Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ ỦY THÁC CHO VAY TẠI NGÂN HÀNG CHÍNH SÁCH XÃ HỘI

NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ ỦY THÁC CHO VAY TẠI NGÂN HÀNG CHÍNH SÁCH XÃ HỘI

Tải bản đầy đủ - 0trang

nhân dân, cơ sở hạ tầng nông thôn đã được xây dựng, nâng cấp hơn trước. Với

những nỗ lực đó đã góp phần giảm nhanh tỷ lệ hộ nghèo của cả nước từ 58%

năm 1992 xuống còn 22% theo chuẩn nghèo giai đoạn 2006- 2010 và tỷ lệ hộ

nghèo giai đoạn 2011-2015 là 14,2% (Website Ngân hàng Chính sách xã hội).

Theo Quyết định số 59/2015/QĐ- TTg ngày 19/11/2015 của Thủ tướng

Chính phủ “Về việc ban hành chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều áp dụng

cho giai đoạn 2016 – 2020” thì tiêu chí hộ nghèo tính theo thu nhập được

quy định: i) Chuẩn nghèo: 700.000 đồng/người/tháng ở nông thôn và 900.000

đồng/người/tháng ở khu vực thành thị; ii) Chuẩn cận nghèo: 1.000.000

đồng/người/tháng ở khu vực nông thôn và 1.300.000 đồng/người/tháng ở khu

vực thành thị. Thống kê của Bộ LĐ-TBXH, áp dụng tiêu chí chuẩn nghèo tiếp

cận đa chiều giai đoạn 2016-2020 như trên thì cả nước có hơn 2,31 triệu hộ

nghèo (chiếm tỉ lệ 9,79% so với tổng số hộ dân cư trên toàn quốc) và hơn

1,24 triệu hộ cận nghèo (chiếm tỉ lệ 5,27%). [2]

Theo kết quả điều tra, khu vực miền núi Tây Bắc có tỉ lệ hộ nghèo cao

nhất cả nước với 34,52%, tiếp theo là Tây Nguyên và miền núi Đơng Bắc với

20,74%. Đơng Nam bộ có tỉ lệ hộ nghèo thấp nhất cả nước với 1,23%, tỉ lệ hộ

nghèo của Đồng bằng sơng Hồng cũng chỉ 4,76%.[6]

Còn nếu theo tiêu chuẩn đánh giá chuẩn nghèo hiện thời của thế giới

được Ngân hàng thế giới (WB) xác định chuẩn chung (không phân biệt nông

thôn, thành thị) ở mức 60USD/người/tháng (tương đương 1,2 triệu

đồng/người/tháng). Hộ nghèo ở Việt Nam đương nhiên nằm trong “bản đồ hộ

nghèo” của thế giới nhưng ở đây lại có mức chênh lệch rất lớn. Nếu Việt Nam

“áp” theo chuẩn nghèo thì số hộ nghèo cũng như tỷ lệ hộ nghèo hiện có của

Việt Nam sẽ cao hơn nhiều. [6]

1.1.2. Nguyên nhân và yếu tố gây đói nghèo

Đói nghèo là hậu quả đan xen của nhiều nguyên nhân nằm trong các

nhóm nguyên nhân. Nhóm nguyên nhân khách quan, do mơi trường tự nhiên



6



(vị trí, khí hậu, đất đai); kinh tế- xã hội (trình độ dân trí thấp, yếu tố tập quán

của từng dân tộc, từng vùng miền, chính sách của Nhà nước) và nhóm ngun

nhân do bản thân người nghèo. Ta có thể chia làm 2 nhóm nguyên nhân khách

quan và nguyên nhân chủ quan.

1.1.2.1. Nguyên nhân khách quan

Một là, điều kiện tự nhiên. Điều kiện tự nhiên khắc nghiệt đã tác động

sâu sắc đến sản xuất kinh doanh của các hộ gia đình, đặc biệt là các hộ nghèo.

Đói nghèo tập trung khu vực nơng thơn: Nghèo có đặc thù rõ rệt về mặt

địa lý. Ở Việt Nam, với 80% dân số và 90% số người nghèo sống ở nông

thôn. Những đặc trưng của người nghèo vẫn giống như trước đây- đói nghèo

vẫn là hiện tượng phổ biến ở nông thôn và đối với các dân tộc thiểu số thì

mức độ đói nghèo cao và nghiêm trọng hơn so với đa số người Kinh. Các đặc

trưng khác của đói nghèo, là rủi ro về thu nhập, do thường xuyên bị thiên tai

và tình trạng thiếu việc làm nghiêm trọng ở nông thôn

Theo thống kê: “Năm 2011, khoảng 20-30% trong tổng số 1.870 xã đặc

biệt khó khăn chưa có đường dân sinh đến trung tâm xã; 40% số xã chưa có

đủ phòng học; 5% số xã chưa có trạm y tế; 55% số xã chưa có nước sạch;

40% số xã chưa có đường điện đến trung tâm xã, 50% số xã chưa đủ cơng

trình thủy lợi nhỏ; 20% số xã chưa có chợ tạm hoặc cụm xã. Bên cạnh đó, do

điều kiện thiên nhiên khơng thuận lợi, số người dân thuộc diện cứu trợ đột

xuất hàng năm khá cao, khoảng 1-1,5 triệu người. Hàng năm số hộ tái đói

nghèo trong tổng số hộ vừa thốt khỏi đói nghèo còn lớn”. [7]

Đói nghèo ở khu vực thành thị: Đa số người nghèo đô thị làm việc

trong khu vực kinh tế phi chính thức, cơng việc khơng ổn định, thu nhập thấp và

bấp bênh. Một số lao động mất việc làm do chuyển đổi cơ cấu kinh tế và chủ sở

hữu trong khu vực Nhà nước, dẫn đến điều kiện sống của họ càng khó khăn, một

số người thất nghiệp. Tình trạng thiếu đất sản xuất đang có xu hướng tăng lên tại

một số nơi, thiếu đất sản xuất cũng là nguyên nhân gây nên đói nghèo.



7



Hai là, điều kiện kinh tế- xã hội. Điều kiện tự nhiên - xã hội có tác động

trực tiếp đến đời sống của dân cư và quá trình phát triển kinh tế của mỗi quốc

gia, đặc biệt trong điều kiện của các nước đang hội nhập và phát triển.

Yếu tố dân trí: Người nghèo, đồng bào dân tộc ít người và các đối

tượng có hồn cảnh khó khăn đặc biệt thường có trình độ học vấn thấp, ít có

cơ hội kiếm được việc làm tốt, thu nhập ổn định. Số liệu thống kê năm 2016

về trình độ học vấn của người nghèo cho thấy, khoảng 90% người nghèo chỉ

có trình độ phổ thông cơ sở hoặc thấp hơn. Kết quả điều tra mức sống cho

thấy, trong số người nghèo, tỷ lệ số người chưa bao giờ đi học chiếm 12%, tốt

nghiệp bậc tiểu học chiếm 39%, trung học cơ sở chiếm 37%. Khi trình độ học

vấn thấp sẽ hạn chế khả năng kiếm việc trong các ngành phi nông nghiệp và

những công việc khác mang lại thu nhập cao, ổn định hơn.

Vấn đề bất bình đẳng giới ảnh hưởng đến đói nghèo: Do trình độ dân

trí thấp nên việc bất bình đẳng giới thường xảy ra. Phụ nữ ít có cơ hội tiếp cận

với công nghệ, cho vay và đào tạo; họ thường xun gặp khó khăn do gánh nặng

gia đình, thiếu quyền quyết định trong hộ gia đình và thường được trả cơng thấp

hơn lao động nam giới. Chính sự bất bình đẳng giới là ngun nhân dẫn đến đói

nghèo trong các hộ gia đình.

Yếu tố phong tục, tập quán, tệ nạn xã hội: Phong tục, tập quán lạc hậu,

các tệ nạn xã hội và di dân tự do cũng là nguyên nhân dẫn đến đói nghèo. Một

số vùng đồng bào dân tộc hiện nay vẫn còn những hủ tục lạc hậu, như người

ốm không đưa đến các trạm y tế để chữa bệnh mà mời thầy cúng đến làm lễ

dẫn đến bệnh của người ốm ngày càng nặng thêm mà tốn kém về kinh tế, dẫn

đến gia đình nghèo càng nghèo thêm.

Ba là, chính sách nhà nước: Nhà nước ta đã có nhiều chính sách dành

cho phát triển, chính sách cho quản lý xã hội như: chính sách khuyến khích

đầu tư, chính sách đầu tư cơng trình cơ sở hạ tầng, chính sách điều phối thu

nhập tạo động lực cho phát triển và cơng bằng xã hội; chính sách tín dụng hỗ

trợ tài chính đối với hộ sản xuất, doanh nghiệp vừa và nhỏ; chính sách xã hội



8



cho giáo dục, y tế,…Tuy nhiên, nhiều chính sách còn thiếu hoặc không đồng

bộ đã ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả xóa đói giảm nghèo.

Q trình phát triển và mở cửa nền kinh tế cũng có những tác động tiêu

cực đến người nghèo, làm gia tăng khoảng cách giàu nghèo như: Cơ cấu đầu

tư chưa hợp lý, tỷ lệ đầu tư cho nơng nghiệp và nơng thơn còn thấp, chủ yếu

mới tập trung cho thủy lợi, khu công nghiệp, vẫn chưa chú trọng đầu tư các

ngành công nghiệp thu hút lao động và khuyến khích phát triển doanh nghiệp.

Cải cách doanh nghiệp Nhà nước và những khó khăn về tài chính của các

doanh nghiệp nhà nước đã dẫn tới việc mất đi gần 800.000 việc làm trong giai

đoạn đầu tiến hành cải cách doanh nghiệp. Kết cấu hạ tầng giao thông đến các

vùng sâu, vùng xa, vùng đói nghèo còn thiếu và yếu kém. Việc tiếp cận đến các

vùng này còn hết sức khó khăn, đầu tư của Nhà nước chưa đáp ứng được yêu

cầu, đóng góp nguồn lực của nhân dân còn hạn chế, chủ yếu bằng lao động. Hệ

thống pháp luật kinh tế vẫn chưa đầy đủ và đồng bộ, nhiều văn bản pháp quy

dưới luật chưa được ban hành kịp thời và thiếu nhất quán đã gây không ít cản trở

trong quá trình thực hiện cải cách.

Việc mở các lớp bồi dưỡng về khoa học kỹ thuật mới cho hộ nghèo còn

ít, hiệu quả chưa cao. Nhà nước chưa định hướng cụ thể cho người dân làm

kinh tế sao cho phù hợp với từng vùng, từng thời kỳ. Rủi ro trong sản xuất

kinh doanh của hộ nghèo chưa được xử lý kịp thời để hỗ trợ họ.

1.1.2.2. Nguyên nhân chủ quan

Một là, thiếu vốn sản xuất: Các tài liệu điều tra cho thấy đây là nguyên

nhân chủ yếu nhất dẫn đến đói nghèo. Người dân thiếu vốn thường rơi vào

vòng luẩn quẩn, sản xuất kém, làm khơng đủ ăn, phải đi vay mượn để đảm

bảo cuộc sống tối thiểu hàng ngày. Kết quả điều tra xã hội học về ngun

nhân nghèo đói của các hộ nơng dân nước ta năm 2011 cho thấy: Thiếu vốn

chiếm khoảng 70%- 80% tổng số hộ được điều tra (Website NHCSXH).

Đất sản xuất, công cụ lao động, vốn sản xuất kinh doanh, … là những

nguồn lực mà các hộ nghèo gặp khó khăn; trong đó, thiếu khả năng tiếp cận



9



các nguồn cho vay để sản xuất kinh doanh là một lực cản lớn nhất trong việc

thốt khỏi đói nghèo. Thiếu vốn là một trong những ngun nhân trì hỗn khả

năng đổi mới sản xuất, áp dụng khoa học công nghệ, giống mới… Mặc dù

trong khuôn khổ của dự án cho vay đối với người nghèo thuộc chương trình

xóa đói giảm nghèo quốc gia, khả năng tiếp cận vốn đã tăng lên rất nhiều.

Song vẫn còn khá nhiều người nghèo, đặc biệt là người rất nghèo khơng có

khả năng tiếp cận với các nguồn cho vay. Một mặt, khơng có tài sản thế chấp,

những người nghèo phải dựa vào tín chấp với các khoảng vay nhỏ, hiệu quả

thấp đã làm giảm khả năng hoàn vốn. Mặt khác, đa số người nghèo khơng có

kế hoạch sản xuất cụ thể, hoặc sử dụng các nguồn vay khơng đúng mục đích,

do vậy họ khó có điều kiện tiếp cận được các nguồn vốn tín dụng.

Hai là, thiếu kinh nghiệm và kiến thức làm ăn : Đại đa số hộ nghèo kiến

thức và kỹ năng sản xuất yếu, phương pháp canh tác cổ truyền đã ăn sâu vào

tiềm thức. Sản xuất tự cung, tự cấp là chính, chưa có khái niệm về sản xuất

hàng hóa. Sản phẩm làm ra chưa qua chế biến, nên giá trị thấp. Về giao tiếp

xã hội, người nghèo thường quan hệ với những người nghèo như mình hoặc

nghèo hơn mình, khơng muốn quan hệ với những người khá giả hơn mình. Từ

đó làm hạn chế về khả năng tiếp cận tư duy mới, cũng như kinh nghiệm làm

kinh tế giỏi. Đây là một cản trở lớn trong cơng cuộc xóa đói giảm nghèo.

Hai là, bệnh tật và sức khỏe yếu kém: cũng là yếu tố đẩy con người vào

tình trạng đói nghèo. Khi bị bệnh tật, hộ nghèo phải gánh chịu mất đi thu

nhập từ lao động và chi phí cao cho việc khám chữa bệnh; do vậy đẩy họ vào

chỗ vay mượn, cầm cố tài sản để trang trải chi phí, dẫn đến tình trạng ít có cơ

hội cho người nghèo thốt khỏi nghèo đói. Trong khi đó, khả năng tiếp cận

các dịch vụ phòng bệnh của người nghèo còn hạn chế: Tình trạng sức khỏe

của người Việt Nam trong thập kỷ qua đã được cải thiện, song tỷ lệ người

nghèo mắc các bệnh vẫn còn khả cao. Bệnh tật và sức khỏe yếu ảnh hưởng

đến việc lao động sản xuất và tìm việc làm của người nghèo.



10



1.1.3. Vai trò của NHCSXH trong xóa đói giảm nghèo

Chúng ta đều biết, có nhiều loại hình ngân hàng trong hệ thống các tổ

chức tín dụng như ngân hàng thương mại, ngân hàng phát triển, ngân hàng

đầu tư, các tổ chức tài chính phi ngân hàng (quỹ đầu tư, cơng ty tài chính,…)

và ngân hàng chính sách xã hội. Điểm khác biệt giữa NHCSXH so với các tổ

chức tín dụng khác chính là ở mục tiêu hoạt động. Trong khi các ngân hàng

khác lấy mục tiêu sinh lợi là mục tiêu hàng đầu thì NHCSXH hoạt động

khơng vì mục tiêu lợi nhuận. NHCSXH với hoạt động chủ yếu nhằm hỗ trợ

thực hiện các chính sách của Chính phủ như khuyến khích xuất khẩu, bảo vệ

mơi trường sinh thái, tạo công ăn việc làm cho khu vực nơng thơn…

Trong loại hình ngân hàng, Ngân hàng Chính sách xã hội là Ngân hàng

chuyên về thực hiện hỗ trợ của Chính phủ với đối tượng đặc biệt là những cư

dân có hồn cảnh khó khăn trong xã hội. Trong đó, nhiệm vụ xóa đói giảm

nghèo ln là mục tiêu chủ yếu của mơ hình NHCSXH.

Vai trò của NHCSXH được thể hiện rõ nét trong Nghị định 78/NĐ- CP

ngày 04/10/2002 của Chính phủ “Về tín dụng đối với người nghèo và các đối

tượng chính sách khác”. NHCSXH có vai trò quan trọng trong cơng cuộc xóa

đói giảm nghèo, là cơng cụ của Chính phủ để tập trung huy động mọi nguồn

lực tài chính trong và ngồi nước đầu tư cho vay ưu đãi đối với hộ nghèo và

các đối tượng chính sách khác theo quy định của Chính phủ giúp họ có vốn

sản xuất kinh doanh, làm ăn hiệu quả xóa đói giảm nghèo vươn lên hòa nhập

cộng đồng. Thơng qua hoạt động của NHCSXH nâng cao uy tín của Nhà

nước, của Chính phủ và thể hiện được bản chất ưu việt của chế độ đối với hộ

nghèo và cộng đồng chính sách khác, thực hiện cơng bằng và ổn định xã hội.

Như vậy, đối tượng phục vụ chủ yếu của NHCSXH là tầng lớp dân

nghèo, thường tập trung ở khu vực nông thôn hay vùng miền kinh tế chậm

phát triển, góp phần thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xóa đói giảm

nghèo, ổn định xã hội. Có thể hiểu, NHCSXH hoạt động khơng vì mục tiêu



11



lợi nhuận mà vì an sinh xã hội, xóa đói giảm nghèo. Do đó, chính sách cho

vay tại NHCSXH có vai trò quan trọng đối với hộ nghèo. Là công cụ quan

trọng để phá vỡ vòng luẩn quẩn của thu nhập thấp, tiết kiệm thấp và năng suất

thấp, là chìa khóa vàng để giảm nghèo, thể hiện ở một số nội dung sau:

Thứ nhất, cung cấp vốn để cho vay hộ nghèo, góp phần cải thiện thị

trường tài chính cộng đồng, nơi có hộ nghèo sinh sống.

Nguồn vốn cho vay hộ nghèo đã góp phần cải thiện tình hình thị trường

tài chính khu vực nông thôn, nhất là vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó

khăn, vùng có nhiều đồng bào dân tộc ít người sinh sống. Nhờ nguồn vốn

NHCSXH mà các hộ nghèo có điều kiện tiếp cận khoa học kỹ thuật, công

nghệ như các giống cây, con, kỹ thuật canh tác mới và cũng nhờ nguồn vốn

vay mà hộ nghèo tiếp cận được với khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư.

Thứ hai, cho vay hộ nghèo làm giảm tỷ lệ cho vay nặng lãi

Hiện nay tệ cho vay nặng lãi vẫn đang tồn tại khá nặng nề ở nông thôn,

nhất là vùng cao, vùng sâu,vùng xa. Do nhu cầu cấp bách (thường là do đói

kém, ốm đau bệnh tật, chi phí con đi học hoặc nhu cầu đột xuất) nên họ phải

vay nặng lãi. Cho vay nặng lãi gây nhiều tác hại cho người dân, đặc biệt là hộ

nghèo, làm cho hộ nghèo càng nghèo thêm. Hoạt động của ngân hàng, trong

đó có NHCSXH đã trực tiếp làm giảm tỷ lệ cho vay nặng lãi

Thứ ba, góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, giúp người nghèo có

việc làm, nâng cao kiến thức tiếp cận thị trường, có điều kiện hoạt động sản

xuất kinh doanh trong nền kinh tế thị trường.

Thông qua nguồn vốn cho người nghèo vay đã hỗ trợ phát triển ngành

nghề ở nông thôn, như: Chế biến nông sản, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ phục

vụ sản xuất và đời sống cũng như thủ công mỹ nghệ, ngành nghề truyền

thống. Nhờ vậy, đã giải quyết việc làm cho hàng triệu lao động, tận dụng lao

động để khai thác ngành nghề truyền thống, khai thác tiềm năng nội lực, tạo



12



cơ hội cho người nghèo tự vận động, tự vượt qua khó khăn, tự vươn lên thốt

khỏi đói nghèo và hòa nhập cộng đồng.

Thứ tư, cung ứng vốn cho người nghèo góp phần xây dựng nơng thơn

mới. Khi vay vốn cùng làm ăn, các hộ nghèo có điều kiện trao đổi kinh

nghiệm sản xuất, kinh nghiệm quản lý kinh tế, chia sẻ rủi ro, hoạn nạn. Thơng

qua đó mà tình làng nghĩa xóm được gắn bó hơn. Kết quả phát triển kinh tế đã

làm thay đổi bộ mặt kinh tế nông thôn, trật tự an ninh xã hội được giữ vững,

tạo bộ mặt mới trong đời sống kinh tế- xã hội ở nông thôn.

1.2. Chất lượng dịch vụ ủy thác cho vay tại NHCSXH

1.2.1. Khái niệm

1.2.1.1. Chất lượng

"Chất lượng" là một phạm trù phức tạp và có nhiều định nghĩa khác

nhau, có rất nhiều quan điểm về chất lượng. Tùy theo đối tượng sử dụng, từ

"chất lượng" có ý nghĩa khác nhau. Sau đây là một số khái niệm điển hình:

Theo Giáo sư Ph. Crosby: “Chất lượng là sự phù hợp với những yêu

cầu hay đặc tính nhất định”. Theo Tổ chức Quốc tế về tiêu chuẩn hóa (ISO),

trong bộ tiêu chuẩn ISO 9000 đưa ra định nghĩa: “Chất lượng là mức độ của

tập hợp các đặc tính vốn có, đáp ứng các yêu cầu”. Định nghĩa này thể hiện sự

thống nhất giữa các đặc tính của nội tại khách quan của sản phẩm dịch vụ với

đáp ứng các yêu cầu đã đặt ra. Theo J.Jujan: “Chất lượng là sự phù hợp với

các mục đích và sử dụng”. Phần lớn các tác giả cho rằng: “Chất lượng là sự

thỏa mãn nhu cầu khách hàng”.

Theo tác giả: Chất lượng là khả năng của tập hợp các đặc tính của một

sản phẩm, hệ thống hay quá trình để đáp ứng các yêu cầu của khách hàng và

các bên có liên quan

Đối với tín dụng ngân hàng thì “Chất lượng cho vay” được hiểu là vốn

vay ngân hàng đáp ứng kịp thời, đầy đủ nhu cầu của khách hàng và được

khách hàng đưa vào quá trình sản xuất kinh doanh tạo ra số tiền lớn hơn để



13



khách hàng trang trải đủ chi phí, hồn trả đầy đủ và đúng hạn cho ngân hàng

cả gốc lẫn lãi và có lợi nhuận phù hợp với sự phát triển kinh tế - xã hội.

Vì NHCSXH cho vay ưu đãi nhằm cải thiện đời sống người đi vay, góp

phần thực hiện mục tiêu xóa đói giảm nghèo và việc làm, ổn định xã hội. Cho

nên, chất lượng cho vay của NHCSXH còn được đánh giá trên phương diện

mức sống của hộ nghèo, hiệu quả giảm nghèo, khoảng cách giữa người giàu,

người nghèo, tạo việc làm cho người nghèo và ổn định xã hội.

Chất lượng cho vay hộ nghèo được thể hiện:

- Đối với Ngân hàng: Chất lượng cho vay là hiệu quả của việc cho vay

mang lại; là khả năng thu hồi gốc và lãi cho vay đầy đủ và đúng hạn. Hiệu

quả và khả năng thu nợ càng cao thì chất lượng cho vay càng cao và ngược

lại. Chất lượng cho vay hộ nghèo còn thể hiện ở việc chấp hành các quy định

của cơ chế tín dụng đối với từng chương trình về đối tượng, điều kiện, mức

cho vay, thời hạn, lãi suất,…

- Đối với khách hàng: Chất lượng cho vay thể hiện các khoản vay được

đáp ứng kịp thời, đầy đủ với lãi suất hợp lý

- Đối với nền kinh tế: Chất lượng cho vay là phục vụ tốt cho sản xuất

và lưu thơng hàng hóa tồn bộ nền kinh tế, góp phần giải quyết công ăn việc

làm, sử dụng hiệu quả các nguồn vốn nhàn rỗi trong xã hội, khai thác mọi

tiềm năng của nền kinh tế, góp phần giải quyết tốt mối quan hệ giữa tăng

trưởng cho vay và tăng trưởng kinh tế

Chất lượng cho vay của ngân hàng tỷ lệ thuận với hiệu quả, độ tin cậy

và uy tín của ngân hàng

1.2.1.2. Tín dụng ngân hàng

Tín dụng ngân hàng là quan hệ chuyển nhượng vốn giữa ngân hàng với

các chủ thể khác trong nền kinh tế; trong mối quan hệ này, ngân hàng là nơi

tập trung vốn dưới hình thức huy động nguồn tiền nhàn rỗi, cần đầu tư kiếm



14



lãi của những tổ chức, cá nhân và thực hiện phân phối vốn cho những người

có nhu cầu về vốn để sử dụng dưới hình thức cho vay

Tín dụng ngân hàng có đặc điểm sau:

Thứ nhất, tín dụng ngân hàng dựa trên cơ sở của lòng tin. Ngân hàng

chỉ cấp tín dụng khi có lòng tin vào khách hàng sử dụng vốn vay đúng mục

đích, hiệu quả và có khả năng hồn trả nợ vay (gốc, lãi) đúng hạn; còn người

đi vay thì tin tưởng vào khả năng kiếm được tiền trong tương lai để trả được

nợ gốc và lãi vay.

Thứ hai, tín dụng là sự chuyển nhượng một tài sản có thời hạn hay có

tính hồn trả. Ngân hàng là trung gian tài chính “đi vay để cho vay”, nên mọi

khoản tín dụng của ngân hàng đều phải có thời hạn, bảo đảm khả năng thu hồi

vốn. Thời hạn cho vay phải phù hợp với chu kỳ luân chuyển vốn của đối

tượng vay thì người vay mới có điều kiện trả nợ tín dụng đúng hạn.

Thứ ba, tín dụng ngân hàng phải trên ngun tắc khơng chỉ hồn trả

gốc mà phải cả lãi. Nếu khơng có sự hồn trả thì khơng được coi là tín dụng.

Giá trị hồn trả phải lớn hơn giá trị cho vay (giá trị gốc), nghĩa là ngoài việc

hoàn trả giá trị gốc, khách hàng phải trả cho ngân hàng một khoản lãi.

Thứ tư, tín dụng là hoạt động tiềm ẩn rủi ro cao cho ngân hàng. Ngồi

ra việc thu hồi vốn tín dụng phụ thuộc khơng những vào bản thân khách hàng,

mà còn phụ thuộc vào mơi trường hoạt động, ngồi tầm kiểm sốt của bản

thân khách hàng như biến động về giá cả, lãi suất, tỷ giá, lạm phát, thiên tai…

Khi khách hàng gặp khó khăn do mơi trường kinh doanh thay đổi, dẫn đến

khó khăn trong việc trả nợ, điều này khiến cho ngân hàng gặp rủi ro tín dụng.

Thứ năm, tín dụng phải trên cơ sở cam kết hồn trả vơ điều kiện. Quá

trình xin vay và cho vay diễn ra trên cơ sở những căn cứ pháp lý chặt chẽ

như: Hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp, cầm cố cho bên thứ ba vay vốn,

hợp đồng bảo lãnh, khế ước nhận nợ,…, trong đó bên đi vay phải cam kết

hồn trả vô điều kiện khoản vay cho ngân hàng khi đến hạn.



15



Từ những đặc điểm trên cho thấy, tín dụng ngân hàng phải đảm bảo được

hai nguyên tắc cơ bản là: vốn vay phải được sử dụng đúng mục đích và vốn vay

phải được hoàn trả cả gốc lẫn lãi đúng thời hạn đã cam kết trong hợp đồng.

1.2.1.3. Dịch vụ ủy thác cho vay

Trước khi tìm hiểu về khái niệm dịch vụ ủy thác cho vay của Ngân

hàng chính sách xã hội chúng ta cần biết đến khái niệm về tín dụng ưu đãi.

- Tín dụng ưu đãi của NHCSXH là quan hệ kinh tế giữa NHCSXH với

các khách hàng là đối tượng chính sách, trong đó NHCSXH chuyển giao tiền

cho khách hàng trong một thời gian nhất định với những thỏa thuận hoàn trả

cái gốc và lãi (ưu đãi) trong một thời gian nhất định giữa khách hàng và NH.

Theo Khoản 1, Điều 3, Quyết định số 742/2002/QĐ-NHNN ngày

17/07/2002 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam về việc ban hành

Quy định ủy thác và nhận ủy thác cho vay vốn của tổ chức tín dụng thì: "Uỷ

thác cho vay" là việc bên uỷ thác giao vốn cho bên nhận uỷ thác thông qua

hợp đồng uỷ thác cho vay để trực tiếp cho vay đến các đối tượng khách hàng,

bên uỷ thác trả phí uỷ thác cho bên nhận uỷ thác [16]

Đối với NHCSXH thì dịch vụ ủy thác cho vay hộ nghèo và các đối

tượng chính sách là việc NHCSXH ủy quyền cho tổ chức tín dụng hay tổ

chức chính trị - xã hội thực hiện tồn bộ hoặc một phần cơng việc trong quy

trình nghiệp vụ cho vay của NHCSXH với một mức phí nhất định được thỏa

thuận giữa NHCSXH và các tổ chức tín dụng hay tổ chức chính trị- xã hội.

1.2.1.4. Đặc điểm dịch vụ ủy thác cho vay tại NHCSXH

Dịch vụ ủy thác cho vay hộ nghèo và các đối tượng chính sách khác

của NHCSXH là một hoạt động tín dụng ngân hàng, nên ngồi những đặc

trưng sẵn có của tín dụng ngân hàng thì dịch vụ ủy thác cho vay còn mang

những đặc điểm riêng của tín dụng ưu đãi và những điều kiện riêng biệt:



16



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ ỦY THÁC CHO VAY TẠI NGÂN HÀNG CHÍNH SÁCH XÃ HỘI

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×