Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU

TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU

Tải bản đầy đủ - 0trang

5



tương lai, lập kế hoạch và ra quyết định. Đánh giá nói chung là tìm kiếm xác

định hiệu quả, hiệu lực, tác động, bền vững và thích hợp của dự án hoặc mục

tiêu của tổ chức. Một đánh giá có thể cung cấp thơng tin hữu ích và tin cậy,

đưa ra bài học kinh nghiệm cụ thể để giúp cho các đối tác và các tổ chức

chuyên môn thực hiện các quyết định một cách đúng đắn.

- Đánh giá (Appraisal): đánh giá có liên quan đến chỉ tiêu quyết định đã được

thiết lập, gồm tính khả thi và tính có thể chấp nhận được của một dự án hoặc

chương trình ưu tiên với các thỏa thuận về ngân sách. Các chỉ tiêu hay tiêu chí

thơng thường bao gồm tính thích ứng và tính bền vững. Một đánh giá có thể quan

hệ với sự xem xét các lựa chọn như một phần của tiến trình chọn lọc.

- Đánh giá dự án là nhìn nhận và phân tích tồn bộ q trình triển khai

thực hiện dự án, các kết quả thực hiện cũng như hiệu quả thực tế đạt được của

dự án trong mối quan hệ với nhiều yếu tố, so sánh với mục tiêu ban đầu.

- Đánh giá là so sánh những gì đã thực hiện bằng nguồn lực của thơn

bản và những hỗ trợ từ bên ngồi với những gì thực sự đã đạt được.

- Đánh giá để khẳng định sự thành công hay thất bại của các hoạt động

khuyến nông so với kế hoạch ban đầu.

* Khái niệm thị trường

- Thị trường là nơi người mua và người bán mua và bán hàng hóa và

dịch vụ. Theo định nghĩa này chợ là thị trường.

- Chợ là nơi công cộng, hợp pháp để người mua và người bán tụ họp tại

một địa điểm có ranh giới, trong một thời gian nhất định. Theo định nghĩa này

sẽ có một địa điểm họp chợ. Người có hàng mang ra chợ bán, người mua

hàng đến chợ để mua. Chợ họp trong một thời gian nhất định. Chợ có thể

chuyên bán một hàng hóa nào đó, có thể chỉ họp chợ vào một dịp nào đó (chợ

phiên). Chợ có thể là nơi người bán người mua gặp nhau ở chợ để giới thiệu,



6



tìm hiểu hàng hóa, đàm phán mua bán. Thơng thường chợ thường phân loại

thành: chợ đầu mối, chợ bán buôn, chợ bán lẻ.

- Thị trường là tập hợp người mua.

- Thị trường là một cơ chế phân bố nguồn lực, quy định sản xuất và

phân phối sản phẩm, dịch vụ thông qua hệ thống giá cạnh tranh. Đây là cách

hiểu thị trường mà các nhà kinh tế tân cổ điển thường nói đến và thị trường

được coi là kinh tế đối ngược lại với cơ chế điều tiết bằng mệnh lệnh,... hay

kế hoạch hóa tập trung. Lý thuyết kinh tế tân cổ điển chứng minh rằng nếu

các điều kiện cho cạnh tranh hoàn hảo được thỏa mãn, từng thị trường riêng lẻ

sẽ đạt trạng thái cân bằng, tức trạng thái tối ưu về kinh tế. Khái niệm cơ chế

thị trường lúc này có thể coi là đồng nghĩa với khái niệm thị trường trên đây.

- Thị trường là một thể chế kinh tế (economic institution) để thực hiện

các giao dịch kinh tế. Đây là cách tiếp cận của kinh tế học về chi phí giao dịch

(transaction cost economics), hay đơi khi còn gọi là kinh tế học thể chế mới

(new institutional economics), theo đó thị trường và doanh nghiệp được coi là

các thể chế thay thế nhau để thực hiện các giao dịch. Một giao dịch kinh tế có

thể được tổ chức thực hiện trong nội bộ doanh nghiệp (tự làm), hoặc có thể

thực hiện thơng qua thị trường (th/mua ngồi). Chi phí để thực hiện giao

dịch thơng qua thị trường (chi phí giao dịch) càng lớn thì giao dịch càng có xu

hướng được thực hiện trong nội bộ doanh nghiệp.

- Thị trường chứa tổng số cung, tổng số cầu và cơ cấu của tổng số cung

và cầu về một loại hàng, nhóm hàng nào đó. Thị trường bao gồm cả yếu tố

không gian và thời gian. Trên thị trường luôn diễn ra các hoạt động mua bán

và quan hệ tiền tệ.

- Thị trường là nhu cầu về sản phẩm và dịch vụ. Nói cách khác, thị

trường là một nhóm người có nhu cầu cụ thể và sẵn sàng trả tiền nhằm thỏa

mãn các nhu cầu đó.



7



* Khái niệm sản xuất

- Liên hiệp quốc khi xây dựng phương pháp thống kê tài khoản quốc gia

đã đưa ra định nghĩa sau về sản xuất: Sản xuất là quá trình sử dụng lao động và

máy móc thiết bị của các đơn vị thể chế (một chủ thể kinh tế có quyền sở hữu

tích sản, phát sinh tiêu sản và thực hiện các hoạt động, các giao dịch kinh tế với

những thực thể kinh tế khác) để chuyển những chi phí là vật chất và dịch vụ

thành sản phẩm là vật chất và dịch vụ khác. Tất cả những hàng hóa và dịch vụ

được sản xuất ra phải có khả năng bán trên thị trường hay ít ra cũng có khả năng

cung cấp cho một đơn vị thể chế khác có thu tiền hoặc khơng thu tiền.

- Sản xuất hay sản xuất của cải vật chất là hoạt động chủ yếu trong các

hoạt động kinh tế của con người. Sản xuất là quá trình làm ra sản phẩm để sử

dụng, hay để trao đổi trong thương mại. Quyết định sản xuất dựa vào những

vấn đề chính sau: sản xuất cái gì? sản xuất như thế nào? sản xuất cho ai? giá

thành sản xuất và làm thế nào để tối ưu hóa việc sử dụng và khai thác các

nguồn lực cần thiết làm ra sản phẩm.

- Sản xuất là q trình chuyển hóa các yếu tố đầu vào biến chúng thành

các các sản phẩm hoặc dịch vụ ở đầu ra. Theo nghĩa rộng sản xuất bao hàm

bất kỳ hoạt động nào nhằm thỏa mãn nhu cầu con người. Nó phân thành:

+ Sản xuất bậc 1 (sản xuất sơ chế): là hình thức sản xuất dựa vào khai

thác tài nguyên thiên nhiên hoặc là những hoạt động sử dụng những nguồn tài

ngun có sẵn, còn ở dạng tự nhiên như: khai thác khoáng sản, khai thác lâm

sản, khai thác thủy sản, trồng trọt, chăn nuôi,…

+ Sản xuất bậc 2 (cơng nghiệp chế biến) là hình thức sản xuất chế tạo,

chế biến các loại nguyên liệu thô hay tài nguyên thiên nhiên biến thành hàng

hóa như: chế biến thực phẩm, rau quả,…

+ Sản xuất bậc 3 (công nghiệp dịch vụ): Cung cấp hệ thống các dịch vụ

nhằm thỏa mãn nhu cầu đa dạng của con người.



8



2.1.2. Cơ sở thực tiễn

2.1.2.1. Giá trị kinh tế của cây cam sành

Những năm gần đây, trong công cuộc đổi mới, Đảng rất chú trọng phát

triển nơng nghiệp, khuyến khích phát triển kinh tế nông thôn, ưu tiên phát

triển những ngành nghề như chăn nuôi, trồng trọt... tạo nên sự cân đối hài hòa

giữa ngành nơng, lâm, ngư nghiệp.

Trong giai đoạn hiện nay nghề trồng cây ăn quả được xác định là một

ngành kinh tế quan trọng trong ngành kinh tế nông nghiệp nước ta đặc biệt là

trong nơng thơn, nó đã góp phần làm thay đổi bộ mặt nông thôn, tăng thu

nhập cho hộ, tạo công ăn việc làm cho lực lượng lao động dư thừa.

Phát triển sản xuất cam thúc đẩy q trình sản xuất hàng hóa trong nơng

nghiệp nơng thơn, góp phần chuyển nền sản xuất tự cung tự cấp sang nền kinh tế

sản xuất hàng hóa, góp phần xóa đói giảm nghèo trong nơng thơn hiện nay, từng

bước nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho người dân ở nông thôn.

Phát triển sản xuất cam là một khâu quan trọng thúc đẩy q trình cơng

nghiệp hóa - hiện đại hóa nền sản xuất nơng nghiệp. Sản phẩm sản xuất có giá

trị và nhu cầu tiêu thụ cao và có thể xuất khẩu để thu ngoại tệ về cho nước ta.

Qua đây có thể nhìn thấy phát triển sản xuất cam, quýt ở khu vực nông

thôn đã và đang được Đảng, Nhà nước và các cấp chính quyền địa phương,

tạo điều kiện phát triển nhằm thúc đẩy kinh tế ở địa phương, giúp người dân

có cơng ăn việc làm, tăng thu nhập cho hộ, xóa đói giảm nghèo...

2.1.2.2. Đặc điểm chung của cây cam sành

* Đặc điểm sinh học

Theo Vũ Cơng Hậu (1996) cho rằng: tuổi thọ cây có múi thường cao,

đặc biệt là nơi có khí hậu ơn hòa, đất tốt nhưng có độ dốc thốt nước tốt. Ở

các vườn cam á nhiệt đới hoặc nhiệt đới nếu trồng đúng kỹ thuật, chọn địa

điểm thích hợp, tuổi thọ vườn cam là 30 - 40 năm.



9



+ Rễ: Sự phân bố của rễ cam phụ thuộc vào đặc tính của giống, mực

nước ngầm và chế độ canh tác, chăm bón nhưng nhìn chung rễ cam ăn nơng

từ 0 - 30cm. Sự hoạt động của rễ cam hoạt động theo chu kỳ nhất định, có 3

thời kỳ rễ hoạt động mạnh: Trước khi ra cành mùa xuân (khoảng tháng 2, đầu

tháng 3); Sau khi rụng quả sinh lý đợt đầu đến lúc cành hè xuất hiện (tháng 6

- đầu tháng 9); Sau khi cành mùa thu đã sung sức (khoảng tháng 10).

+ Thân, cành: Cam có đặc điểm tự rụng ngọn, nó liên tục xảy ra đối với

các đợt lộc khiến cho cam khơng có thân chính rõ rệt, cành lá rậm rạp... Trong

một năm, cam ra nhiều đợt cành: Cành xuân nẩy vào tháng 2, 3, 4; cành hè

nẩy vào tháng 6, 7, 8; cành thu nẩy vào tháng 9, 10; cành đông nẩy vào tháng

11, 12 và tháng 1 năm sau. Tùy từng giống, tùy từng tuổi cây, tùy điều kiện

khí hậu và chăm sóc mà lượng cành và thời gian ra các đợt cành này có sự

thay đổi: cành non có thể quang hợp được; cành xuân ra đều và tập trung,

cành ngắn; cành hè thường khỏe, lá to, dài nhưng ra rải rác hơn; cành thu yếu

hơn cành hè và cành đơng thì yếu ớt nhất.

+ Lá: Cam có lá kép, cành lá là một đặc điểm để phân biệt giữa các

giống. Trung bình từ 15 - 24 tháng, hết thời kỳ sinh trưởng thì lá rụng rải rác.

Lá quan hệ chặt chẽ với sản lượng quả, vậy cần phải giữ bộ lá xanh tốt.

+ Hoa: Hoa có 2 loại:

Hoa đủ: là hoa có cánh dài, màu trắng mọc thành chùm hoặc đơn độc số

nhị gấp 4 lần số cánh hoa, xếp 2 vòng, nhị cái có vòi nhị. Bầu có 10 - 14 ơ

múi tùy thuộc từng loại.

Hoa dị hình: Là hoa phát triển khơng đầy đủ, cuống hoa và cánh ngắn hoa

ngắn hoặc vẹo vọ không đồng đều, số này chiếm 10 - 20 % hầu hết khơng kết quả.

+ Quả: Khi còn xanh chứa nhiều axit khi chín thì lượng axit giảm, hàm

lượng đường và chất tan tăng lên. Cấu tạo quả gồm có 3 phần:

- Vỏ quả: Có các tế bào sừng và các túi tinh dầu có tác dụng bảo vệ quả.



10



- Thịt quả: màu sắc thịt quả và số ô múi khác nhau tùy vào giống.

- Hạt: Tùy theo giống mà có sự khác nhau về kích thước, số lượng, màu

sắc và phơi hạt.

Quả có 2 đợt rụng sinh lý:

- Đợt 1: Sau khi ra hoa khoảng 1 tháng (tháng 3 - 4) quả còn nhỏ khi

rụng mang theo cả cuống.

- Đợi 2: Khi quả đạt đường kính 3 - 4cm (cuối tháng 4) quả rụng không

mang theo cuống.

* Yêu cầu ngoại cảnh

+ Nhiệt độ: Phần lớn cam không chịu được nhiệt độ thấp, cây sinh

trưởng tốt trong điều kiện nhiệt độ từ 13 0C - 300 C, phù hợp nhất từ 23 0C 290C. Nếu nhỏ hơn 10 0C và lớn hơn 35 0C thì cây sinh trưởng chậm. Nếu

nhiệt độ cao đồng thời khơ hạn và có sương muối kéo dài sẽ gây ảnh hưởng

đến sinh trưởng của cam và gây dụng quả.

+ Mưa và độ ẩm: Nước cần cho suốt quá trình sinh trưởng của cam

nhưng cần nhất vào lúc nảy mầm. Ở nước ta có lượng mưa phù hợp cho sinh

trưởng và phát triển của cây cam. Tuy nhiên, phân bố không đồng đều trong

năm, mùa khô phải tưới ẩm cho cây, mức nước ngầm cao hoặc ngập úng sẽ

làm rễ thối, lá rụng.

+ Ánh sáng: Cam là cây ưa sáng, nếu đủ ánh sáng thì mã quả đẹp, chất

lượng tốt, nếu cường độ ánh sáng quá mạnh mẽ làm xám quả.

+ Đất đai: Các giống cam có yêu cầu khác nhau về đất, nhưng đất trồng

cam tốt nhất là phù sa cổ, đất thịt nhẹ tầng đất dầy, nhiều mùn, có độ pH từ

5,5 - 6,5. Mực nước ngầm thấp, độ dốc vừa phải không quá 15 0 tránh trồng

trên đất sét hoặc đất có mực nước ngầm cao.

+ Dinh dưỡng: Cam là cây cho sản lượng cao nên yêu cầu nhiều dinh

dưỡng để cây sinh trưởng và phát triển và bù lại lượng dinh dưỡng đã bị mất



11



đi theo sản phẩm thu hoạch. Cam cần đầy đủ và cân đối các nguyên tố đa

lượng như N, P, K, Ca và các nguyên tố vi lượng như Fe, Cu, Bo, Mo...

2.1.2.3. Nguồn gốc giống cam sành.

+ Nguồn gốc:

Cam sành là một giống cây ăn quả thuộc chi cam chanh có quả gần như

quả cam, có nguồn gốc từ Việt Nam. Quả cam sành rất dễ nhận ra nhờ lớp vỏ

dày, sần sùi giống bề mặt mảnh sành, và thường có màu lục nhạt (khi chín có

sắc cam) các múi thịt có màu cam.

+ Cơ cấu giống cây trồng

Phương pháp nhân giống chủ yếu của bà con nơng dân là nhân giống

vơ tính mà chủ yếu là chiết cành theo kinh nghiệm của bà con, sử dụng

phương pháp nhân giống này có ưu điểm là cam sinh trưởng và phát triển

nhanh giai đoạn đầu của chu kỳ sản xuất nhưng tuổi thọ ngắn chính vì điều

này mà sâu bệnh lây lan, nhanh người dân khơng có thuốc đặc trị (do sâu

bệnh nhờn thuốc) dẫn đến cam chết hàng loạt gây thiệt hại nghiêm trọng cho

người dân trồng cam.

2.1.2.4. Kỹ thuật trồng và chăm sóc cam sành

* Kỹ thuật trồng

Đào hố trồng: Do cây cam sành tán nhỏ nên không nên đào hố quá rộng

và thưa để tiết kiệm đất trồng. Theo tiêu chuẩn đào hố trồng phân lô thẳng

hàng ngang, so le hàng dọc, với khoảng cách là 4m x 6m tùy theo độ dốc của

địa hình vườn trồng cam, mật độ trung bình là 400 cây/ha.

Cách trồng: Bón lót: 0,3 - 0,5 kg lân + 0,1-0,2 kg Kali + Vôi bột 0,5 1 kg; thuốc sâu bột (Basudin 10H...) 0,1kg). Trộn đều lượng phân trên (khơng

có vôi và thuốc) với lớp đất mặt và lớp đất giữa (khi đào hố để riêng). Trả lớp

đất dưới xuống hố, tiếp đó lấp phân và đất đã trộn xuống hố, dùng cuốc phá

thành hố sau đó rải vơi lên mặt hố và lấp đất mỏng 2 - 3cm. Tiếp đó bơm



12



nước vào đầy hố, khoảng 10 - 15 ngày sau bón thuốc sâu bột trên mặt hố,

dùng cuốc đảo trộn đều khoảng 15 ngày sau là trồng được. Đặt bầu cây thẳng

đứng, lấp đất sao cho bầu cây nổi so với mặt đất, đóng cọc ghim tránh cho cây

bị long gốc. Sau một thời gian đất lún là vừa.

Thời vụ trồng: Nên trồng cây vào đầu mùa mưa tháng 6 - 8 dương lịch.

*. Kỹ thuật chăm sóc

Làm cỏ và vun xới: Trong q trình điều tra chúng tơi thấy việc làm cỏ

của các hộ nông dân trồng cam là tuỳ theo sinh trưởng, phát triển của cỏ dại.

Đa số các hộ sử dụng phương pháp thủ công hoặc sử dụng thuốc trừ cỏ để

diệt. Thông thường vào mùa đông cỏ sinh trưởng chậm, khoảng 30 - 40 ngày

hộ tiến hành làm cỏ 1 lần bằng phương pháp nhổ, hoặc cào. Vào mùa hè cỏ

sinh trưởng, phát triển nhanh chỉ sau khoảng 10 ngày họ phải tiến hành làm

cỏ hoặc phun thuốc trừ cỏ hoặc phát.

Quá trình điều tra cho biết hầu hết các hộ trồng cam sành hàng năm chỉ

vun xới 1 lần. Họ thường kết hợp bón phân với việc vun xới.

Nước là một nhân tố sinh thái rất quan trọng trong quá trình sinh trưởng

và phát triển của cây. Tuy nhiên, cũng mới chỉ có 30% số hộ trồng cam là tưới

nước cho cam. Hầu như các hộ trồng cam chỉ sử dụng vòi phun hoặc dùng vòi

dẫn nước từ các khe, nguồn ở trên cao về tưới, chưa có hệ thống tưới nhỏ giọt,

còn lại là phụ thuộc vào nước trời.

Bón phân cho cây cam.

Bón phân cho cây cam sành có ý nghĩa rất quan trọng. Cây cam sành có

cho năng suất, chất lượng cao hay khơng phụ thuộc vào việc bón phân như thế

nào, với liều lượng bao nhiêu… Qua điều tra cho thấy mỗi hộ bón phân cho cây

cam sành khác nhau, sử dụng loại phân khác nhau, với liều lượng khác nhau.

Trong giai đoạn này tồn bộ chi phí được tính bình quân chia đều theo

lứa tuổi của cây. Đây là giai đoạn khó khăn nhất với bà con nơng dân, đầu tư



13



chăm sóc với nguồn vốn lớn mà khơng cho bất kỳ khoản thu nhập nào từ cây

cam, khi cam bước vào độ tuổi từ 3 - 4 đã bắt đầu cho bói quả nhưng với

lượng khơng đáng kể chưa cho giá trị kinh tế.

* Kỹ thuật tỉa cành:

Công việc tỉa cành được thực hiện hàng năm vào thời kỳ mà cây có hoạt

động trao đổi chất thấp nhất (sau khi thu hoạch trái), trước khi cây ra đọt mới

để chuẩn bị cho mùa trái mới, đây là thời điểm thích hợp nhất. Không nên tỉa

quá nhiều cành (khoảng 15%). Khi tỉa cành, cần loại bỏ những cành sau đây:

- Cành đã mang trái (thường rất ngắn khoảng 10 - 15cm).

- Cành bị sâu bệnh, cành ốm yếu, cành nằm bên trong tán khơng có khả

năng cho trái.

- Cành đan chéo nhau, những cành vượt (cành có thân hình tam giác)

trong thời kỳ cây đang mang trái nhằm hạn chế việc cạnh tranh dinh dưỡng

với trái.

- Loại bỏ các cành già cỗi để trẻ hố, góp phần cây được sung mãn và dễ

cho trái hơn.

* Kỹ thuật thu hái:

Cam được thu hoạch mỗi năm một lần, tuy nhiên có thể rải vụ trong

nhiều tháng, thu hoạch chủ yếu bằng phương pháp thủ công, cam trồng trên

đồi cao, xa đường giao thông do vận chuyển quá xa, vào mỗi vụ thu hoạch

cam phải huy động một số lượng lao động lớn ở trong toàn huyện để cắt, gánh

cam từ các núi, đồi xuống các điểm xe tải, ngồi ra còn huy động ngựa thồ và

một số hệ thống cáp treo vận chuyện cam từ vườn xuống nơi xe có thể vào

được, nhưng vấn sử dụng sức người là chính, việc thu hoạch cam một cách

thủ công như vậy làm cho cam dễ bị giập nát, ảnh hưởng đến chất lượng cam

và giá thành sản phẩm, chi phí vận chuyển cao vì thế chi phí cho khâu thu

hoạch lớn ảnh hưởng đến thu nhập của các hộ trồng cam.



14



Khâu thu hái cũng chưa được bà con thật sự coi trọng về kỹ thuật cũng

như thời điểm thu hái, các biện pháp thu hái chủ yếu là thủ công truyền thống

các phượng tiện chứa đựng thơ sơ khơng đảm bảo an tồn, hơn nữa có nơng

hộ thu hoạch q sớm hoặc q muộn nên có ảnh hưởng khơng nhỏ chất

lượng quả và sinh trưởng của cây.

+ Thu hoạch không đúng và đảm bảo khoa học, các vật dụng chứa đựng

không đủ tiêu chuẩn làm cho thời gian bảo quản bị rút ngắn, hơn nữa phương

tiện vận chuyển giao thông không thuận lợi làm cho Cam Sành hay bị dầm bì

mau thối, khó khăn cho bảo quản.

+ Thu hoạch quá sớm có lợi về khối lượng nhưng cam chưa đảm bảo về

chất giá thành thấp giá bán thấp dẫn đến hiệu quả kinh tế thấp.

+ Thu hoạch quá muộn cam ngon nhưng số lượng suy giảm mặc dù giá

thành cao tuy vậy hiệu quả kinh tế cũng không được cao.

Những năm gần đây, với sự hỗ trợ của Nhà nước và các tổ chức

chính quyền địa phương, người dân cũng đã được tham gia vào các lớp tập

huấn kỹ thuật trong các biện pháp canh tác mới do các cán bộ khuyến nơng

phòng NN & PTNT tổ chức nhờ đó hiệu quả của cây Cam Sành đang dần

được tăng lên.

2.1.2.5. Các loại sâu bệnh hại cam sành

• Sâu vẽ bùa.

+ Đặc điểm hình thái:

Thành trùng là một loại bướm rất nhỏ, thân hình mỏng mảnh, dài

khoảng 2 mm, sải cánh rộng khoảng 4 - 5 mm. Tồn thân có màu vàng nhạt,

hơi có ánh bạc. Cánh sau rất hẹp so với cánh trước, cả hai cánh đều có rìa

lơng dài. Cánh trước có hai gân dọc màu đen kéo dài đến giữa cánh, khoảng

1/3 về phía đầu cánh có một vân xiên giống hình chữ Y. Chiều dài râu đầu

khoảng 3/4 chiều dài của cánh. Do kích thước nhỏ và hoạt động về đêm nên



15



trong điều kiện tự nhiên rất khó phát hiện được thành trùng. Sâu mới nở có

màu xanh nhạt trong suốt, dài khoảng 0,4mm. Sâu mới nở có màu xanh giống

màu xanh của lá non, lớn lên sâu có màu vàng xanh dài khoảng 4mm, mình

sâu hơi dẹp. Có thể quan sát dễ dàng sự hiện diện của sâu trong đường đục.

Sau khi nở, sâu non đục vào lá và ăn phần thịt lá dưới lớp biểu bì của mặt lá

tạo thành các đường hầm ngoằn ngoèo. Lá non bị hại kém phát triển, cong

queo nên khả năng quang hợp kém. Kết quả làm cây sinh trưởng chậm, đặc

biệt khi vườn cây ở thời kì mới trồng và trong giai đoạn kiến thiết cơ bản thì

mức độ tác hại lớn hơn vì làm cho cây còi cọc chậm lớn. Sâu vẽ bùa có thời

gian vòng đời ngắn, khoảng 2 - 3 tuần.

+ Thời điểm gây hại:

Sâu vẽ bùa bắt đầu gây hại từ giai đoạn sâu còn rất nhỏ (0,5mm). Sự

gây hại xảy ra rất sớm, trên những lá non 4 - 5 ngày tuổi, sâu vẽ bùa tấn công

chủ yếu những lá có kích thước biến động từ 1 - 8cm x 1 - 4cm, khi lá lớn hơn

kích thước này thì tỷ lệ lá bị sâu tấn cơng giảm rõ rệt và gần như không đáng

kể. Theo các hộ nghiên cứu thì cây còn non bị nhiều sâu vẽ bùa còn khi cây

lớn và già thì sâu vẽ bùa khơng đáng kể dường như khơng có.

+ Mức độ gây hại:

Sâu vẽ bùa lây lan nhanh. Nếu sâu tấn công sớm, lá hồn tồn bị biến

dạng, khơ và rụng đi sau đó. Nếu mật độ sâu cao và sâu tấn cơng vào giai

đoạn lá còn non thì có thể ảnh hưởng đến năng suất. Lá non bị tấn công sẽ

không phát triển và co rúm lại, giảm khả năng quang hợp, do đó cây sinh

trưởng và phát triển kém, hoa trái dễ bị rụng, nhất là cây con mới trồng.

• Sâu đục thân:

+ Đặc điểm hình thái: Sâu đục thân hay còn gọi là xén tóc sao hay xén

tóc hoa vì trên toàn thân màu đen của con bọ trưởng thành cánh cứng này có

điểm khoảng 30 chấm trắng.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×