Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
8 Một số kỹ thuật giống khác

8 Một số kỹ thuật giống khác

Tải bản đầy đủ - 0trang

153



Còn mục đích của kỹ thuật đột biến là thúc đẩy các đột biến có lợi để cải thiện năng suất và

phẩm chất chè. Các nghiên cứu sơ bộ chủ yếu giới hạn ở việc chiếu xạ hom chè, hạt phấn và

hạt chè cho thấy những cây có xử lý có biểu hiện tốt hơn những cây khơng xử lý. Tuy nhiên,

các xử lý này không chỉ thất bại trong việc tạo ra những dòng đột biến ưu việt, mà còn làm

giảm sức sống, sinh trưởng cằn cổi và ít lá và cành (Singh và Aharma, 1982; được trích bởi

Willson và Clifford, 1992).

Theo Willson và Clifford (1992),

những tiến bộ gần đây trong

nghiên cứu tế bào và nuôi cấy

mô mở ra cơ hội cho khơng chỉ

việc nhân nhanh chóng vật liệu

nhân giống, mà cả cho việc sử

dụng các quy luật, kỹ thuật di

Hì truyền học, sinh lý học và sinh

nh 4.10 Nghiên cứu nuôi cấy mô chè tại Đại học Nông Lâm

hóa học vào việc phát triển các

Tp. Hồ Chi Minh

dòng chè đặc trưng.

Nhưng hiện nay các tiến bộ trong nuôi cấy mơ chè là khá chậm, chủ yếu vì hầu hết các

nghiên cứu đều chỉ giới hạn ở chổ chuẩn hố kỹ thuật. Do vậy, cây chè cơng nghệ sinh học

vẫn chưa được phát triển, dù đây là lĩnh vực có nhiều triển vọng để chuyển những gene đặc

trưng vào những kiểu gene đã thích nghi tốt.

15.9

15.9.1



Giới thiệu một số giống chè

Dòng chè PH1



Giống PH1 được chọn tạo bằng phương pháp chọn lọc cá thể từ tập đoàn Assamica từ năm

1965 và được công nhận năm 1972.

Đặc điểm: thân gỗ, phân cành

thấp, số cành cấp I nhiều, to

khỏe. Lá to trung bình, màu

xanh đậm, hình bầu dục. Trọng

lượng 1 búp đạt 0,8 - 1,0g.

Năng suất bình quân đạt 15 - 17

Hình 4.11 Búp chè PH1 gồm 1 tơm và 2 lá (P + 2)

tấn.ha-1, thâm canh tốt có thể

đạt 25 - 18 tấn.ha-1. Nguyên liệu phù hợp chế biến chè đen đạt tiêu chuẩn xuất khẩu. Có khả



154



năng chịu nóng, hạn khá. Chịu rét trung bình. Kháng rầy xanh, bọ xít muỗi khá. Dễ bị

nhiễm nhện đỏ.

15.9.2



Dòng chè LĐ97



LĐ97 là giống do Trung tâm Nghiên cứu Thực nghiệm Chè Lâm Đồng chọn lọc từ năm 1993

– 1997.

Đặc điểm: lá to, thon dài, chiều

dài 15 – 18cm, rộng 5 – 7cm,

có 10 – 12 đơi gân lá, mép lá có

răng cưa lớn, đều nhau, răng

cưa kéo dài đến chóp lá. Lá

màu xanh đậm. Cây sinh

trưởng và phân cành mạnh, ít

cành tăm hương. Búp to, có

nhiều lơng tơ trắng mịn. Khả

năng kháng sâu bệnh tốt, thích

hợp với địc hình cao. Năng suất

Hình 4.12 Vườn chè LĐ97 tại Lâm Đồng

cao (18 – 20 tấn/ha), phẩm chất

tốt, có thể dùng để chế biến chè xanh, đen. Tuy nhiên mật độ búp trên tán không cao.

15.9.3



Dòng chè TB14



TB14 là chè shan Trấn Ninh được bình tuyển tại B’lao.

Đặc điểm: lá màu xanh nhạt, hình

thon dài, chiều dài 10 – 15 cm,

rộng 4,0 – 4,5 cm, có 12 đơi gân

lá. Mép lá có răng cưa đều và kéo

dài đến chóp lá. Góc lá lớn, trên

tơm có nhiều lông tơ trắng mịn.

Khả năng phân cành mạnh. Năng Hình 4.13 Búp chè TB14 gồm 1 tơm và 2 lá thật (P + 2)

suất cao (17 – 18 tấn/ha). Chất

lượng tốt. Hiện nay là giống chè cành chủ lực tại Lâm Đồng.



155



Chương 16: KỸ THUẬT SẢN XUẤT CÂY CON BẰNG PHƯƠNG PHÁP

GIÂM CÀNH

16.1



Chuẩn bị vườn chè giống



Có hai loại vườn giống: vườn giống chính quy và vườn chè lưu. Thực tế hiện nay cho thấy

khơng có sự khác biệt lớn giữa vườn giống chính quy và vườn chè lưu.

16.1.1



Vườn giống chính quy



Vườn giống chính quy là vườn chè cành chuyên để thu hoạch cành giống.

Địa điểm thiết kế vườn chè giống phải đáp ứng đủ những yêu cầu về đất đai, khí hậu. Cũng

lưu ý bố trí gần đường giao thông và ở trung tâm khu vực trồng chè.

Vườn giống chính quy cung cấp cành phải được trồng bằng cành của các dòng chè đã được

chọn lọc kỹ (năng suất cao, phẩm chất tốt, thích nghi với vùng ). Nếu sau này khơng sản xuất hom

giống nữa, có thể đốn và chăm sóc thành vườn chè sản xuất búp bình thường.

Khoảng cách trồng: có thể trồng với khoảng cách 1,75 x 0,60 m, 1 – 2 cây con đủ tiêu

chuẩn/hốc. Theo Denis Bonheure, có thể bố trí cây giống với khoảng cách 1,2 x 1,2 m; có

thể trồng kiểu bình thường hay nanh sấu.

Phân bón: sử dụng phân bón cân đối, đúng kỹ thuật, đúng liều lượng, đúng thời gian cho

cây làm giống; có xu hướng tăng cường phân P, K, giảm lượng N ( thừa N: cành giâm ra rể kém,

lá dể bị rụng):

- Phân hữu cơ: được sử dụng để bón lót trước khi trồng (bón vào khoảng tháng 12, 1).

Lượng dùng: 30 tấn/ha. Ở các năm sau: hai năm bón phân hữu cơ một lần, lượng dùng 20

tấn/ha và bón vào đầu vụ.

- Phân vơ cơ: thường dùng 200kg sulfat ammon, 200kg KCl, chia làm các lần bón:

. Chè dưới 3 tuổi: bón 2 lần/năm, bón vào các tháng 2 và 8;

. Chè trên 3 tuổi: bón 4 lần/năm, vào các tháng 2, 5, 8 và 10.

Các chăm sóc khác: làm cỏ, phòng trừ sâu bệnh: triệt để, đúng lúc, đúng phương pháp.

Đốn tạo hình: kỹ thuật đốn tạo hình cho chè chuyên cung cấp cành giống:

- Cuối năm I (không kể thời gian vườn ươm): khơng đốn mà chỉ cắt tỉa tạo hình;



156



- Cuối năm II: đốn ở độ cao 25cm;

- Cuối năm III: đốn ở độ cao 30 – 35cm.

- Các năm sau, mỗi năm đốn cao hơn năm trước 5cm.

- Thời vụ đốn: đốn chậm hơn so với vườn sản xuất, thường đốn vào tháng 2, sau khi cắt

hom vào tháng 1.

Mỗi năm có thể thu cành giống 2 lần vào các tháng 1 và 7. Nên bấm ngọn ( 1 tôm + 1 - 2 lá )

trước khi cắt cành để tập trung dinh dưỡng cho cành giống, đồng thời kích thích các mầm

nách phát động.

- Ở vụ Đông Xuân, sau khi thu hom giống vào tháng 1, tiến hành đốn vào tháng 2. Sau đó, ở

đợt cành đầu tiên, hái tỉa 1 – 2 lần những búp to, cao ở giữa tán, để lại 1 – 2 lá chừa. Không

hái các búp ở mép tán.

- Vụ Hè Thu, tương tự vụ Đông Xuân, tức là sau khi cắt cành vào tháng 7, tiến hành đốn nhẹ

cho bằng tán, rồi cũng hái tỉa 1 – 2 đợt những búp to, cao ở giữa tán, búp ở mép tán không

hái.

16.1.2



Vườn chè lưu

Từ những vườn chè cành đang hái

búp, chọn vườn chè tốt (chọn các giống

đã được khuyến cáo: TB 14, LĐ97…) sinh

trưởng đồng đều, ít sâu bệnh, năng

suất cao; ngưng hái búp và tiến hành

chăm sóc theo hướng chè giống.



Trước khi thu hoạch cành giống, phải

tiến hành đốn chè và chăm sóc, quản

lý như với vườn giống chính quy.

Hình 4.11 Vườn giống chè lưu tại Trung tâm Nghiên cứu

và chuyển giao kỹ thuật Cây Cơng nghiệp và Cây ăn quả

Quy trình chăm sóc vườn chè giống

Lâm Đồng



lưu theo khuyến cáo của Công ty

Chè Lâm Đồng



- Phân bón: nên bón phân hữu cơ 2 năm/lần với lượng dùng 15 – 20 tấn/ha; phân vô cơ,

NPK, bón theo tỷ lệ 1:1,2:0,8 (ví dụ: 300kg N – 360kg P2O5 – 240kg K2O).



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

8 Một số kỹ thuật giống khác

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×