Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
1 Chuẩn bị vườn chè giống

1 Chuẩn bị vườn chè giống

Tải bản đầy đủ - 0trang

156



- Cuối năm II: đốn ở độ cao 25cm;

- Cuối năm III: đốn ở độ cao 30 – 35cm.

- Các năm sau, mỗi năm đốn cao hơn năm trước 5cm.

- Thời vụ đốn: đốn chậm hơn so với vườn sản xuất, thường đốn vào tháng 2, sau khi cắt

hom vào tháng 1.

Mỗi năm có thể thu cành giống 2 lần vào các tháng 1 và 7. Nên bấm ngọn ( 1 tôm + 1 - 2 lá )

trước khi cắt cành để tập trung dinh dưỡng cho cành giống, đồng thời kích thích các mầm

nách phát động.

- Ở vụ Đơng Xuân, sau khi thu hom giống vào tháng 1, tiến hành đốn vào tháng 2. Sau đó, ở

đợt cành đầu tiên, hái tỉa 1 – 2 lần những búp to, cao ở giữa tán, để lại 1 – 2 lá chừa. Không

hái các búp ở mép tán.

- Vụ Hè Thu, tương tự vụ Đông Xuân, tức là sau khi cắt cành vào tháng 7, tiến hành đốn nhẹ

cho bằng tán, rồi cũng hái tỉa 1 – 2 đợt những búp to, cao ở giữa tán, búp ở mép tán không

hái.

16.1.2



Vườn chè lưu

Từ những vườn chè cành đang hái

búp, chọn vườn chè tốt (chọn các giống

đã được khuyến cáo: TB 14, LĐ97…) sinh

trưởng đồng đều, ít sâu bệnh, năng

suất cao; ngưng hái búp và tiến hành

chăm sóc theo hướng chè giống.



Trước khi thu hoạch cành giống, phải

tiến hành đốn chè và chăm sóc, quản

lý như với vườn giống chính quy.

Hình 4.11 Vườn giống chè lưu tại Trung tâm Nghiên cứu

và chuyển giao kỹ thuật Cây Công nghiệp và Cây ăn quả

Quy trình chăm sóc vườn chè giống

Lâm Đồng



lưu theo khuyến cáo của Cơng ty

Chè Lâm Đồng



- Phân bón: nên bón phân hữu cơ 2 năm/lần với lượng dùng 15 – 20 tấn/ha; phân vơ cơ,

NPK, bón theo tỷ lệ 1:1,2:0,8 (ví dụ: 300kg N – 360kg P2O5 – 240kg K2O).



157



- Đốn ở độ cao 70 – 75cm vào tháng 12 – 2.

- Các biện pháp chăm sóc khác như ở vườn chè giống chính quy.

16.2



Vườn ươm cành



Có hai loại vườn ươm:

- Vườn ươm cổ điển: hom chè được

giâm trên luống đất, nên còn được

gọi là vườn ươm cố định. Ngày nay,

vườn ươm cổ điển hầu như khơng

còn được sử dụng.

- Vườn ươm tiến bộ: hom chè giống Hình 4.12 Bụi chè PH1 được ngưng hái búp để tạo cành

được giâm trực tiếp vô bầu đất nên giống tại Trung tâm Nghiên cứu và chuyển giao kỹ thuật

còn gọi là vườn ươm di động. Ưu Cây Công nghiệp và Cây ăn quả Lâm Đồng

điểm chủ yếu của loại vườn ươm này

là: đất vườn ươm được chuẩn bị đúng yêu cầu, loại trừ khâu đánh bầu tốn công lại tổn hại

đến cây con, di chuyển cây con dễ dàng. Hiện nay chủ yếu người ta sử dụng kiểu vườn ươm

này.

16.2.1



Chọn vị trí xây dựng vườn ươm



- Vườn ươm được bố trí ở những vùng có điều kiện khí hậu thích hợp đối với cây chè (có

ánh sáng đầy đủ, ẩm độ khơng khí khá cao, gió khơng q lớn…). Ở vùng núi, tránh những

vùng trũng, có nhiệt độ q thấp vào mùa Đơng; tránh nơi đầu gió vì dễ làm để giàn, lay gốc

hom.

- Khu vực làm vườn ươm phải gần nguồn nước, gần diện tích chè sắp trồng mới, gần đường

vận chuyển.

- Nên chọn đất đỏ hay vàng có cấu tượng tốt, ít chất hữu cơ; pH = 4,5 – 6,0; không bị nhiễm

mầm sâu bệnh; mực nước ngầm dưới 1m (không cần thiết nếu cắm hom vào bầu). Một số

nơi, để đảm bảo cho giâm cành thành công, người ta phải chở đất từ nơi khác đến để làm

vườn ươm.

- Độ dốc khơng q 5o.



158



16.2.2



Thiết kế giàn che



Giàn che có tác dụng điều tiết ánh sáng, nắng, mưa, gió trong vườn ươm; giữ nhiệt độ và ẩm

độ khơng khí thích hợp cho sự phục hồi và sinh trưởng của hom giống. Ngoài ra, giàn che

cũng giúp bảo vệ cây con khỏi sự phá hại của gia súc, gia cầm hay một số tác động cơ giới

khác của con người.

Tùy khả năng kinh phí, trình độ kỹ thuật và vật liệu tại chổ, có thể làm giàn che với nhiều

quy mơ khác nhau, bằng nhiều vật liệu khác nhau (lưới polythene đen, tranh, phên – cót…).

u cầu chung là phải lợp kín cả khu vực vườn ươm và che kín xung quanh, nhưng phải

thuận tiện và chủ động điều chỉnh ánh sáng. Xu hướng hiện nay thường làm giàn che bằng

lưới polythene để thơng thống và khỏi tốn cơng cất dỡ sau này (nhưng chi phí đầu tư sẽ cao).

Xét về độ cao, có 3 loại giàn che:

giàn cao, thấp và sát đất.

- Giàn cao: chiền cao của giàn che

cao 1,5 – 1,8 m trở lên. Ưu điểm: dễ

dàng đi lại dưới giàn. Nhược: phải

sử dụng cột chống to, chắc  tốn

kém, chi phí cao (tuy có thể dùng 2

– 3 vụ). Thường giàn che cao được

Hình 4.13 Một kiểu vườn ươm chè cành

xây dựng cho toàn vườn ươm. Kiểu

giàn che này được sử dụng phổ biến hiện nay tại Lâm Đồng.

- Giàn thấp: thường là giàn che cho

từng luống riêng rẽ; chiều cao giàn

chỉ đạt 1,0 – 1,2m. Ưu điểm: ít tốn

nguyên liệu  giá rẻ; ít đỗ ngã, dễ

điều khiển ánh sáng. Nhược điểm: đi

lại, các thao tác chăm sóc khó khăn.

Kiểu giàn che này hiện nay ít được

sử dụng.

- Giàn sát đất: được xây dựng cho

từng luống riêng biệt, chỉ cao 0,5 – Hình 4.14 Vườn ươm chè cành tại Trung tâm Nghiên cứu



và chuyển giao kỹ thuật Cây Cơng nghiệp và Cây ăn quả

Lâm Đồng



Hình 4.13 Một kiểu giàn che vườn ươm chè cành



159



0,6m; chưa phổ biến ở Việt Nam do thấp  hầm (nhiệt độ và ẩm độ trong giàn che cao) 

hom chè dễ bị chết.

Ngoài ra, trong từng điều kiện sản xuất cụ thể, còn có một số loại giàn đặc biệt khác được

áp dụng một cách linh động tùy điều kiện từng vùng (giàn một mái, lều cọc sắt, bồ giâm

cành, bể giâm cành…).

Phổ biến trong sản xuất hiện nay ở vùng chè Lâm Đồng là các loại giàn che cao bằng lưới

polythene đen.

Bên dưới giàn che, vườn ươm cần được chia ô với kích thước hợp lý để dễ quản lý, chăm

sóc, đi lại và vận chuyển (kích thước mỗi luống khơng q 1,2 m x 20,0m). Có thể kết hợp

phân ơ với đào rãnh tưới và tiêu nước.

16.2.3 Chuẩn bị môi trường giâm

Như đã trình bày ở trên, hom chè

giống có thể được giâm trên liếp

giâm hay giâm trong túi polythene,

nhưng những yêu cầu cơ bản về môi

trường giâm cành gần như giống

nhau:

- Nên chọn đất cát pha sét, tơi xốp,

hàm lượng chất hữu cơ thấp.

- Đất chua, pH thích hợp từ 4,5 –

5,0; có thể làm giảm pH đất bằng

sulphate nhơm (15 – 20 g.m-2); khơng dùng đất có pH > 5,5.



Hình 4.15 Chuẩn bị đất vơ bầu



Cắm hom chè trên liếp ươm

- Trong thực tế hiện nay hầu như người ta khơng còn giâm cành chè bằng cách này.

- Nếu là đất mới khai hoang thì cần cày ải trước 3 tháng, còn đất đã được khai hoang từ

trước thì chỉ cần cày sâu 25 – 30cm, bừa nhỏ rồi lên luống theo hướng Đông - Tây ( để tránh

nắng hai bên luống). Kích thước luống: cao 15 – 20cm, mặt luống rộng 120cm, chiều dài luống

tùy theo kích thước vườn ươm, rãnh luống rộng 60cm. Tuy nhiên, để tiện chăm sóc, chiều

dài của luống khơng nên dài q 20m. Yêu cầu: sau khi lên luống xong, mặt luống phải

bằng phẳng, đất mặt luống phải có kết cấu tốt, tơi xốp, nhỏ, mịn.



160



- Nếu đất giàu chất hữu cơ, nhiều mùn thì nên phủ thêm trên mặt luống một lớp đất cái dày

8cm (thường đất cái là đất từ độ sâu 10cm trở xuống).

Cắm hom vào bầu đất

Trường hợp cắm hom vào bầu đất, thì chỉ cần làm



sạch cỏ khu vực vườn ươm, rạch luống theo quy

cách trên, rồi xếp các bầu đất đã chuẩn bị trước

khít vào nhau thành từng luống rộng 1,2m. Nếu

dùng túi polythene có đường kính 8cm thì xếp

được 120 túi/m2.

Các loại bầu đất:

- Bầu 2 tầng: bầu đất có hai tầng, tầng dưới là đất

giàu dinh dưỡng, phần trên là đất cái, ít chất hữu

cơ. Ưu điểm: tạo điều kiện thuận lợi cho hom chè

hình thành và phát triển rễ cũng như sinh trưởng

về sau. Nhược điểm: tốn công. Hiện nay kiểu bầu

này hầu như khơng còn được sử dụng.

Hình 4.16 Bầu đất được xếp thành luống để



- Bầu một tầng: hiện nay chủ yếu người ta sử

giâm cành chè

dụng bầu một tầng bình thường; đất vơ bầu là đất

tơi xốp, ít chất dinh dưỡng.



Dù thiết kế bầu một hay hai tầng, cần phải đục lỗ thoát nước trên túi; thường người dân đục

2 lổ ở hay góc túi và 6 lổ trên thân túi polythene.

16.3



Thời vụ giâm cành



Về nguyên tắc, thời vụ giâm cành phụ thuộc vào thời vụ trồng mới.

- Miền bắc: hai vụ chính:

+ Vụ Đơng Xn: từ 15/12 – 15/02, tỷ lệ sống cao, nhưng thường tạo áp lực thiếu lao động

trong sản xuất nông nghiệp.

+ Vụ Hè Thu: từ 15/06 – 30/07, tỷ lệ sống khá, không quá tập trung lao động, vật tư. Nhược

điểm lớn nhất là hom chè dễ bị thối do nhiệt độ và ẩm độ cao.

- Miền nam: có thể giâm cành từ tháng 6 – 12, nhưng thường tập trung từ tháng 8 – 11.



161



16.4



Chọn cành, cắt hom



- Chọn cành 5 – 6 tháng tuổi, đã được bấm ngọn 7 – 10 ngày,

đường kính đạt 4 – 6 mm, sạch sâu bệnh, vỏ màu xanh, khoảng

1/3 thân phía dưới màu đỏ nâu.

- Cắt hom: dùng dao hoặc kéo thật bén cắt cành giống thàng

từng hom dài 3 – 4cm có một lá và một mầm nách dài khơng

q 5cm. Nếu mầm dài hơn 5cm thì phải bấm ngọn mầm. Vết

cắt phía trên mầm có dạng vát, độ dốc xuôi theo mặt lá và cách

nách lá khoảng 0,5cm. Nếu lá quá lớn thì nên cắt bớt 1/3 – ½

phiến lá để giảm bớt sự thốt hơi nước. Nên cắt hom vào buổi

sáng sớm hay chiều mát.

Hình 4.17 Cành chè giống

Về chất lượng hom: tốt nhất là chọn hom bánh tẻ. Hom già thì

mọc mầm chậm hơn còn hom non thì dễ bị thối.

Một số điểm cần lưu ý

- Cắt hom ngày nào giâm cành ngày đó.

- Tránh không làm dập vết cắt, làm dập hom, làm

gẫy cành lá, hoặc chất đống làm ôi ngốt. Thường cắt

hom vào chậu nước (có thể kết hợp xử lý hom).

Hình 4.18 Quy cách một hom chè



16.5



- Khi cắt nên phân loại hom; cắm hom theo từng

loại để dễ chăm sóc.



Xử lý hom



Trước khi cắm hom có thể xử lý hom bằng các chất kích thích sinh trưởng: 2,4-D, α-NAA,

NDA, chế phẩm calus… để rút ngắn thời gian ra rể, nhưng khơng quan trọng lắm vì khả

năng ra rể hom chè của hom chè khá mạnh.

Để bảo vệ hom, có thể xử lý đất và hom trước khi giâm bằng thuốc trừ bệnh (Benlate C,

Dithane M-45…), nhất là khi giâm cành trong mùa mưa.

16.6



Cắm hom



nhất là cắm hom ngay sau khi cắt. Đất khi cắm hom phải đủ ẩm. Cắm hom sao cho nách

lá cách mặt đất khoảng 0,5 – 1,0cm (cắm hom sâu quá, mầm dễ bị thối, còn cắm hom cạn quá thì hom

Tốt



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

1 Chuẩn bị vườn chè giống

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×