Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Bảng 2.6 : Báo cáo một số chỉ tiêu đánh giá hiệu quả từ nguồn vốn tín dụng chính sách qua 15 năm (giai đoạn 2002-2017)

Bảng 2.6 : Báo cáo một số chỉ tiêu đánh giá hiệu quả từ nguồn vốn tín dụng chính sách qua 15 năm (giai đoạn 2002-2017)

Tải bản đầy đủ - 0trang

Vốn tín dụng chính sách góp phần giúp:



TT



Cấp huyện



Số lượt

hộ

nghèo

được

vay vốn



Số hộ

vượt

qua

ngưỡn

g

nghèo



Số lao

động

được

tạo

việc

làm



Số lao

động

đi lao

động



nước

ngồi



Số

HSSV

được

vay

vốn đi

học



Số cơng trình

NS&VSMTNT được xây

dựng

Trong đó

Tổng

số



Số

cơng

trình

nước

sạch



Số

cơng

trình

hợp vệ

sinh



Số

ngơi

nhà

của hộ

nghèo

được

xây

dựng



1



Văn Chấn



49.905



14.577



1.726



275



4.487



14.885



7.620



7.265



1.300



2



Văn n



48.193



13.724



2.595



46



5.329



12.180



6.301



5.879



1.264



3



n Bình



43.927



9.522



1.571



148



6.515



11.609



5.906



5.703



506



4



Trấn n



33.910



7.673



1.775



88



5.220



10.444



5.298



5.146



594



5



Lục n



47.632



13.663



1.839



187



8.359



13.210



6.684



6.526



1.130



6



Trạm Tấu



14.790



5.534



845



282



527



-



-



-



506



7



Mù C.Chải



23.794



7.266



1.052



191



1.656



-



-



-



1.123



8



Nghĩa Lộ



16.891



3.741



1.798



145



1.909



3.980



2.079



1.901



356



9



Hội Sở



29.036



4.244



4.827



83



6.775



13.022



6.669



6.353



136



Cộng toàn tỉnh



308.078



79.944



18.028



1.445



40.777



80.341



40.557 39.784



6.915



(Nguồn: NHCSXH chi nhánh tỉnh Yên Bái)

Như vậy, trong giai đoạn từ 2003-2017, Chi nhánh NHCSXH tỉnh Yên

Bái đã thực hiện cho vay 307.078 lượt khách hàng với doanh số cho vay

5.025 tỷ đồng. Tỷ lệ tăng trưởng dư nợ bình quân mỗi năm 20%. Vốn tín

dụng ưu đãi đã thực sự giúp hộ nghèo, hộ chính sách nâng cao thu nhập, bảo

đảm đời sống và từng bước thốt nghèo. Góp phần thực hiện tăng trưởng kinh

tế, ổn định giá cả, kiềm chế lạm phát, góp phần vào việc giảm tỷ lệ hộ nghèo

trên địa bàn tỉnh mỗi năm từ 3-4%. Đã có 79.899 lượt hộ vay vốn thốt nghèo

qua các năm, góp phần thực hiện mục tiêu quốc gia về giải quyết việc làm và



68



thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế xã hội tỉnh nhà. Hiệu quả của chương

trình giảm nghèo khơng những chỉ thể hiện ở tỷ lệ hộ nghèo giảm qua các

năm mà mức sống bình quân của hộ nghèo cũng đã được nâng nên so với

trước kia – đó chính là mục tiêu mà Đảng và Nhà nước ta đang hướng tới.

Những đóng góp trên đã phản ánh sự phù hợp giữa chủ trương chính

sách tín dụng ưu đãi của Chính phủ với thực tiễn tình hình kinh tế - xã hội tại

địa phương, đã được cấp uỷ, chính quyền địa phương và các tầng lớp nhân

dân đồng tình ủng hộ, đánh giá cao.

2.3.2. Những tồn tại, hạn chế

Trong thời gian qua, công tác ủy thác cho vay tại NHCSXH đã đạt

được kết quả nhất định, song qua kết quả kiểm tra và quá trình theo dõi hoạt

động ủy thác vẫn còn những tồn tại hạn chế qua cần phải đánh giá nghiêm túc

và chỉnh sửa kịp thời để đảm bảo hoạt động cho vay người nghèo, các đối

tượng chính sách đạt được kết quả cao hơn. Cụ thể :

* Đối với Chi nhánh Ngân hàng chính sách xã hội tỉnh Yên Bái

Hiện nay nguồn vốn cho vay chủ yếu là nguồn vốn từ Ngân hàng Chính

sách xã hội Việt Nam chuyển về, huy động tiết kiệm của tổ viên thơng qua tổ

TK&VV đang còn thấp nên nguồn vốn vay chưa thực sự đáp ứng được đầy đủ

và kịp thời nhu cầu của các hộ nghèo trên địa bàn tỉnh. Vốn đầu tư cho SXKD

của các hộ gia đình này gần như lệ thuộc hoàn toàn vào vốn vay, nhưng hiện

nay thủ tục xét duyệt cho vay còn khá nhiều quy định rườm rà, tốn nhiều thời

gian không đáp ứng kịp thời nhu cầu về vốn cho người dân. Mặt khác, do

nguồn vốn của NHCSXH không chủ động được ngay từ đầu năm trong khi

nhu cầu vốn vay của hộ nghèo rất lớn; việc cho vay còn dàn trải nên phần nào

cũng ảnh hưởng đến hiệu quả vốn vay. Thời hạn tín dụng cũng còn những bất

cập, chưa phù hợp với chu kỳ SXKD của đối tượng vay vốn, còn áp đặt chủ

quan nên cũng làm giảm hiệu quả đồng vốn.



69



- Việc áp dụng lãi suất ưu đãi quá thấp (cho vay hộ nghèo với mức lãi

suất 0,1%/tháng trong vòng 3 năm; cho vay nước sạch và vệ sinh môi trường

nông thôn lãi suất 0,8%/tháng; cho vay hộ đồng bào dân tộc thiểu số đặc biệt

khó khăn với mức lãi suất 0%; …) đã gây ra tư tưởng trông chờ, ỷ lại của hộ

nghèo. Mặt khác, Ngân sách Nhà nước phải cấp bù chênh lệch lãi suất tương

đối lớn, gây khó khăn cho Ngân sách và về phía NHCSXH cũng khơng chủ

động được về tài chính.

- Quy trình nghiệp vụ cho vay ủy thác hộ nghèo qua các tổ chức chính

trị- xã hội cũng chưa được hồn thiện, nhiều bất cập cần phải sửa đổi phù

hợp, như việc xét duyệt còn qua nhiều khâu, cách giải ngân còn cồng kềnh,

một số khâu ủy thác chưa rõ ràng, phí ủy thác còn tương đối cao làm giảm

hiệu quả vay vốn ưu đãi.

- Về công tác tổ chức cán bộ và đào tạo chưa thực sự phát huy hiệu quả

cao: định biên cán bộ của chi nhánh còn ít, bình qn mỗi phòng giao dịch chỉ

có từ 8-12 người trong đó phải phục vụ khoảng 85.000 khách hàng là các hộ

nghèo và các đối tượng chính sách khác có nhu cầu vay vốn rải rác ở 180 xã,

phường, thị trấn nên gây khơng ít khó khăn cho chi nhánh trong việc đi sâu

sát quản lý hỗ trợ khách hàng. Mặt khác cán bộ ngân hàng còn thiếu kinh

nghiệm thực tế nên cũng ảnh hưởng đến hiệu quả đầu tư tín dụng.

* Trong công tác ủy thác cho vay qua các tổ chức chính trị- xã hội

- Các văn bản ủy thác giữa NHCSXH và các tổ chức chính trị- xã hội

còn một số bất cập cần điều chỉnh cho phù hợp. Việc phối hợp làm việc giữa

hai đơn vị có lúc có nơi còn chưa tốt, chưa chủ động nên hiệu quả chưa cao.

Chính sự phân cơng cơng việc gắn liền với trách nhiệm còn chưa thực

sự rõ ràng nên cơng tác kiểm tra của cán bộ ngân hàng và của các hội, đồn

thể nhiều khi còn mang tính hình thức, chưa phát huy được hiệu quả nên vẫn

còn để xảy ra những trường hợp vi phạm như hộ vay sử dụng vốn sai mục

đích, vay sai đối tượng, vay hộ để lợi dụng chính sách. Một số địa phương



70



còn chưa xác định được trách nhiệm của địa phương trong việc cho vay hộ

nghèo và các đối tượng chính sách khác mà coi đó là việc của ngân hàng.

Điều này ảnh hưởng đến công tác thu nợ của Ngân hàng.

- Hạn chế về năng lực của cán bộ của các tổ chức chính trị- xã hội: hầu

hết các tổ chức chính trị - xã hội các cấp thực hiện nhiệm vụ kiêm nhiệm nên

thời gian dành cho công tác quản lý nguồn vốn nhận ủy thác còn hạn chế. Cán

bộ Hội cấp cơ sở thường xuyên thay đổi theo nhiệm kỳ vì vậy việc tổ chức tập

huấn cho cán bộ tổ chức chính trị xã hội gặp rất nhiều khó khăn. Các cán bộ

làm việc trong các tổ TK&VV, ban quản lý các tổ, trong các Hội, Đồn còn

thiếu kinh nghiệm làm việc, năng lực còn hạn chế dẫn đến chậm chạp trong

công tác hỗ trợ người dân làm hồ sơ vay vốn và giải ngân, khơng sát sao theo

dõi tình hình thực hiện dịch vụ ủy thác trong hệ thống của mình.

- Cơng tác tham mưu và tranh thủ sự chỉ đạo của cấp uỷ, chính quyền

và BĐD HĐQT NHCSXH các cấp chưa được quan tâm, thực hiện thường

xuyên, một số đơn vị cấp xã chất lượng tín dụng giảm sút, phát sinh nợ quá

hạn tăng chưa được xử lý kịp thời.

- Cơng tác tun truyền các chính sách tín dụng ưu đãi của chính phủ

tới các tầng lớp nhân dân còn chưa thường xuyên, chưa hiệu quả, dẫn đến tại

một số nơi người dân chưa nắm bắt được thông tin về dư nợ, số dư tiền gửi

trên biên lai thu lãi, chưa hiểu đầy đủ các chính sách tín dụng ưu đãi, năng lực

sử dụng vốn còn hạn chế, việc chấp hành nghĩa vụ khi vay vốn chưa nghiêm

túc, vẫn còn tình trạng hiện tượng hộ vay sử dụng vốn sai mục đích, hộ vay

chây ỳ khơng thực hiện các nghĩa vụ khi vay vốn, hộ vay không lưu giữ đầy

đủ biên lai thu lãi, hộ vay không giữ sổ vay vốn vẫn còn, hộ vay khơng tham

gia sinh hoạt tổ đều đặn theo quy ước hoạt động của tổ đề ra.

- Công tác kiểm tra giám sát một số đơn vị còn chưa đạt yêu cầu: chưa

kiểm tra đủ về số lượng, chất lượng kiểm tra còn chưa được quan tâm chú

trọng, còn mang tính hình thức, nội dung các biên bản kiểm tra còn chung



71



chung chưa đi sâu vào những tồn tại hạn chế. Sau kiểm tra chưa có văn bản

chỉ đạo chấn chỉnh, chưa đưa ra giải pháp giúp đơn vị được kiểm tra có lộ

trình khắc phục chỉnh sửa. Tại một số nơi các tổ chức CT-XH cấp xã chưa chủ

động thực hiện các trách nhiệm của mình theo Hợp đồng uỷ thác đã ký kết,

chưa chủ động trong việc kiểm tra, giám sát và giúp đỡ tổ TK&VV. Chất

lượng kiểm tra giám sát chưa cao nên chưa phát hiện và chấn chỉnh kịp thời

những tồn tại, sai sót phát sinh, có nơi tồn tại kéo dài gây ảnh hưởng đến uy

tín của Ngân hàng CSXH và Hội, đoàn thể.

- Điểm giao dịch và hoạt động Giao dịch lưu động tại một số nơi chưa

thực sự hoạt động hiệu quả, chất lượng điểm giao dịch và công tác giao dịch

lưu động thời gian giao dịch kéo dài, chất lượng giao dịch lưu động chưa cao

và chưa đi vào nền nếp, các thành phần tham gia họp giao ban hàng tháng

chưa đầy đủ, nội dung họp giao ban còn sơ sài, chưa có sự phân cơng cụ thể

để thực hiện xử lý những tồn tại hạn chế và triển khai nhiệm vụ kỳ tiếp theo,

nội dung tuyên truyền, hướng dẫn chưa đầy đủ; một số nơi cán bộ hội làm uỷ

thác chưa kiểm tra, hướng dẫn Tổ trưởng tổ TK&VV trong buổi giao dịch do

đó mẫu số 13/TD số liệu còn sai lệch, còn tẩy xóa, một số nơi cán bộ tổ chức

CT-XH không tham gia trực giao dịch trong suốt buổi giao dịch tại xã.

- Công tác tuyên truyền về chính sách tín dụng ưu đãi hộ nghèo và đối

tượng chính sách ủy thác qua các tổ chức chính trị-xã hội còn hạn chế. Vì vậy

vẫn còn một bộ phận cán bộ và nhân dân chưa hiểu rõ, chưa tham gia vào

cơng tác xã hội hóa hoạt động của NHCSXH.

- Người nghèo chủ yếu có trình độ dân trí còn thấp nên việc hướng dẫn

thủ tục cho vay, hướng dẫn người vay sử dụng vốn cho hiệu quả là việc làm

khó khăn.

- Tại tổ KV&VV cơng tác bình xét cho vay còn dàn trải, chưa thực sự

hiệu quả, chưa bám sát vào nhu cầu vay vốn đối với từng hộ vay sử dụng vốn

không đúng mục đích, vay hộ, vay ké vẫn còn xảy ra.



72



- Chất lượng hoạt động của tổ TK&VV chưa đạt yêu cầu: Tổ TK&VV

chưa duy trì việc sinh hoạt tổ hàng tháng theo quy ước, có nơi chưa làm tốt

cơng tác bình xét cho vay nên còn cho vay sai đối tượng, cho vay hộ không

đủ điều kiện vay vốn. Tổ trưởng chưa lưu giữ đầy đủ các hồ sơ, giấy tờ liên

quan đến hoạt động của tổ. Việc thực hiện thu lãi thu tiền gửi theo biên lai còn

nhiều sai sót.

Chất lượng tín dụng chính sách chưa thực sự ổn định, thể hiện ở một

số chỉ tiêu 3 tháng đầu năm 2017:

- Nợ quá hạn tăng 350 triệu đồng so với đầu năm (HND tăng 101 triệu đồng,

HPN tăng 29 triệu đồng, HCCB tăng 171 triệu đồng, ĐTN tăng 49 triệu đồng).

- Lãi tồn đọng tăng: 177 triệu đồng so với đầu năm.

- Món vay trong hạn 3 tháng khơng hoạt động (khơng trả nợ, trả lãi, gửi

tiết kiệm…) còn 505 món, với số tiền gốc 60.121 triệu đồng. Tăng 283 món,

số tiền tăng 3.573 triệu đồng so với đầu năm.

- Số hộ bỏ đi khỏi địa phương 96 hộ với số tiền 1.175 triệu đồng, trong

đó có nhiều trường hợp hộ vay bỏ đi nhưng tổ TK&VV, tổ chức hội không

nắm bắt, báo cáo và lập hồ sơ kịp thời. Trong quý I/2017 đã phát sinh 20

trường hợp hộ vay vốn bỏ đi khỏi địa phương với số tiền là 247 triệu đồng.

2.3.3. Nguyên nhân tồn tại, hạn chế

2.3.3.1. Nguồn vốn còn hạn hẹp

Chi nhánh NHCSXH tỉnh Yên Bái được thành lập mới, lại không phải

là đơn vị kinh doanh, nguồn vốn cho vay chủ yếu là nguồn vốn Trung ương

cấp (trên 94% qua các năm). Khi bắt đầu triển khai tín dụng chính sách, do

nguồn vốn cho vay có hạn nên một số xã, phường, thị trấn đã thực hiện cho

vay dàn trải, xé mỏng, chưa căn cứ vào nhu cầu của hộ vay và hiệu quả sử

dụng vốn. Từ đó dẫn đến tình trạng hộ cần vốn thì không đủ vốn, hộ không

thực sự cần vẫn được vay và tất yếu dẫn đến tình trạng sử dụng vốn vay sai

mục đích, khó có khả năng thu hồi vốn.



73



Đối tượng thụ hưởng chính sách tín dụng lớn, nguồn vốn chưa đáp ứng

được nhu cầu, mức cho vay bình quân của người nghèo còn thấp, chưa tạo

được khả năng tài chính cho họ tổ chức sản xuất, kinh doanh có thu nhập cao

hơn, cải thiện được cuộc sống nhanh hơn.

2.3.3.2. Chính sách lãi suất còn nhiều vướng mắc

Hiện nay, chính sách lãi suất mà ngân hàng đang áp dụng chưa phù hợp

với nguyên tắc xác định lãi suất của Ngân hàng. Theo điều lệ, lãi suất phải được

xác định trên ngun tắc bảo tồn vốn, tự bù đắp chi phí, rủi ro nghiệp vụ.

Theo quy định, lãi suất cho vay hộ nghèo ở vùng III và các xã đặc biệt

khó khăn miền núi, vùng sâu vùng xa là 0,6%/tháng, lãi suất cho vay hộ

nghèo thuộc các vùng khác là 0,65%/tháng. Với mức lãi suất ưu đãi này đã

gây ra không ít khó khăn cho cơng tác cho vay và thu nợ. Việc các hộ sử dụng

vốn vay sai mục đích là không thể tránh khỏi; tiền vay về thường giải quyết

vào các nhu cầu khác mà không đầu tư vào SXKD, chăn ni…Có nhiều hộ

dân còn sử dụng nguồn vốn vay để gửi vào các Ngân hàng thương mại để

hưởng chênh lệch lãi suất. Hiện nay có nhiều ngân hàng đang huy động tiền

gửi với mức lãi suất trên 1%/tháng, vậy hộ nghèo không cần đầu tư SXKD

mà hàng tháng vẫn được hưởng chênh khoảng 0,35%/tháng. Do đó, cần phải

hiểu rằng, chính sách ưu đãi đối với hộ nghèo chỉ có thể hỗ trợ trong thời gian

cho hạn, khơng thể là cơng cụ lâu dài giúp người nghèo thốt nghèo.

2.3.3.3. Việc xác định hộ nghèo vay vốn chưa phù hợp với điều kiện thực tiễn

Đối với các Ngân hàng thương mại, cán bộ tín dụng phải thẩm định kỹ

về phương án vay vốn và bản thân khách hàng trước khi quyết định cho vay,

còn đối với NHCSXH, cơng việc này được ủy thác, cán bộ tín dụng khơng

trực tiếp đảm nhiệm. Tổ TK&VV bình xét và gửi danh sách hộ nghèo đến

Ban xóa đói giảm nghèo, UBND xã xác nhận để trình Ngân hàng chính sách

xét duyệt. Vì trình độ, kinh nghiệm của cán bộ tổ TK&VV còn nhiều hạn chế

nên việc thẩm định tính đúng đắn của mục đích sử dụng vốn, khả năng trả nợ,



74



…nhiều khi không được chú trọng. Mặt khác, có nhiều trường hợp có mối

quan hệ tốt với cán bộ địa phương nên được đưa vào danh sách hộ nghèo

được vay vốn ưu đãi mặc dù không thuộc các đối tượng theo quy định. Nhiều

cán bộ làm công tác cho vay hộ nghèo ở xã cho rằng do vốn ít, lãi suất thấp,

nếu chỉ xét cho một vài hộ thì họ sẽ so bì, kiện cáo gây mất đồn kết…nên

chia đều cho các hộ có nhu cầu; từ đó đã ảnh hưởng khơng nhỏ đến chất

lượng hiệu quả cho vay.

Nhiều địa phương hiện nay chạy theo thành tích mỗi năm phải giảm

2% hộ nghèo nên số liệu báo cáo hộ nghèo không sát thực với thực tiễn, do đó

nhiều hộ nghèo khơng được tiếp cận với vốn tín dụng ưu đãi.

2.3.3.4. Chính quyền địa phương và các tổ chức CT-XH chưa nhận

thức rõ về trách nhiệm của mình trong cơng tác ủy thác cho vay hộ nghèo.

Một số tổ chức Hội, Đoàn thể chưa nhận thức rõ trách nhiệm của mình

trong việc ủy thác cho vay hộ nghèo. Cán bộ hội năng lực yếu, chưa tâm

huyết với công việc, chưa làm hết trách nhiệm của mình. Vì vậy, sự phối kết

hợp giữa tổ chức chính trị-xã hội với NHCSXH trong việc triển khai thực

hiện các Văn bản liên tịch, hợp đồng ủy thác có nơi chưa được chặt chẽ, hiệu

quả chưa cao. Đặc biệt còn một số ít cán bộ Hội, Ban quản lý tổ TK&VV còn

có biểu hiện tiêu cực, lợi dụng, làm hồ sơ vay vốn cho các đối tượng không

đủ điều kiện.

Các tổ chức chính trị- xã hội và chính quyền cấp xã chưa nâng cao

trách nhiệm trong việc quản lý nguồn vốn cho của hộ nghèo. Nhất là khi xảy

ra tình trạng khó đòi thì chính quyền địa phương và các tổ chức Hội, Đồn thể

coi đó là trách nhiệm của riêng Ngân hàng Chính sách xã hội. Họ chưa nhận

thức được trách nhiệm của mình nên nhiều khi việc nhắc nhở hộ nghèo sử

dụng vốn đúng mục đích, trả nợ đầy đủ và đúng hạn cho ngân hàng chỉ mang

tính hình thức. Gây khó khăn cho việc thu hồi vốn, dẫn đến nợ quá hạn, ảnh

hưởng trực tiếp đến đến chất lượng và hiệu quả nguồn vốn của NHCSXH.



75



2.3.3.5. Đội ngũ cán bộ tham gia công tác ủy thác cho vay còn thiếu về

số lượng và hạn chế về kinh nghiệm.

- Về phía chi nhánh Ngân hàng chính sách xã hội tỉnh Yên Bái

Hệ thống Ngân hàng Chính sách xã hội tỉnh Yên Bái hiện nay có 108

cán bộ dàn trải tại Hội sở tỉnh và 08 phòng giao dịch huyện, thị. Với địa bàn

rộng lớn khắp từ thành thị đến nông thôn, vùng sâu vùng xa, miền núi hải đảo

thì với số lượng như trên sẽ rất khó khăn cho công tác quản lý và triển khai

các hoạt động của chi nhánh Ngân hàng Chính sách xã hội tỉnh Yên Bái. Với

số lượng cán bộ biên chế tại mỗi phòng giao dịch q ít (khoảng 10 cán bộ)

phải phụ trách 1 huyện rộng lớn, trong khi đó khối lượng cơng việc lại nhiều,

nhiều trường hợp cán bộ tín dụng vừa làm cơng tác tín dụng, vừa kiêm lái xe,

thủ quỹ, kế tốn. Do đó ảnh hưởng đến chất lượng công việc được giao

Chi nhánh mới được thành lập gần 15 năm nên đội ngũ cán bộ nhân

viên chủ yếu là những cán bộ mới, nhiệt tình, chịu khó, tâm huyết với nghề

nhưng kinh nghiệm nghề nghiệp còn nhiều hạn chế.

Thêm vào đó, cơ sở vật chất, phương tiện làm việc của một số phòng

giao dịch huyện còn chật chội, thiếu thốn, chưa đáp ứng được yêu cầu.

- Về phía chính quyền địa phương và các tổ chức chính trị-xã hội

Các lãnh đạo chính quyền địa phương và cán bộ Hội cấp cơ sở thường

xuyên thay đổi theo nhiệm kỳ vì vậy năng lực và kinh nghiệm hiện nay còn

rất nhiều hạn chế, việc tổ chức tập huấn cho cán bộ các tổ TK&VV, ban quản

lý các tổ, trong các Hội, Đồn gặp rất nhiều khó khăn. Từ đó, dẫn đến chậm

chạp trong công tác hỗ trợ người dân làm hồ sơ vay vốn và giải ngân, không

sát sao theo dõi tình hình thực hiện dịch vụ ủy thác trong hệ thống của mình.

2.3.3.6. Do bản thân hộ nghèo

Đại bộ phận hộ nghèo có trình độ dân trí thấp nên việc xây dựng phương

án SXKD để sử dụng hiệu quả nguồn vốn vay còn hạn chế. Thậm chí việc

hướng dẫn thủ tục cho vay, hướng dẫn người vay sử dụng vốn có hiệu quả còn là



76



việc khó khăn và mất rất nhiều thời gian. Khơng ít hộ vẫn còn tư tưởng trơng

chờ, ỷ lại, coi vốn tín dụng ưu đãi là vốn cứu trợ của Nhà nước, khơng có ý thức

thốt nghèo…dẫn đến việc sử dụng tiền vay khơng đảm bảo mục đích và tất yếu

dẫn đến việc trả nợ của hộ vay không đảm bảo, ảnh hưởng đến khả năng thu hồi

vốn, vòng quay vốn chậm, hạn chế khả năng tái đầu tư.

2.3.3.7. Chưa quan tâm đúng mức việc lồng ghép thực hiện chính sách

tín dụng ưu đãi với các chính sách, dự án giảm nghèo

Việc lồng ghép thực hiện chính sách tín dụng ưu đãi với các chính sách

tín dụng ưu đãi khác, như: dự án khuyến nơng, lâm, ngư nghiệp và phát triển các

ngành nghề; dự án dạy nghề cho người nghèo chưa được quan tâm đúng mức.

Cần phải có sự phối hợp chỉ đạo của các cơ quan quản lý dự án, ban

ngành đoàn thể từ cấp cơ sở chỉ đạo. Nhiều mơ hình làm ăn có hiệu quả chưa

được nhân rộng, chưa được phổ biến rộng rãi để người nghèo học tập làm

theo. Việc lồng ghép các chương trình dự án này sẽ tạo điều kiện cho người

nghèo được học hỏi kinh ngiệm, từ đó sử dụng nguồn vốn vay có hiệu quả,

phát triển sản xuất, tăng thu nhập và giảm nghèo bền vững

2.3.3.8. Công tác kiểm tra, kiểm sốt còn yếu

Chi nhánh NHCSXH tỉnh Yên Bái luôn quan tâm tới công tác kiểm tra,

kiểm sốt nội bộ, hàng năm đều có xây dựng kế hoạch, chương trình kiểm tra

theo từng chuyên đề, để phát hiện kịp thời những tồn tại, thiếu sót trong hoạt

động tín dụng, đưa ra được các biện pháp hữu hiệu. Song công tác kiểm tra,

giám sát của các tổ chức nhận ủy thác ở nhiều địa phương chưa được quan

tâm đúng mức dẫn đến tình trạng vẫn có hộ nghèo sử dụng vốn vay sai mục

đích, khơng hiệu quả…làm ảnh hưởng đến khả năng thu hồi nợ của Ngân sách.

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2



77



Chương 2 tác giả đã tập trung nghiên cứu thực trạng hiệu quả tín dụng

hộ nghèo được ủy thác qua các tổ chức chính trị- xã hội của chi nhánh

NHCSXH tỉnh Yên Bái giai đoạn 2012-2016. Qua nghiên cứu tác giả rút ra

một số nhận xét sau:

Nâng cao hiệu quả công tác ủy thác cho vay hộ nghèo qua các tổ chức

chính trị- xã hội là yêu cầu cấp thiết của chi nhánh NHCSXH tỉnh Yên Bái.

Có nâng cao hiệu quả ủy thác cho vay hộ nghèo qua các tổ chức chính trị- xã

hội thì chi nhánh mới hồn thành được nhiệm vụ chính trị Đảng và Nhà nước

giao, góp phần thực hiện mục tiêu quốc gia về xóa đói giảm nghèo của địa

phương và đảm bảo cho sự phát triển bền vững của chi nhánh.

Luận văn đã đánh giá, phân tích sâu sắc kết quả hoạt động cho vay xóa

đói giảm nghèo của NHCSXH tỉnh Yên Bái trong thời gian vừa qua.

Từ nghiên cứu, luận văn đã chỉ ra những tồn tại, hạn chế trong công tác

ủy thác cho vay và nguyên nhân dẫn đến các tồn tại hạn chế đó tại chi nhánh

Ngân hàng Chính sách xã hội tỉnh Yên Bái trong thời gian vừa qua; từ đó làm

cơ sở cho việc đưa ra các giải pháp phù hợp để nâng cao chất lượng cho vay

hộ nghèo trong thời gian tới.

Chương 3

GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ ỦY THÁC

CHO VAY TẠI CHI NHÁNH NGÂN HÀNG CHÍNH SÁCH XÃ HỘI

TỈNH YÊN BÁI

3.1. Định hướng chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Yên

Bái và hoạt động của Ngân hàng Chính sách xã hội

3.1.1. Chiến lược phát triển kinh tế, xã hội tỉnh Yên Bái

Yên Bái là tỉnh miền núi nằm sâu trong nội địa, là 1 trong 13 tỉnh vùng

núi phía Bắc, có rất nhiều điền kiện thuận lợi để phát triển kinh tế- xã hội. Là

đầu mối và trung độ của các tuyến giao thông đường bộ, đường sắt, đường



78



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Bảng 2.6 : Báo cáo một số chỉ tiêu đánh giá hiệu quả từ nguồn vốn tín dụng chính sách qua 15 năm (giai đoạn 2002-2017)

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×