Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
3 Một số nguyên tắc cơ bản của công tác chọn lọc giống

3 Một số nguyên tắc cơ bản của công tác chọn lọc giống

Tải bản đầy đủ - 0trang

140



Kết quả của việc lai tạo các dòng khác nhau có thể cải thiện ưu thế lai thể hiện ở năng suất

cao hơn, nhưng không kháng được dịch hại và bệnh (Bezbaruah, 1974).

Vấn đề chính trong lai giống chè là việc tự thụ và giao phấn tự nhiên không giúp ích gì cho

quá trình lai tạo. Hạt và cây phát triển từ q trình tự thụ hầu hết là khơng có sức sống và do

đó ít có giá trị trong lai giống.

Sản xuất cây đơn bội in vitro từ hạt phấn đã gia tăng đáng kể khả năng sản xuất dòng nhị bội

thuần (Raina và Iyer, 1982), nhưng điều này sẽ cũng bao gồm việc sản xuất nhiều cây cho

tương hợp chéo (cross – compatibility), là điều không thể hiện nay. Do đó trong bước đầu

của chương trình lai tạo, người ta quan tâm đến lai giữa các dòng (Bezbaruah, 1974). Các

bước chính như sau:

- Chọn cặp bố mẹ trên cơ sở các khảo nghiệm bước đầu về tiềm năng năng suất và phẩm

chất của chúng.

- Nhân giống vơ tính cây bố mẹ. Trồng, lai tạo và thu hạt giống trong điều kiện tự nhiên.

- Sản lượng các cây F1 sau đó được đánh giá ở nhiều điều kiện sinh trưởng khác nhau.

Lợi ích, về năng suất và phẩm chất, có được từ cây lai F 1 đáng giá hơn những vấn đề phát

sinh trong việc tổ chức thụ phấn.

15.5



Phương pháp chọn giống chè



Giống chè mới có thể là kết quả của một trong ba quá trình sau:

- Chọn lọc, phục tráng từ những vườn chè hạt sẳn có trong sản xuất.

- Nhập nội giống mới từ những nước có ngành chè phát triển, từ các trung tâm nghiên cứu

về chè trên thế giới, rồi tiến hành khảo nghiệm chọn lọc.

- Lai tạo hay gây đột biến để tạo – chọn giống mới.

15.5.1



Trình tự chọn giống



Cơng tác chọn giống gồm bốn bước cơ bản sau:

- Thu thập giống trong và ngoài nước để xây dựng vườn giống tập đoàn.

- Giám định và chọn những cây tốt.



141



- So sánh giống (đối chứng là giống đang phổ biến trong sản xuất đại trà).

- Nhân giống.

Thời gian đầu tư để chọn lọc một giống chè mới khoảng 8 – 15 năm, có khi lên đến 20 năm,

tùy vào tính chất của vật liệu ban đầu (tuổi cây, số lượng, tình trạng sinh trưởng), phương

pháp nghiên cứu, phương pháp nhân giống, các điều kiện kinh tế xã hội, kỹ thuật khác.

15.5.2



Một số phương pháp chọn giống chè



15.5.2.1



Phương pháp lựa chọn hỗn hợp



Nội dung của phương pháp

- Dựa vào các đặc trưng hình thái và các đặc tính kinh tế biểu hiện ra bên ngồi, chọn những

cây tốt trong quần thể nguyên

Quần thể

nguyên

thủy.

thủy

Hạt hỗn

hợp chọn

năm thứ

1

Chọn

hạt

năm

thứ 2



Giám định

và so sánh

giống

(3 – 7 năm)



Giống Quần

thể

tiêu nguyên

chuẩn thủy



Cây

cắm

cành

tốt



Gieo hạt

năm thứ 2



Cây

con tốt



Hình 4.4 Phương pháp lựa chọn hỗ hợp



Quần Giông

thể

nguyên tiêu

chuẩn

thủy



- Thu hoạch hạt giống tốt ở

những cây đã chọn, đem hỗn

hợp các hạt giống này lại (hoặc

cắt cành những cây đã chọn

đem giâm cành).

- Đem gieo chung và giám định

so sánh giống (với quần thể ban

đầu và đối chứng).

Ưu điểm của phương pháp



- Giữ được đặc tính tốt của cây

giống; đơn giản, dễ thực hiện, khơng cần những trang thiết bị nghiên cứu phức tạp, hiện đại

 có thể áp dụng rộng rãi trong sản xuất.

- Thời gian khảo nghiệm ngắn, nhanh chóng nâng cao độ thuần của giống, nâng cao sức

sống của giống.

- Phương pháp đặc biệt có hiệu quả trên quần thể giống địa phương bị lẫn tạp nhiều, hoặc

mục tiêu chọn lọc là tăng cường khả năng thích ứng của cây đối với điều kiện môi trường

nhất định.



142



Nhược điểm của phương pháp

- Hiệu quả di truyền thấp vì chọn hỗn hợp rất khó phân biệt, tách riêng được tính di truyền

của các đời sau  khơng tích lũy và cũng cố được những biến dị tốt.

- Đối với quần thể đã qua lựa chọn rồi thì rất khó lựa chọn trở lại vì rất khó phân biệt các cá

thể.

15.5.2.2



Phương pháp lựa chọn tập đoàn



Phương pháp lựa chọn tập đoàn là phương pháp một trong những phương pháp chọn giống

nhanh và tốt.

Nội

Lựa chọn

cây con

bằng cành



Phân lập

từng

nhóm

năm thứ 1



dung

của

phương

pháp



Phương pháp lựa

chọn tập đồn nói

chung tương tự như

phương pháp lựa

Quần

Giám định Giống

chọn hỗn hợp; trong

thể

và so sánh tiêu

giống chuẩn nguyên

lựa chọn tập đoàn, từ

thủy

(3 – 7 năm)

Tiến hành chọn lọc hỗn hợp

quần thể nguyên

trong tập đoàn

thủy, chọn ra những

Hình 4.5 Phương pháp lựa chọn tập đồn

nhóm cá thể có đặc

tính khác nhau (tiêu biểu cho những nhóm tiêu chuẩn khác nhau), sau đó tiến hành lựa chọn

hỗn hợp trong những nhóm đã được phân lập. Bằng phương pháp này có thể lựa chọn được

những loại hình tốt nhất trong tập đoàn.

Gieo và

chọn cây

con năm

thứ 2



14.5.2.3



Lựa chọn cá thể



Lựa chọn cá thể là phương pháp được dùng phổ biến trong công tác chọn giống hiện nay.

Nội dung của phương pháp

Chọn những hạt hay những cành trên từng cá thể riêng biệt mang đặc tính tốt như mong

muốn rồi đem trồng thành từng dòng, sau đó quan sát, so sánh đặc điểm của từng cá thể.

Ưu điểm của phương pháp



143



- Giám định được cá thể  có thể tích lũy và cũng cố các biến dị tốt nên có khả năng tạo ra

được giống mới.

- Nếu các đặc tính được chọn lọc

chỉ có lợi cho mục đích sử dụng của

con người (khơng có lợi cho sinh

trưởng phát triển, duy trì nòi

giống… của cây trồng) thì chọn lọc

cá thể có hiệu quả tốt hơn so với

chọn lọc hỗn hợp.



Hình 4.6 Phương pháp lựa chọn cá thể



Giống

tiêu

chuẩn



Quần thể

nguyên

thủy



Nhược điểm

- Vì phải tiến hành chọn lọc từng

cây, theo từng dòng nên phương

pháp này phức tạp, tốn nhiều công.



- Dể đưa đến hiện tượng giao phối gần (vì chè là cây giao phấn)  ảnh hưởng đến sức sống

của giống.

Trong sản xuất, thường lựa chọn cá thể được kết hợp với phương pháp giâm cành.

15.6



Nhân giống chè bằng hạt



Hiện tại và trong tương lai, để đảm bảo độ đồng đều của vườn chè (ảnh hưởng đến năng

suất, phẩm chất), người trồng chè được khuyến cáo sử dụng cây con nhân giống vô tính:

bằng phương pháp giâm cành, ghép cây.

Tuy nhiên trước mắt, dù khơng được khuyến khích, song ở một số vùng ở nước ta, người

dân vẫn trồng chè bằng hạt chủ yếu vì khả năng đầu tư còn yếu và chưa đồng bộ. Ngồi ra,

chè con trồng bằng hạt còn là gốc ghép non để sản xuất cây chè ghép, phục vụ cho trồng

mới ở những vùng đất khô hạn, thiếu nước.

Tùy điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội, trình độ và kỹ thuật canh tác, có thể trồng mới chè

bằng hạt theo một trong hai phương thức: gieo hạt qua vườn ươm rồi đem cây con trồng ra

ngoài ruộng sản xuất hay có thể gieo hạt trực tiếp trên ruộng sản xuất.

15.6.1



Gieo hạt ở vườn ươm rồi đem cây con ra trồng ở ruộng sản xuất



144



Trong vườn ươm (thiết kế vườn ươm tương tự như trong giâm chè cành ), tùy điều kiện cụ thể,

người ta có thể gieo hạt trên luống ươm rồi sau đó bứng cây con ra trồng hoặc có thể gieo



Hình 4.7 Cây chè con nảy mầm từ hạt



hạt thẳng vào bầu đất (thường là bầu nylon). Tuy nhiên gieo hạt trong bầu đất sẽ có nhiều

thuận lợi hơn.

Một số ưu điểm của phương pháp

- Tiết kiệm hạt giống.

- Tiện lợi cho chăm sóc và quản lý tốt cây con. Cây con xuất vườn tốt, khỏe, đều.

- Có thể lưu cây con lại vườn ươm để đợi chuẩn bị đất hoặc dự trữ cho trồng dặm.

- Cung cấp cây giống để giặm vào khoảng khuyết cây ở vườn chè trồng mới hoặc phục hồi

lại những vườn chè già.



145



Một số nhược điểm của phương pháp

- Tốn cơng làm vườn ươm, chăm sóc vườn ươm tỉ mỹ, đòi hỏi người dân phải có vốn và

trình độ kỹ thuật nhất định.

- Phải tốn nhiều công vận chuyển cây con ra trồng trên ruộng sản xuất.

- Nếu gieo hạt trên luống rồi bứng đi trồng thì tỷ lệ chết cao hơn do bể bầu, đứt rễ.

- Giá thành cây con cao  chi phí đầu tư trồng mới lớn.

- Trong thời gian đầu trồng mới ra ruộng sản xuất, đòi hỏi phải chăm sóc kỹ (tưới nước, giữ

ẩm, che nắng, trừ cỏ, phòng trừ sâu bệnh…) thì tỷ lệ sống của cây chè con mới cao, ít mất

khoảng.

15.6.2



Gieo thẳng hạt giống ra ruộng sản xuất



Hạt chè được gieo trực tiếp ra ruộng sản xuất theo hàng hoặc theo hốc đã chuẩn bị sẳn ( xem

thêm ở phần trồng mới).

Một số ưu điểm của phương pháp

- Kỹ thuật đơn giản, dễ thực hiện, ít tốn cơng quản lý, chăm sóc cây con,

- Giá thành cây giống thấp  chi phí đầu tư ban đầu cho trồng mới thấp.

Nhược điểm của phương pháp

Gieo hạt trực tiếp ra vườn sản xuất tốn nhiều hạt giống, nếu khơng chăm sóc tốt thì tỷ lệ mất

khoảng lớn (do cây con không được bảo vệ, mà phát triển trực tiếp trong điều kiện tự nhiên

của vườn).

Hiện nay, trong kỹ thuật trồng mới chè bằng hạt, phần lớn đều áp dụng phương thức gieo

thẳng hạt ra ruộng sản xuất.

15.6.3



Chọn vườn cung cấp hạt giống



Hạt chè giống có thể được thu từ các vườn chè sau:

Vườn chè sản xuất

Người ta có thể thu hạt giống từ các vườn chè sản xuất búp. Tuy nhiên số lượng hạt giống

thu được ít, chất lượng khơng cao. Hệ số nhân giống của vườn chè sản xuất chỉ đạt 2 – 4.



146



Để tăng sản lượng và chất lượng quả giống trên vườn chè đang sản xuất búp, cần tăng

cường các biện pháp kỹ thuật chăm sóc và dinh dưỡng theo chiều hướng thúc đẩy q trình

sinh trưởng sinh thực, tích lũy dinh dưỡng cho hoa và quả chè: nuôi nhiều cành lá ( để số lá

chừa nhiều hơn), bón thêm cân đối lân và kali, giảm bón phân đạm và giảm số lần thu hái cuối

năm.

Vườn chè lưu

Từ vườn chè đang kinh doanh, chọn những vườn chè tốt, hoặc những cây chè tốt, ngưng

không hái búp, để lưu lại thành những cây chè giống. Khi khơng còn nhu cầu thu hạt giống

thì có thể đốn lại để thu hái búp như những vườn chè kinh doanh bình thường. Năng suất và

chất lượng hạt giống thu được từ những vườn giống này tốt hơn từ vườn sản xuất. Hệ số

nhân giống của vườn chè lưu là 4 – 6.

Ưu điểm của kiểu vườn giống này là nhanh chóng xây dựng được vườn chè giống, hệ số

nhân giống khá và sau khi hết nhiệm vụ làm giống, có thể nhanh chóng chuyển lại thành

vườn chè sản xuất kinh doanh bình thường.

Nhược điểm của phương pháp: giống chè còn nhiều lẫn tạp nên chất lượng hạt giống không

cao lắm.

Vườn chè chuyên để thu hạt giống

Ở nước ta chủ trương trồng chè chuyên để thu hạt giống đã có từ thời Pháp (Du Pasquier),

nhưng đến nay chỉ vài nơi có vườn chè chuyên cung cấp trái giống, song cũng chưa phải là

những vườn chè giống được chọn lọc đúng quy trình.

15.6.4



Kỹ thuật chăm sóc vườn chè chuyên thu hạt giống



Do mục đích chính của các vườn chè này là cung cấp hạt giống với năng suất và chất lượng

tốt, nên các biện pháp kỹ thuật canh tác đều phải lưu ý đến đặc điểm này. Một số đặc điểm

chính trong kỹ thuật chăm sóc vườn chè chuyên thu hạt như sau:

- Vườn chè chuyên thu hạt giống phải được bố trí cách vườn chè sản xuất búp ít nhất 1 km,

có thể có 10 – 15% số cây chuyên thụ phấn.

- Nên trồng thưa. Khoảng cách trồng có thể là 2,0 x 1,5 m hoặc 2,5 x 3,0 m tuỳ từng điều

kiện, đặc điểm sinh trưởng của cây.



147



- Khi cây còn non (dưới 5 tuổi), nên tỉa bỏ hết nụ để tạo điều kiện cho cây sinh trưởng dinh

dưỡng tốt.

- Đốn lần 1 khi cây khoảng 2 tuổi, đốn cách mặt đất 30cm. Đốn lần 2 cách lần đốn đầu tiên

khoảng 2 – 3 năm; Trong lần đốn thứ 2, chủ yếu là tỉa bỏ những cành yếu, nhỏ, những cành

nằm sát mặt đất.

- Quả chè thường tập trung ở giữa cây trở xuống và ở ngoài tán, chủ yếu là trên cành ngắn

(85%). Chè không đốn cho trái nhiều hơn gấp 3 lần đốn, nhưng chất lượng kém. Mặt khác,

trái cao, khó thu hoạch.

- Phân bón: tăng cường bón phân kali và lân, bón làm 2 đợt trong một năm, vào tháng 3 – 4

(khi đốn tỉa cành) và vào tháng 6 – 7 (khi hình thành chồi nụ), lưu ý khơng bón đạm sau

tháng 8.

- Phòng trừ sâu bệnh hại, cỏ dại, trong đó cần lưu ý các loại sâu hại quả, bọ xít…

- Có thể ni ong hoặc tiến hành thụ phấn nhân tạo bổ sung để tăng tỷ lệ thụ phấn và đậu

quả. Thời gian thụ phấn tốt nhất là khi hoa nở rộ (tháng 11).

- Thụ phấn nhân tạo nên tiến hành khi trời quang. Lấy phấn hoa từ 1 – 2 ngày trước ở những

cây giống tốt (có thể là những cây trồng chuyên để lấy phấn): buổi sáng hái những hoa sắp

nở đưa về phòng, chờ khi hoa nở thì rủ hoa lấy phấn, bảo quản hạt phấn ở nhiệt độ khoảng 5

– 8oC, ẩm độ khơng khí thấp (trong điều kiện này, hạt giống có thể được bảo quản trong 7 – 15 ngày );

lưu ý tránh ánh sáng trực xạ.

Về cơ bản, các biện pháp kỹ thuật chăm sóc ( phân bón, bảo vệ thực vật, thụ phấn bổ sung ) cho

vườn chè lưu tương tự như ở vườn chuyên thu hạt giống.

15.6.5



Thu hoạch quả chè giống



Do hạt chè chín sinh lý trước chín hình thái, lại dễ mất sức nảy mầm (2), nên việc xác

định tiêu chuẩn quả chín có ý nghĩa lớn trong việc xác định thời điểm thu hoạch nhằm nâng

cao năng suất, chất lượng và tỷ lệ nảy mầm của hạt giống.

Những biểu hiện của quả – hạt chè chín

- Vỏ quả chuyển từ màu xanh sang nâu xám, vỏ mỏng và khơ.

- Vỏ sành của hạt có màu nâu đen sẩm.

2



Xem chương II.



148



- Tử diệp cứng, dày dặn, màu vàng nhạt.

Tiến hành thu hoạch quả khi trên cây có 4 – 5% số quả bắt đầu nứt. Lưu ý không thu hái

một lần mà phải thu hoạch nhiều đợt (2 – 3 đợt). Chỉ thu hoạch quả chín trên những cây chè

trên 5 tuổi, sinh trưởng khỏe, năng suất cao, phẩm chất tốt và ít sâu bệnh.

- Nếu hạt non chưa chín  hạt dể bị long óc, dể thối, sức nảy mầm kém, cây con mọc từ

những hạt non này cũng rất yếu.

- Nếu hái muộn, quả chè nứt, hạt rơi xuống đất ( làm giảm năng suất). Trong điều kiện nắng

mưa, ẩm ướt, hạt chè dể mọc mầm, hoặc khô, thối (mất sức nảy mầm).

Quả chè sau khi được thu hái về được trải thành lớp dày 10 – 15 cm ở chổ râm mát, thống

gió. Khơng để quả chè phơi trực tiếp dưới nắng mưa. Mỗi ngày đảo đều 2 – 3 lần. Sau 2 – 3

ngày vỏ quả nứt ra, và người ta sẽ tiến hành thu hạt giống, nếu quả vẫn chưa nứt ra thì người

ta phải dùng dao bóc vỏ quả và thu hạt, sau đó đãi nước, bỏ hạt nổi.

Hạt sau khi được thu hoạch, đem gieo ngay là tốt nhất.

Thời vụ thu hoạch

Ở miền Bắc, thường quả giống được thu hoạch trong khoảng thời gian từ 15/9 – 15/10. Ở

miền Nam, do mầm hoa có thể được phân hóa quanh năm, nên trên lý thuyết, có thể thu

hoạch hạt giống quanh năm. Tuy nhiên thường người ta thu hoạch trên cơ sở thời vụ trồng

mới.

15.6.6



Bảo quản hạt giống



Hạt chè mới thu hoạch có chứa khoảng 50% nước, nếu hàm lượng nước trong hạt chè giảm

còn < 30% thì hạt nảy mầm kém. Lưu ý không để hạt trong những điều kiện mưa nắng trực

tiếp vì dễ làm hư hạt giống.

Nếu thời gian bảo quản hạt giống trong vòng 15 ngày thì bảo quản nổi, còn nếu muốn bảo

quản trong thời gian dài hơn, khoảng 1 – 2 tháng, thì nên bảo quản chìm(3).

15.6.7



3



Chuẩn bị hạt giống



Nguyên tắc bảo quản chìm: trên lớp cát khô 3 – 5cm ở đáy một hố được đào sẳn, người ta trải lớp hạt khoảng 10cm,

rối lấp cát lên trên. Tùy số lượng hạt giống cần bảo quản, có thể lặp lại như trên nhiều lần, lớp hạt xen giữa 2 lớp cát.

Chú ý thường xuyên kiểm tra nhiệt độ khối hạt.



149



Hạt giống phải tốt: không vỡ nát, lẫn tạp cơ giới, không bị nhiễm sâu bệnh, khả năng nảy

mầm > 75%, hàm lượng nước trong hạt là 30 – 38%, đường kính hạt ≥ 12mm, số hạt/kg là

120 hạt, trọng lượng 100 hạt P100 hạt = 800 – 843g. Hạt thuần chủng, không lẫn tạp.

Nếu giống tốt, lượng hạt giống cần cho 1ha trồng mới là 250 kg.

15.6.8



Xử lý hạt giống



Để rút ngắn thời gian nảy mầm, đồng thời giúp hạt giống nảy mầm đồng đều, cây con khỏe

mạnh, người ta tiến hành xử lý hạt giống trước khi gieo. Có nhiều cách xử lý hạt giống.

Phương pháp thường được sử dụng:

- Ngâm hạt giống trong nước 12 – 24 giờ.

- Trải hạt thành lớp 7 – 10cm, rồi phủ lớp cát dày 5cm.

- Giữ ẩm thường xuyên cho khối hạt, có thể tưới 1 lần/ngày. Nhiệt độ thích hợp là 20 –

25oC.

- Khi có khoảng 50% hạt nứt nanh thì đem gieo. Lưu ý cách đặt hạt, không làm cong rể đuôi

chuột (rể trụ, rể cọc).

15.7

15.7.1



Nhân giống chè bằng cành

Ưu điểm của phương thức nhân giống chè cành



- Có hệ số nhân giống rất cao, có thể cung cấp đồng thời một số lượng giống lớn, tránh được

khó khăn do thiếu giống khi trồng mới.

Bảng 4.4 Hệ số nhân giống chè bằng phương pháp giâm cành (Nguyễn Văn Niệm, 1978)

Tuổi vườn



Số hom/bụi



Số hom (ngàn)/ha



Trồng được (ha)



1 tuổi



20



200



5



2 tuổi



100



1.000



20 – 25



3 tuổi



200



2.000



40 – 50



4 tuổi



300



3.000



60 - 75



(không kể thời gian vườn ươm)



Số liệu từ Viện nghiên cứu chè Phú Hộ cho thấy từ 1 ha vườn giống 4 tuổi có thể cung cấp

được khoảng 3 triệu hom, đủ cây giống cho trồng mới 50 ha (nếu trồng 2 cây/hố), hoặc 80



150



ha (1 cây/hố). Trong khi đó, trong điều kiện tương tự, chỉ có thể thu được khoảng 2.000kg

hạt giống/ha vườn giống 4 tuổi, chỉ đủ cung cấp cho 4ha trồng mới.

Theo Denis Bonheure, với khoảng cách 1,2 x 0,6 m (mật độ 14.000 cây.ha -1), giả định tỷ lệ

xuất vườn là 80% và thất thoát 25% khi trồng mới, lượng hom giống phải chuẩn bị cho

vườn ươm là 22.000 hom.

- Tạo được vườn chè đồng đều với những đặc tính tốt của cây mẹ, do đó rất thuận lợi cho

Hình 4.8 Cây con chè cành



việc đầu tư thâm canh, cơ giới hóa, cho năng suất cao. Mặt khác nguyên liệu đồng đều sẽ

giúp chế biến được những loại chè chất lượng tốt, ổn định.

- Rút ngắn được thời gian giai đoạn kiến thiết cơ bản.

- Kết quả nghiên cứu của Trường Đại học Nông nghiệp I cho thấy năng suất chè cành

thường cao hơn chè hạt từ 33 – 45% tùy giống.

15.7.2



Nhược điểm của phương pháp nhân giống chè bằng cành



- Phải qua giai đoạn vườn ươm.

- Đòi hỏi phải có kỹ thuật: các khâu giâm cành; chăm sóc, quản lý vườn ươm tỉ mỉ, tốn

nhiều cơng lao động.

- Khối lượng vận chuyển cây con cho trồng mới lớn.

- Giá thành cây con cao, làm tăng đáng kể chi phí đầu tư trồng mới.

- Trong thời gian kiến thiết cơ bản, khả năng chịu hạn của cây con kém.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

3 Một số nguyên tắc cơ bản của công tác chọn lọc giống

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×