Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Ngày 1-6-2002, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) VN đã ban hành quyết định về việc thực hiện cơ chế lãi suất thỏa thuận trong hoạt động tín dụng thương mại bằng đồng VN của tổ chức tín dụng (TCTD) đối với khách hàng. Theo đó, TCTD xác định lãi suất cho vay bằng đ

Ngày 1-6-2002, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) VN đã ban hành quyết định về việc thực hiện cơ chế lãi suất thỏa thuận trong hoạt động tín dụng thương mại bằng đồng VN của tổ chức tín dụng (TCTD) đối với khách hàng. Theo đó, TCTD xác định lãi suất cho vay bằng đ

Tải bản đầy đủ - 0trang

Đề án mơn học



Lý thuyết tài chính tiền tệ



và cá nhân VN, nước ngoài hoạt động tại VN.

Ngoài ra, NHNN tiếp tục công bố lãi suất cơ bản trên cơ sở tham khảo

mức lãi suất cho vay thương mại đối với khách hàng tốt nhất của nhóm các

TCTD để làm tham khảo và định hướng lãi suất thị trường. Đây là một bước

chuyển căn bản của VN trong việc điều hành lãi suất, tạo điều kiện cho các

TCTD mở rộng mạng lưới để huy động, cho vay vốn với mức lãi suất phù

hợp với quan hệ cung cầu vốn thị trường, đồng thời nâng cao năng lực tài

chính, khả năng cạnh tranh, các tiêu chuẩn an toàn và khả năng hội nhập với

thị trường tài chính tiền tệ quốc tế của các TCTD VN. Với cơ chế này, Nhà

nước chính thức không can thiệp vào hoạt động điều hành lãi suất bằng việc

ấn định lãi suất cho vay mà chỉ gián tiếp điều tiết lãi suất nhằm có lợi nhất

cho nền kinh tế. Cơ chế này cũng giúp giảm thiểu rủi ro trong hoạt động tín

dụng và giúp các ngân hàng nới lỏng các biện pháp bảo đảm tiền vay (thế

chấp) đối với khách hàng. Cũng trong cùng ngày 1-6-2002 NHNN đã có

quyết định cơng bố lãi suất cơ bản bằng đồng VN là 0,60%/tháng

(7,2%/năm).

Khi được thỏa thuận mức lãi suất, các ngân hàng sẽ mở rộng diện cho

vay, đó là điều kiện để xóa bỏ nạn tín dụng đen. các ngân hàng thương mại

(NHTM) sẽ được chủ động hơn trong vấn đề kinh doanh.

Hơn nữa, lãi suất thỏa thuận cũng giúp cho dòng chảy vốn thơng thống

và cho vay ở nông thôn sẽ tăng lên. Lâu nay, lãi suất đầu ra của các NHTM bị

khống chế bởi lãi suất trần do NHNN quy định. Cụ thể, lãi suất trần được tính

bằng lãi suất cơ bản 0,6% cộng 0,3% (với loại vay ngắn hạn) và cộng 0,5%

(với loại vay trung, dài hạn). Tại các đô thị, do nguồn vốn dồi dào, có nhiều

ngân hàng cạnh tranh nên lãi suất cho vay thường thấp, hiếm khi đụng lãi suất

trần.Quyết định 546 đã tạo điều kiện cho các NHTM chủ động trong việc huy

động và cho vay với lãi suất thỏa thuận, làm cho dòng chảy đồng vốn thơng

thống hơn, đồng thời các NHTM ở nơng thơn có thể sẽ tăng lãi suất cho vay

để tránh bị lỗ. Khi mức lãi vay ở nơng thơn tăng lên thì các NHTM sẽ điều

tiết vốn huy động từ các đô thị về nông thôn, mở rộng việc cho vay đối với

SV: Nguyễn Hà Mi



18



Lớp: Ngân hàng 49B



Đề án mơn học



Lý thuyết tài chính tiền tệ



nông dân. Sự điều chỉnh này sẽ là điều kiện để xóa bỏ nạn tín dụng đen.

Đối với nguồn cung ngoại tệ, từ ngày 01/03/2007, NHNN đã chính thức

thực hiện bỏ quy định về trần lãi suất tiền gửi USD của pháp nhân tại TCTD

để hồn tồn tự do hóa lãi suất thị trường, phù hợp với tiến trình hội nhập

quốc tế.

Tuy nhiên đến giai đoạn cuối năm 2007, đầu năm 2008, thị trường bất

động sản xuất hiện những dấu hiệu bất ổn khi giá cả tăng chóng mặt, trong

khi thị trường chứng khoán lại đi xuống. Với mục tiêu chính là kiềm chế lạm

phát, từ đầu năm đến giữa năm 2008, NHNN Việt Nam đã tăng lãi suất cơ bản

3 lần và tới thời điểm tháng 6/2008, mức lãi suất cơ bản là 14%. Việc làm này

đã gây sốc trên thị trường tiện tệ cũng như hoạt động của các NHTM, các

NHTM liên tục bám đuổi nhau tăng lãi suất huy động nội tệ. Hệ quả là đã đẩy

lãi suất lên quá cao, tác động tiêu cực đến GDP, đến hiệu quả của nền kinh tế

và tính an tồn của hệ thống NHTM.

c, Giai đoạn 2008 đến nay

Năm 2008 chứng kiến sự biến động mạnh của lãi suất với sự điều hành

chính sách tiền tệ linh hoạt và uyển chuyển của NHNN.Từ năm 2008 - đầu

năm 2010 là giai đoạn quay lại cơ chế điều hành lãi suất trần.

Do ảnh hưởng của cuộc đại suy thoái kinh tế thế giới mà khởi đầu là

cuộc khủng hoảng tín dụng tại Mỹ, tỷ lệ lạm phát của Việt Nam tăng rất cao

trong năm 2008 (19.89%). Vì vậy chính sách thắt chặt tiền tệ đã được thực thi

từ đầu năm 2008, đến giữa năm, ngày 17/05/2008, NHNN thơng báo điều

chỉnh chính sách lãi suất nhằm nới lỏng thị trường.

NHNN ban hành Quyết định số 16/2008/QĐ- NHNN về việc điều hành

lãi suất trên cơ sở thực hiện nghiêm túc khoản 1 điều 476 bộ luật dân sự, điều

9 và điều 18 luật NHNN. Theo quyết định này, lãi suất cho vay của tổ các tổ

chức tín dụng đối với khách hàng khơng được vượt quá 150% lãi suất cơ bản

do NHNN công bố.

Từ cuối năm 2008 đến 2010, lãi suất cơ bản được giữ khá ổn định ở mức

8%/năm. Nhìn chung cơ chế trần lãi suất đã có tác động tích cực bình ổn thị

trường trong thời kỳ khủng hoảng, và các cú sốc bởi những thay đổi trong



SV: Nguyễn Hà Mi



19



Lớp: Ngân hàng 49B



Đề án mơn học



Lý thuyết tài chính tiền tệ



chính sách để chống lạm phát và suy giảm kinh tế.

Từ đầu năm 2010 đến nay, tình hình kinh tế bắt đầu ổn định, cơ chế lãi

suất trần khơng còn phù hợp với những diễn biến mới của thị trường. Nguồn

vốn huy động của các TCTD chủ yếu là ngắn hạn trong khu nhu cầu vốn vay

trung – dài hạn là rất lớn, điều này có thể làm rủi ro mất cân đối kỳ hạn vốn

tăng lên.

Chính vì vậy, ngày 26/2 NHNN đã ban hành thông tư 07/2010/TTNHNN cho phép các ngân hàng thương mại được thực hiện lãi suất thỏa

thuận đối với các khoản vay trung dài hạn. Điều đó có nghĩa là NHTM có thể

thỏa thuận với khách hàng để cho vay với lãi suất cao hơn lãi suất trần cho

các khoản vay trung dài hạn.

Đến ngày 14/4 NHNN lại ban hành Thông tư số 12/2010/TT-NHNN

hướng dẫn tổ chức tín dụng cho vay bằng VND đối với khách hàng theo lãi

suất thỏa thuận.

Tuy nhiên, NHNN cũng yêu cầu các ngân hàng phải xác định và kiểm

soát các giới hạn tín dụng đối với một khách hàng và việc cho vay theo lãi

suất thỏa thuận phải phù hợp với quy định của pháp luật về các tỷ lệ bảo đảm

an tồn trong hoạt động của từng tổ chức tín dụng và điều kiện hoạt động kinh

doanh của tổ chức đó. Bên cạnh đó, định kỳ hàng tháng, các ngân hàng phải

gửi báo cáo cho NHNN về cho vay bằng đồng Việt Nam theo lãi suất thỏa

thuận.

3. Những đánh giá trong điều hành chính sách lãi suất thời gian gần

đây:

Thời gian qua, Ngân hàng nhà nước đã ó những bước thay đổi về điều

hành lãi suất trong nền kinh tế để đảm bảo cho chính sách lãi suất phù hợp với

định hướng phát triển kinh tế xã hội của Đảng, Chính phủ trong mỗi thời kỳ.

Giai đoạn trước năm 2000, Ngân hàng nhà nước áp dụng mức lãi suất

trần tín dụng khi nền kinh tế thị trường còn sơ khai, chưa phát huy được hết

mặt tích cực nhạy cảm của nó. Vì thế, sang đến năm 2000 Ngân hàng nhà

nước đã chuyển lãi suất trần sang lãi suất cơ bản. So với cơ chế trần lãi suất

tín dụng, cơ chế lãi suất cơ bản có một số ưu việt sau:

- Nền tảng thị trường đã được đưa vào cơ chế xác định lãi suất cơ bản .

SV: Nguyễn Hà Mi



20



Lớp: Ngân hàng 49B



Đề án mơn học



Lý thuyết tài chính tiền tệ



- Môi trường cho việc ấn định lãi suất kinh doanh của các tổ chức tín

dụng

được mở rộng tạo khn khổ linh hoạt cho các tổ chức tín dụng khi áp

dụng lãi suất.

- Tạo điều kiện cho các tổ chức tín dụng và khách hàng gửi, vay vốn có

thể thoả thuận để lựa chọn lãi suất cố định hoặc lãi suất thả nổi có điều chỉnh, có

lợi cho các bên khuyến khích tổ chức tín dụng mở rộng huy động vốn và cho vay

trung và dài hạn.

- Làm cho mối quan hệ giữa lãi suất VND - tỷ giá lãi suất ngoại tệ linh

hoạt hơn, phản ánh được chính xác hơn cung - cầu vốn, ngoại tệ tạo cơ sở

cho ngân hàng nhà nước khi cần thiết có thể can thiệp để ổn định thị trường.

Tuy nhiên sau đó, Ngân hàng nhà nước thay đổi các cơ chế lãi suất một

cách linh hoạt tùy vào những điều kiện kinh tế nhằm phát huy vai trò của lãi

suất đối với nền kinh tế. Năm 2002, Ngân hàng nhà nước áp dụng cơ chế lãi

suất thỏa thuận nhằm tạo điều kiện cho các TCTD mở rộng mạng lưới để huy

động, cho vay vốn với mức lãi suất phù hợp với quan hệ cung cầu vốn thị

trường, đồng thời nâng cao năng lực tài chính, khả năng cạnh tranh, các tiêu

chuẩn an tồn và khả năng hội nhập với thị trường tài chính tiền tệ quốc tế của

các TCTD VN. Đến năm 2008 do khủng hoảng tài chính tồn cầu, ngân hàng

áp dụng chính sách tiền tệ linh hoạt cùng với mức lãi suất trần để ngăn lạm

phát, suy thoái kinh tế. Tuy nhiên, sau một thời gian áp dụng cơ chế trần lãi

suất, cơ chế này đã bộc lộ quá nhiều hạn chế, vì thế ngày 26/2/2010, NHNN

đã cho phép các TCTD theo lãi suất thỏa thuận đối với các khoản vay bằng

VNĐ trung và dài hạn, đối với ngắn hạn là ngày 14/4.

Ngay sau khi cơ chế mới được thực hiện, lãi suất thỏa thuận đã nhanh

chóng tạo nên những hiệu ứng tích cực đối với nền kinh tế:

Thứ nhất, hình thành mặt bằng lãi suất cho vay minh bạch, rõ ràng và

phản ánh đúng tín hiệu của thị trường, chấm dứt tình trạng phí “ngầm” mà

Ngân hàng Nhà nước cũng khó kiểm soát.

Thứ hai, tạo điều kiện cho các NHTM chủ động xác định mức lãi suất



SV: Nguyễn Hà Mi



21



Lớp: Ngân hàng 49B



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Ngày 1-6-2002, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) VN đã ban hành quyết định về việc thực hiện cơ chế lãi suất thỏa thuận trong hoạt động tín dụng thương mại bằng đồng VN của tổ chức tín dụng (TCTD) đối với khách hàng. Theo đó, TCTD xác định lãi suất cho vay bằng đ

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×