảo lớn nhỏ, trong đó

989 đảo có tên và 980 đảo chưa có tên. Bên cạnh đó, vùng biển Hạ Long cũng rất phong phú

về các loại động vật và thực vật dưới nước. Theo nghiên cứu có 950 lồi cá, 500 lồi động

vật thân mềm và 400 lồi giáp xác, trong đó có nhiều lồi hải sản có giá trị kinh tế cao như

cá thu, cá nhụ, cá song, cá hồi, cá tráp, cá chim và tơm, cua, mực, ngọc trai, bào ngư, sò

huyết… 117 lồi san hơ thuộc 40 họ, 12 nhóm.

- Tài nguyên nước: Tài nguyên nước mặt tại thành phố Hạ Long tập trung tại các khu vực hồ

Yên Lập (tổng dung tích chứa của cả hồ bao gồm cả huyện Yên Hưng, Hoành Bồ khoảng

107.200.000m3 (thời điểm đo trong tháng 8/2010)), Hồ Khe Cá tại phường Hà Tu… đây là

nguồn cung cấp lớn nước tưới tiêu phục vụ sản xuất nơng nghiệp. Ngồi ra là các hồ điều

hòa tạo cảnh quan cho thành phố: Yết Kiêu, Ao Cá - Kênh Đồng …

4.1.2. Điều kiện kinh tế - xã hội thành phố Hạ Long

Dân số tồn bộ TP Hạ Long có 568.541 người người (trong đó nội thành là: 335.706

người) vào năm 2017. Số người trong độ tuổi lao động trong ngành công nghiệp mỏ là:

75.395 người (nội thành). Số người trong độ tuổi lao động chưa có việc làm chiếm tỷ lệ khá

cao: 11,5÷12%. Mật độ dân cư ở các đô thị tăng nhanh: năm 2010, thành phố Hạ Long là

1200 người/km2 , trung bình cả tỉnh 150 người/km2 ; năm 2017, Hạ Long 1339 người/km2

và toàn tỉnh 383 người/km2 . Sự gia tăng dân số đô thị đã tạo ra những sức ép lớn về nhu cầu

đất đai, tài nguyên và năng lượng, chăm sóc sức khoẻ, kéo theo đó là sức ép tới mơi trường

(MT) tự nhiên do rác thải, nước thải, khí thải, khai thác nguồn nước ngầm cho cấp nước và

điện sinh hoạt... (Niên giám thống kê thành phố Hạ Long, 2016).

Những năm gần đây trong xu thế phát triển chung của cả nước, kinh tế xã hội tỉnh Quảng

Ninh nói chung và TP Hạ Long nói riêng đã từng bước ổn định và phát triển. Kinh tế Hạ

Long đó có những bước tăng trưởng khá mạnh, khắc phục được tình trạng khó khăn trì trệ.

Tăng trưởng GDP của TP Hạ Long trong giai đoạn từ năm 2005 đến năm 2015 rất cao, bình



quân giai đoạn 2010 đến 2015, GDP tăng 12,88%, trong đó khu vực I (nông, lâm nghiệp và

thuỷ sản) tăng 8,67%, khu vực II (công nghiệp và xây dựng) tăng 14,99% và khu vực III

(dịch vụ) tăng 14,47%. Giai đoạn 2005 đến 2010, mức tăng khu vực I có xu hướng chậm lại

(tăng 5%), trong khi đó mức tăng của khu vực II và III vẫn duy trì ở mức cao (khu vực II

tăng 15%, khu vực III tăng 12,38%), như vậy mức tăng chung GDP của thành phố là 13,4%.

Thu nhập bình quân đầu người tháng năm 2014 là: 2.561.000 đồng/người/tháng (Ủy ban

nhân dân TP Hạ Long, 2016).

Với tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, theo hướng tăng dần tỷ trọng công nghiệp 30 và dịch

vụ trong khi hạ tầng kiến trúc chưa đáp ứng kịp, cơng nghệ sản xuất còn lạc hậu, kinh phí

dành cho các cơng trình BVMT rất hạn chế, đã và đang phát sinh nhiều vấn đề MT do các

hoạt động này gây ra như ô nhiễm MT khí; chất thải rắn, đặc biệt là chất thải mỏ; phá huỷ

cảnh quan tự nhiên; ô nhiễm sông suối, di sản...

Đến nay, về cơ bản các tuyến giao thông đến thành phố đã tạo thành một mạng lưới khá

hoàn chỉnh và được nâng cấp về cơ bản, một số dự án xây mới, cải tạo và nâng cấp đường bộ

đã hoàn thành. Hệ thống đường nội thị cũng đã được đầu tư nâng cấp mở rộng bao gồm cả

hệ thống vỉa hè, thốt nước, bê tơng hố tồn bộ hệ thống đường ở các khu dân cư.

4.2. Thực trạng phát sinh chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn TP Hạ Long

4.2.1. Nguồn gốc và thành phần chất thải rắn sinh hoạt

Chất thải rắn sinh hoạt tại thành phố Hạ Long được tạo ta từ nhiều nguồn khác nhau,

chủ yếu từ hộ gia đình, cơng sở, trường học, đường phố, khu thương mại, chợ… Các nguồn

phát sinh có khối lượng, thành phần khác nhau mang đặc trưng của từng khu vực. Nguồn

gốc và thành phần CTRSH phát sinh tại khu vự được thể hiện cụ thể trong bảng 4.1

Bảng 2.1. Nguồn gốc và thành phần CTRSH phát sinh tại thành phố Hạ Long

STT

1



Nguồn

Hộ gia đình



2



Khu thương mại



Thành phần

Thực phẩm thừa, đồ hộp, túi nilon, kim loại, thủy tinh,

… ngoài ra còn chứa một lượng chất thải độc hại như

pin, bơm kim tiêm y tế đã qua sử dụng…

Giấy tại các quán photo, hàng lưu niệm,… vải vụn từ

các cửa hàng may mặc, thực phẩm, rau quả, cơm canh

thừa, giấy lau,… từ các quán ăn, nhà hàng ăn uống,…

gỗ, thủy tinh, chai lọ…



3

4



Công sở, trường học

Đường phố



5

6



Chợ

Bệnh viện



Giấy vụn, túi nilon, chai, lon nước,…

Cành cây, lá cây, giấy vụn, bao gói nilon của các đồ

chế biến sẵn, xác động thực vật chết, ngồi ra còn một

lượng gạch, đất cát do sửa chữa nhà cửa, dọn dẹp đổ ra

đường

Rau, củ, quả hư hỏng, giấy gói, túi nilon, rơm, …

Thực phẩm, đồ hộp, giấy, vải, kim tiêm, bơng băng,

bao bì, vỏ chai lọ thuốc…

[Nguồn: UBND thành phố Hạ Long, 2017]



Qua bảng 4.1 cho thấy nguồn gốc và thành phần CTRSH trên địa bàn thành phố Hạ Long

– CTRSH từ hộ dân: Phát sinh từ các hộ gia đình, khu dân cư, khu trọ,…thành phần chủ yếu

là thực phẩm, đồ hộp, túi nilon, kim loại, thủy tinh,… ngồi ra còn chứa một lượng chất thải

độc hại như pin, bơm kim tiêm y tế đã qua sử dụng…

– CTRSH từ đường xá: Phát sinh từ các hoạt động đường phố, vui chơi giải trí và làm đẹp

cảnh quan. Nguồn CTR này do những người đi đường và những hộ dân sống dọc hai bên

đường vứt ra bừa bãi. Thành phần chủ yếu của chúng là cành cây, lá cây, giấy vụn, bao gói

nilon của các đồ chế biến sẵn, xác động thực vật chết, ngoài ra còn một lượng gạch, đất cát

do sửa chữa nhà cửa, dọn dẹp đổ ra đường.

– CTRSH khu thương mại: CTRSH phát sinh từ các hoạt động buôn bán cả các cửa hàng

bách hóa, siêu thị, nhà hàng, cửa hàng sửa chữa, may mặc… thành phần chất thải tại khu

vực này chủ yếu là giấy tại các quán photo, hàng lưu niệm,… vải vụn từ các cửa hàng may

mặc, thực phẩm, rau quả, cơm canh thừa, giấy lau,… từ các quán ăn, nhà hàng ăn uống,…

gỗ, thủy tinh, chai lọ…

– CTRSH phát sinh từ cơ quan, công sở, trường học: Trên địa bàn tp Hạ Long có hàng trăm

cơ quan, cơng sở có quy mơ từ nhỏ đến lớn. Thành phần CTRSH có thể tái chế và tái sử

dụng được chủ yếu là giấy vụn, túi nilon, chai, lon nước,…



– CTRSH từ chợ: nguồn này phát sinh từ các hoạt động mua bán ở chợ, thành phần chủ yếu

là rác hữu cơ như: rau, củ, quả hư hỏng, giấy gói, rơm, … thành phố có nhiều chợ với đủ

quy mơ nên lượng CTRSH phát sinh từ nguồn này tương đối lớn.

– CTRSH từ bệnh viện: Đóng trên địa bàn thành phố có 2 cơ sở y tế lớn là Bệnh viện đa

khoa tỉnh và bệnh viện phụ sản cùng nhiều trạm y tế phường. CTR trong bệnh viện gồm:

CTR sinh hoạt: phát sinh trong sinh hoạt của cán bộ và bệnh nhân (thực phẩm, đồ hộp, giấy,

vải…); CTR y tế: phát sinh trong quá trình điều trị của bệnh nhân (kim tiêm, bơng băng, bao

bì, vỏ chai lọ thuốc…

4.2.2. Thực trạng phát sinh chất thải rắn sinh hoạt

Nghiên cứu đã tham khảo số liệu từ Ban dịch vụ Cơng ích thành phố Hạ Long (đơn vị

được giao quản lý chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn thành phố Hạ Long) thì trong năm

2017 tổng lượng rác thải phát sinh tại thành phố Hạ Long với 20 phường (568.541 người) là

682.249 kg/ngày. Như vậy, trung bình một ngày tại thành phố Hạ Long lượng CTR sinh hoạt

được thải ra là: 1,2 kg/người/ngày.

Tỷ lệ phát sinh chất thải rắn sinh hoạt tại 20 phường TP Hạ Long được thể hiện ở Hình 4.1

dưới đây.



Hình 4.1. Lượng CTRSH phát sinh tại 20 phường của TP Hạ Long



(Nguồn: Ban dịch vụ Cơng ích thành phố Hạ Long, năm 2016)

Hình 4.1 cho thấy, khối lượng CTRSH phát sinh nhiều nhất là phường Bãi Cháy với khối

lượng 20,08 tấn/ngày, đây là phường có số dân đông nhất và người dân sống chủ yếu bằng

hoạt động thương mại, kinh doanh, buôn bán, dịch vụ du lịch. Vào những dịp lễ hội, khối

lượng rác tăng lên đáng kể vì đây là điểm đến của nhiều khách du lịch trong nước và khách

nước ngồi. Lượng CTRSH ít nhất là phường Tuần Châu (2,86 tấn/ngày), do phường này

nằm xa khu trung tâm thành phố và có dân số ít (1527 người), người dân sinh sống chủ yếu

bằng việc buôn bán hàng hóa cho khách du lịch.

4.3. Tình hình quản lý chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn thành phố Hạ Long

4.3.1. Cơ cấu tổ chức trong quản lý chất thải rắn sinh hoạt tại địa phương

4.3.1.1. Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý chất thải rắn sinh hoạt

Hiện nay công tác quản lý CTRSH chưa được tách riêng ra thành một mảng riêng để

quản lý, từ trung ương đến địa phương chưa có cán bộ chuyên trách phân cơng quản lý theo

nguồn thải, tính chất của chất thải. Do đó cơ cấu tổ chức quản lý CTRSH nằm trong cơ cấu

tổ chức quản lý môi trường. Cơ quan quản lý về mơi trường có trách nhiệm quản lý, kiểm

sốt tình hình phát sinh chất thải trong đó có chất thải rắn sinh hoạt.

Quản lý chất thải rắn sinh hoạt ở cấp thành phố Hạ Long có sự điều phối của các cơ quan

quản lý sau:

- UBND tỉnh Quảng Ninh có chức năng điều hành, giám sát, xử lý hoặc ủy thác cho một cơ

quan dưới quyền xử lý những vấn đề liên quan đến CTR .

- Sở Tài ngun và Mơi trường tỉnh có chức năng quản lý, tham mưu cho UBND tỉnh Quảng

Ninh giải quyết vấn đề liên quan đến chất thải rắn trên địa bàn tỉnh, thẩm định báo cáo đánh

giá tác động môi trường đối với dự án xây dựng cơng trình xử lý chất thải có quy mơ, cơng

suất theo quy định của pháp luật.

- Sở Xây dựng thẩm định thiết kế công trình xử lý CTR sinh hoạt.

- Sở Tài chính là đơn vị quản lý nguồn ngân sách của tỉnh, quyết định đến nguồn vốn xây

dựng cơng trình.



- Phòng Tài ngun và Môi trường thành phố là cơ quan chuyên môn có trách nhiệm tham

mưu cho UBND thành phố về vấn đề liên quan đến đất đai, môi trường và trực tiếp quản lý

lĩnh vực môi trường trên địa bàn thành phố trong đó có quản lý CTR sinh hoạt.

- Cơ quan chun mơn cấp dưới là Ban địa chính – xây dựng của các xã, phường với nòng

cốt là cán bộ địa chính xây dựng, mơi trường.

Biểu thị cơ cấu tổ chức quản lý CTRSH thành phố Hạ long qua hình 4.3:



Hình 4.2. Sơ đồ tổ chức quản lý nhà nước về mơi trường của TP Hạ Long

Hình 4.2 cho thấy: Bộ máy cơ quan quản lý về CTRSH còn chưa rõ ràng về quản lý và tổ

chức: Sự phân công, phân nhiệm của các ngành trong quản lý chất thải rắn hiện còn chưa

được rõ ràng, chưa thấy được vai trò của các cấp trong hệ thống quản lý. Hoạt động giám sát

của nhà nước về chất thải rắn còn chưa đầy đủ.

4.3.1.2. Cơ cấu tổ chức của đơn vị môi trường

Chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn thành phố Hạ Long hiện nay được giao cho Phòng

tài ngun mơi trường thành phố Hạ Long, Phòng quản lý đô thị thành phố Hạ Long thực



hiện chức năng quản lý nhà nước. Ban quản lý các dịch vụ công ích Thành phố được ủy

quyền ký hợp đồng với đơn vị thực hiện thu gom, vận chuyển, xử lý chất thải rắn. Trước

tháng 2/2010 toàn bộ lượng rác thải sinh hoạt trên địa bàn thành phố được Công ty CP Môi

trường Đô thị INDEVCO thu gom, vận chuyển rác thải đến 2 bãi rác Đèo Sen và Hà Khẩu

còn Cơng ty cổ phần môi trường đô thị Hạ Long quản lý và xử lý rác tại 2 bãi rác. Tuy

nhiên, từ sau tháng UBND TP Hạ Long Phòng TNMT TP Hạ Long Phòng ban khác UBND

Cán bộ địa chính-xây dựng, mơi trường của xã, phường UBND tỉnh QuảngNinh Các TT,

phòng ban Sở TNMT tỉnh Quảng Ninh Sở, ngành khác Chi cục BVMT TT quan trắc, phân

tích MT 2/2010 các hoạt động thu gom vận chuyển và quản lý bãi rác đã được chuyển hết

cho Công ty CP Môi trường Đô thị INDEVCO thu gom rác trên địa bàn thành phố Hạ Long.

Như vậy, hiện nay Công ty CP Môi trường đô thị Indevco đang là đơn vị thực hiện hoạt động

thu gom chất thải rắn sinh hoạt tại cả thành phố Hạ Long.

Cơ cấu tổ chức của Công ty CP Mơi trường Đơ thị INDEVCO được thể hiện theo hình

4.3 dưới đây



Hình 1.3. Quy trình thu gom CTR sinh hoạt



(Nguồn: Cơng ty CP Mơi trường Đơ thị INDEVCO, 2018)

Hình 4.3 cho thấy bộ máy quản lý Công ty CP Môi trường Đơ thị INDEVCO tương đối

gọn gàng, có phân cơng rõ ràng từng bộ phận, có phân chia cụ thể từng khu vực quản lý.

Đây là mơ hình khá tiên tiến do doanh nghiệp tư nhân thực hiện, cần mở rộng phát huy cho

các doanh nghiệp khác học tập.

4.3.2. Thực trạng thu gom chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn thành phố Hạ Long

4.3.2.1. Nhân lực bố trí thu gom chất thải rắn sinh hoạt

Phòng điều hành sản xuất Trung tâm thành phố Hạ Long quản lý 18 tổ vệ sinh môi

trường. Các tổ vệ sinh này phụ trách các hoạt động duy trì vệ sinh đường phố và các ngõ

xóm trên địa bàn 12 phường phía Đơng thành phố Hạ Long với tổng số lượng công nhân là

232 người. Số lượng công nhân vệ sinh môi trường tại khu vực được thể hiện ở bảng 4.2 sau

đây:

Bảng 4.2. Tổng hợp số lượng công nhân tại các tổ vệ sinh quản lý trên địa bàn phái

Đông thành phố Hạ Long

STT Khu vực quản lý

1

2

3

4

5

6

7

8

9

10

11

12

13



Bạch Đằng

Hồng Hải

Hồng Hà

Hồng Gai

Trần Hưng Đạo

Yết Kiêu

Cao Xanh

Hà Khánh

Cao Thắng

Hà Lầm

Hà Trung

Hà Tu

Hà Phong



Đội vệ sinh



Số lượng công nhân



Tổ 2, tổ 5

23

Tổ 6, tổ 16, tổ 18

42

Tổ 7, tổ 12, tổ 18

32

Tổ 1, tổ 2

16

Tổ 8

8

Tổ 8, tổ 10

12

Tổ 3

22

Tổ 15

7

Tổ 9, tổ 16, tổ 17

32

Tổ 9

9

Tổ 14

6

Tổ 11

14

Tổ 13

10

Tổng

232

(Nguồn: Công ty CP Môi trường Đô thị INDEVCO, 2017)



Số lượng công nhân môi trường bố trí cho các phường được thể hiện qua hình 4.4 như sau:



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

PHẦN IV. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×