Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Phân loại hợp đồng

Phân loại hợp đồng

Tải bản đầy đủ - 0trang

Hợp đồng phụ: Là hợp đồng mà hiệu lực phụ tḥc vào họp đờng chính.

Theo đó, hợp đờng phụ có chức năng hỗ trợ, bảo đảm cho việc thực hiện hợp

đờng chính, hợp đờng phụ được thực hiện khi hợp đờng chính khơng được thực

hiện hoặc chỉ được thực hiện một phần khi đến hạn. Cũng vì vậy, nếu hợp đờng

chính vơ hiệu thì hợp đờng phụ cũng vơ hiệu, trừ trường hợp hợp đờng chính vơ

hiệu nhưng đã được thực hiện toàn bộ hoặc một phần.

Chẳng hạn, giữa hợp đồng vay tài sản với hợp đồng thế chấp tài sản để bảo

đảm thực hiện hợp đồng vay thì hợp đờng vay tài sản là hợp đờng chính, hợp đờng

thế chấp tài sản là hợp đồng phụ. Trong trường hợp hợp đồng vay vô hiệu và chưa

được thực hiện thì hợp đồng thế chấp cũng bị vô hiệu. Nếu hợp đồng vay vô hiệu

nhưng bên cho vay đã chuyển tài sản cho bên vay thì hợp đồng thế chấp vẫn có

hiệu lực pháp luật và bên nhận thế chấp phải bảo đảm việc trả lại tài sản vay mà

bên vay đã nhận.

Thứ hai: Phân loại hợp đồng dựa vào quyền và nghĩa vụ của các bên và ý

nghĩa của việc phân loại

Căn cứ vào quyền và nghĩa vụ của các bên, hợp đồng được phân thành hai

loại sau:

Hợp đồng đơn vụ: Là hợp đồng làm phát sinh quan hệ nghĩa vụ giữa các bên

tham gia hợp đồng mà trong quan hệ nghĩa vụ đó chỉ một bên có nghĩa vụ.

Hợp đồng song vụ: Là hợp đồng làm phát sinh quan hệ nghĩa vụ giữa các bên

tham gia hợp đồng mà trong quan hệ nghĩa vụ đó mỗi bên đều có nghĩa vụ đối với

nhau.

Như vậy, khi xác định một hợp đồng là đơn vụ hay song vụ phải dựa vào

quyền và nghĩa vụ của các bên kể từ thời điểm có hiệu lực của hợp đờng (chính là



6



thời điểm phát sinh quan hệ nghĩa vụ giữa các bên). Vì vậy, có thể cùng loại hợp

đồng nhưng ở trường hợp này là hợp đồng song vụ, ở trường hợp khác lại là hợp

đồng đơn vụ. Chẳng hạn, hợp đồng cho vay được thỏa thuận là có hiệu lực từ thời

điểm các bên cùng ký vào văn bản hợp đồng thì hợp đồng vay này là hợp đồng

song vụ vì từ thời điểm đó đã phát sinh một quan hệ nghĩa vụ và trong đó cả bên

cho vay và bên vay đều có nghĩa vụ (bên cho vay có nghĩa vụ giải ngân, bên vay

có nghĩa vụ trả nợ). Nếu hợp đồng cho vay được thỏa thuận là chỉ có hiệu lực khi

bên cho vay đã chuyển tài sản vay cho bên vay thì hợp đồng vay này là hợp đồng

đơn vụ vì vào thời điểm hợp đồng có hiệu lực, bên cho vay không còn nghĩa vụ.

Thứ ba: Phân loại hợp đồng dựa vào sự trao đổi ngang giá và ý nghĩa của

việc phân loại

Hợp đồng có đền bù: Là hợp đờng mà trong đó, mợt bên nhận được lợi ích từ

bên kia chuyển giao thì phải chuyển giao lại cho bên kia mợt lợi ích tương ứng.

Hợp đờng khơng có đền bù: Là hợp đồng mà trong đó, một bên nhận được lợi

ích do bên kia chủn giao nhưng khơng phải chuyển giao lại bất kỳ lợi ích nào.

Như vậy, căn cứ vào sự trao đổi ngang giá (có đi có lại về lợi ích giữa các

bên) để xác định hợp đồng nào là có đền bù, hợp đồng nào là không có đền bù.

Chẳng hạn, hợp đồng mua bán tài sản luôn luôn là hợp đồng có đền bù vì khi

bên mua nhận được tài sản do bên bán chuyển giao thì phải chuyển giao lại cho

bên bán một khoản tiền tương đương với giá trị tài sản đã nhận; hợp đồng cho vay

có lãi là hợp đồng có đền bù vì khi bên vay nhận được lợi ích là được sở hữu vốn

vay trong thời hạn nhất định thì phải chuyển giao cho bên cho vay một khoản lợi

ích là tiền lãi tương ứng với vớn vay và thời gian vay; hợp đồng cho vay không có

lãi là hợp đồng không có đền bù vì bên vay nhận được lợi ích là được sở hữu vớn

vay trong mợt thời hạn nhất định nhưng không phải chuyển giao cho bên cho vay

7



mợt lợi ích nào tương ứng với việc được sở hữu khoản vay trong thời hạn nhất

định.

Thứ tư: Phân loại hợp đờng theo thời điểm có hiệu lực

Hợp đồng ưng thuận: Là hợp đồng có hiệu lực trước thời điểm các bên

chuyển giao đối tượng của hợp đồng cho nhau.

Ví dụ: Hợp đờng mua bán tài sản có hiệu lực từ thời điểm giao kểt, các bên có

nghĩa vụ chuyển giao tài sản và trả tiền cho nhau sau thời điểm này là một hợp

đồng ưng thuận.

Hợp đồng thực tế: Là hợp đồng chỉ có hiệu lực khi các bên đã chuyển giao đối

tượng của hợp đồng cho nhau.

Ví dụ: Họp đờng tặng cho ln là hợp đờng thực tế, vì pháp luật đã quy định

hợp đồng này chỉ có hiệu lực vào thời điểm bên được tặng cho đã nhận được tài

sản tặng cho.

Hợp đồng luôn là một công cụ quan trọng, được sử dụng rộng rãi nhằm phục

vụ nhu cầu và lợi ích khác nhau của các tổ chức, cá nhân trong xã hội. Liên quan

đến quy định về giai đoạn tiền hợp đồng và điều kiện có hiệu lực của hợp đồng, Bộ

luật Dân sự (BLDS) năm 2015 đã có những thay đổi phù hợp để tạo thuận lợi tối

đa cho các bên tham gia giao dịch.

4. Quy định về điều kiện có hiệu lực của hợp đồng

Một trong những nội dung có ý nghĩa quan trọng để hợp đồng có thể được xác

định là một căn cứ pháp lý phát sinh nghĩa vụ là nội dung liên quan đến các điều

kiện có hiệu lực của hợp đồng. Theo BLDS 2015, có 4 điều kiện về hiệu lực của

hợp đồng.



8



Điều kiện về chủ thể giao kết hợp đồng được quy định tại Điều 117 BLDS

2015 “Chủ thể có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự phù hợp với

giao dịch dân sự được xác lập”.

Việc sử dụng thuật ngữ “chủ thể” thay cho thuật ngữ “người tham gia giao

dịch” như ở BLDS 2005 cho thấy được sự toàn diện và cách hiểu thống nhất về

những đối tượng có thể tham gia xác lập giao dịch, tránh được cách hiểu phiến diện

chỉ là cá nhân.

Điều kiện về tính tự nguyện của chủ thể khi giao kết hợp đồng được quy định

“chủ thể tham gia giao dịch hoàn toàn tự nguyện”. Điều này thể hiện một phần

nguyên tắc “tự do hợp đồng” trong lý luận về hợp đồng truyền thống, được hiểu là

ý chí bên trong của mỗi chủ thể và sự thể hiện ý chí đó ra bên ngoài có sự thớng

nhất với nhau. Khi vi phạm điều kiện về tính tự nguyện, hợp đồng có khả năng bị

tuyên bố vô hiệu.

Mục đích và nợi dung của hợp đờng cũng là mợt trong những yêu cầu cần

phải đáp ứng khi xem xét tính có hiệu lực của mợt hợp đờng. Theo ngun tắc

chung, “việc xác lập, thực hiện quyền và nghĩa vụ dân sự khơng được xâm phạm

đến lợi ích Nhà nước, lợi ích cơng cợng, qùn và lợi ích hợp pháp của người

khác”. Từ “và” ở đây được sử dụng thể hiện tính chặt chẽ trong quy định pháp ḷt

về nợi dung này mà những chủ thể tham gia xác lập hợp đồng phải đảm bảo.

Khác với ba điều kiện trên, điều kiện về hình thức không phải là điều kiện có

hiệu lực đới với mọi hợp đờng: “Hình thức của giao dịch dân sự là điều kiện có

hiệu lực của giao dịch dân sự trong trường hợp luật có quy định”. Việc sửa đổi

thuật ngữ “pháp luật” thành “luật” mang lại một ý nghĩa to lớn khi quy định hình

thức hợp đồng trong các văn bản dưới luật không có giá trị áp dụng, tạo thuận lợi



9



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Phân loại hợp đồng

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×