Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
1 Đặc điểm của công tác chọn lọc giống chè

1 Đặc điểm của công tác chọn lọc giống chè

Tải bản đầy đủ - 0trang

134



Các kết luận cho rằng các giống chè lá nhỏ cho năng suất thấp hơn chè lá lớn được xem là

chủ quan, bởi vì ngồi kích thước lá, năng suất chè còn bị ảnh hưởng bởi các đặc điểm khác

như cách sắp xếp lá trên cây. Tất nhiên cũng không thể kết luận rằng chỉ có góc lá quyết

định năng suất của cây chè.

Bảng 4.2 Trọng lượng khơ trung bình (kg) của búp được thu hoạch trong 5 năm biến động

theo góc lá (Banerjee, 1991)

Trung bình

góc lá



Trung bình trọng lượng khơ

búp thu hoạch trên mỗi cây



Trung bình

góc lá



Trung bình trọng lượng khô

búp thu hoạch trên mỗi cây



(o)



(± SE)



(o)



(± SE)



40



6,41 ± 2,13



68



8,23 ± 3,01



47



6,32 ± 3,12



70



8,60 ± 2,93



50



8,45 ± 2,12



78



6,89 ± 2,85



56



8,43 ± 3,54



80



7,20 ± 2,65



58



8,42 ± 2,75



85



6,75 ± 2,73



63



8,70 ± 2,31



- Kích thước tán lớn, mật độ búp/tán cao, trọng lượng búp lớn ( lưu ý cần đánh giá tương quan

giữa diện tích tán, mật độ búp trên tán và kích thước – trọng lượng búp tươi, khơ ). Diện tích tán và mật

độ búp trên tán được xem lá những chỉ tiêu cơ bản cho các giống chè có tiềm năng năng

suất cao mặc dù người ta vẫn chưa có cơ sở để kết luận rằng năng suất chè chỉ lượng quan

đến số lượng búp thu hoạch được.

* Khảo sát mật độ búp bằng khung vuông cạnh 25 x 25cm, mật độ búp đạt yêu cầu là:

+ Giữa tán: 14,5 búp/ô.

+ Mép tán: 5,0 búp/ô.

- Tỷ lệ búp mù cũng là một chỉ tiêu quan trọng. Bên cạnh mật độ búp trên tán, cần phân biệt

giữa búp mù và búp bình thường ( trong đó cần lưu ý xác định quy cách búp mù, tỷ lệ búp mù ).

Không thể có giống tốt nếu giống chè có mật độ búp trên tán cao, nhưng đồng thời tỷ lệ búp

mù cũng q cao.

- Khả năng tích lũy chất khơ: theo Magambo và Cannell (1981), Banerjee (1991), sản lượng

chè cơ bản phụ thuộc vào sự tổng hợp và tích lũy chất khô của cây. Rất tiếc chỉ tiêu này

chưa được quan tâm đúng mức trong q trình chọn giống. Có rất nhiều quan điểm khác

nhau khi đáng giá sản lượng cây chè trên quan điểm khả năng tổng hợp chất khô: Visser



135



(1969) cho rằng tổng số lá quyết định trực tiếp đến năng suất (hơn là diện tích tán), song

nhiều tác giả khác tin rằng chỉ số diện tích lá (LAI) là chỉ tiêu tốt hơn trong chọn giống.

Trong khi lá lớn được xem là yếu tố mong đợi cho việc hình thành búp nặng (Barua, 1963a), nhưng xét về

khả năng sản suất chất khơ, các lá có kích thước trung bình, hơi thẳng đứng có tiềm năng cho năng suất tốt

hơn (Banerjee, 1991).



- Thời gian sinh trưởng trong năm (chu kỳ phát dục hàng năm) kéo dài.

Bảng 4.3 Một số chỉ tiêu cần theo dõi khi chọn lọc cây chè mẹ cho năng suất trong nhân

giống chè

Đặc điểm



Chỉ tiêu theo dõi



. Đặc điểm của búp



. Tỷ lệ búp mù. Quy cách hái



. Kích thước lá



. Lá nhỏ (năng suất thấp?); lá lớn (năng suất cao hơn?)



. Sinh trưởng



. Khối lượng hái, đốn. Khả năng phục hồi sau đốn



. Diện tích tán



. Mật độ búp đủ tiêu chuẩn hái/tán



. Diện tích lá



. Mật độ lá



15.2.2



Chỉ tiêu sản lượng



- Giống mới phải có năng suất cao và ổn định, khơng bị hiện tượng sản lượng cách lứa. Chè

là cây dài ngày do đó năng suất của giống mới thường phải cao hơn giống đối chứng > 30%

thì mới đạt yêu cầu.

- Năng suất chè không chỉ biến động theo vùng sản xuất, mùa vụ mà còn thay đổi rất nhiều

theo kiểu gene, độ cao, điều kiện khí hậu thời tiết, đất đai (Carr, 1972), do đó trong cơng tác

chọn lọc giống hiện nay, mối tương tác giữa kiểu gene và môi trường đã được quan tâm

đúng mức hơn. Một cây trồng được chọn lọc trong một môi trường nhất định chỉ dựa trên

năng suất không thôi thường thất bại khi chuyển sang các vùng khác. Nói cách khác, điều

cần thiết khơng phải chỉ là chọn những cây có tiềm năng cho năng suất và phẩm chất tốt mà

cũng lưu ý đảm bảo rằng cây được chọn có khả năng thích nghi cao với các điều kiện môi

trường khác nhau. Về nguyên tắc, sự thể hiện của kiểu gene trong các môi trường cần được

đánh giá tại ít nhất ba vùng khác nhau trước khi giống được phóng thích.

- Cũng cần lưu ý theo dõi sự tương quan giữa năng suất với diện tích mặt tán.



136



* Ở Trung Quốc, giống chè tốt giúp tăng sản lượng 127% so với đối chứng. Ở Liên Xô (cũ),

năng suất giống chè Gruzia 1 cao hơn giống địa phương là 27,3%, còn năng suất của giống

chè Gruzia 2 cao hơn giống địa phương 47,7%.

15.2.3



Chỉ tiêu về phẩm chất



Về nguyên tắc phẩm chất của giống mới phải tốt hơn giống cũ. Hàm lượng tanin trong búp

chè giống mới phải cao hơn đối chứng 1 – 3%, tương tự hàm lượng chất hòa tan của giống

mới phải cao hơn của giống cũ 2 – 3%

Có thể nói chất lượng là phần chủ yếu trong công tác giống chè, thế nhưng các chọn lọc

giống chỉ theo chất lượng đã không thành công. Wight và Barua (1954) xác định sự tương

qua giữa hình thái và chất lượng chè: búp chè có lơng tơ có chất lượng tốt hơn chè khơng có

lơng tơ bất chấp màu sắc lá. Về lông tơ trên lá non Wight và Barua (1954) xác định thứ tự

tăng dần theo chất lượng như sau:

- Lá trơn với một ít lơng ở gân giữa lá.

- Phiến lá có lơng tơ thưa ở gần gân

giữa lá.

- Lông tơ phân bố đến khoảng ½ khoảng

cách từ gân chính đến mép lá.

- Lơng tơ phủ tồn bộ mặt dưới lá.

- Lơng tơ tạo ở mặt dưới lá một lớp mịn

dày.

Các nghiên cứu ghi nhận tương quan

chặt giữa chất lượng chè, nhất là chè

Hình 4.2 Tương quan giữa mật độ lông

tơ và chất lượng trà (theo Wight truyền thống với thứ tự sắp xếp của lơng

và Gilchrist, 1959)

tơ trên búp chè. Visser (1969) tin rằng

sự kết hợp giữa sắc tố do anthocyanin và lông tơ trên búp ảnh hưởng đến chất lượng chè ở

Sri Lanka.

Ngồi ra, tuy còn nhiều tranh luận, một số tác giả cho rằng màu sắc của lá cũng ảnh hưởng

đến chất lượng búp: màu xanh quá đậm hay nhạt đều là biểu hiện của chất lượng xấu. Chất

lượng, trên cơ sở màu sắc nước, độ mạnh và hài hòa của hương vị, được xem là tốt nhất khi

lá chè có màu xanh ‘tối thích’ (Wight và ctv., 1963).



137

Tuy nhiên, thực tế cơ chế sinh tổng hợp các hợp chất dễ bay hơi có liên quan đến phẩm chất



chè khơng phải ln liên hệ đến các đặc điểm hình thái lá (Wickremasinghe, 1978; Takeo,

1984).

Tần suất xuất hiện tinh thể oxalate

calci trong các tế bào nhu mô của

cuống lá, chỉ số libe (phloem

index)(1) của Wight (1958), cũng là

một chỉ tiêu có giá trị để đánh giá

chất lượng chè nguyên liệu. Chè có

chỉ số libe thấp thường có chất

lượng thấp và ngược lại. Sự tương

tác giữa lông tơ và chỉ số libe cho

thấy vai trò tổng hợp của hai chỉ

tiêu này có ý nghĩa hơn đối với

chất lượng chè nguyên liệu.

Chỉ số libe biến động khá lớn do

cách lấy mẫu cũng như tác động

của các yếu tố môi trường, và quan

trọng hơn, biểu hiện kiểu hình

(phenotypic) của nó khơng cho

phép chọn lọc phẩm chất bằng mắt,

do đó tầm quan trọng của nó như là

một chỉ tiêu chọn lọc hơi bị hạn

chế (Visser, 1969).

Thường chè Shan có phẩm chất tốt

hơn các thứ chè khác.

15.2.4

tranh



Chỉ tiêu về tính cạnh



Sự cạnh tranh khơng thường được

quan tâm trong chọn lọc giống chè

Năm mức độ lông tơ ở mặt dưới lá thứ nhất được thể

có thể vì người ta đã quá nhấn

hiện bằng số từ 1 đến 5 (theo Wight và Gilchrist, 1959)

mạnh đến sinh trưởng. Bên cạnh

Hình 4.3 Tương quan giữa chỉ số libe và chất lượng.



1



Phloem index: the frequency of calcium oxalate crystals in parenchymatous cells of the tea leaf petiole.



138



đó, ở cây chè sự cạnh tranh khơng xuất hiện q rõ ràng vì các biện pháp hái, đốn và rút

ngắn khoảng cách trồng rõ ràng không thúc đẩy sự cạnh tranh (Rahman và ctv., 1981).

Nhưng theo Cannell và ctv. (1977), sự cạnh tranh có thể được quan sát được trong suốt quá

trình tạo khung tán, và một số giống có tốc độ sinh trưởng cao có thể cạnh tranh với những

giống khác.

Mặc dù quá trình cạnh tranh diễn ra liên tục ở rễ, song về mặt kiểu hình nó khơng quan sát

được, do đó Cannell và ctv. (1977) xem tốc độ phát triển tương đối của phần trên mặt đất

như là một chỉ tiêu để đánh giá khả năng cạnh tranh của cây chè. Điều này vẫn còn gây

tranh cải vì sự sinh trưởng của bộ phận trên mặt đất còn phụ thuộc vào tình trạng ngủ nghỉ,

ngừng sinh trưởng (Barua và Wight, 1959) và những yếu tố môi trường khác (Carr, 1972).

Tuy nhiên, để chọn lọc những giống có khả năng cạnh tranh tốt hơn, cần ghi nhớ những vấn

đề sau:

- Tương quan giữa năng suất của các cây riêng rẽ với diện tích tán.

- Có phải những cây mọc xung quanh cây lớn có xu hường nhỏ hơn hay khơng và ngược lại.

- So sánh năng suất búp trên mỗi đơn vị diện tích tán và năng suất mỗi tán với tổng số hay

trung bình của những cây kế cận. Tất nhiên diện tích của mỗi tán cần được ghi nhận.

15.2.5



Chỉ tiêu về tính chống chịu



Giống là biện pháp cơ bản nhất và kinh tế nhất để giải quyết các vấn đề về tính chống chịu.

Giống mới phải có khả năng thích ứng cao với điều kiện ngoại cảnh, chịu hạn, chịu rét tốt,

chống chịu cao với sâu bệnh hại.

Thực tế, có rất ít tiến bộ trong việc tạo giống chè kháng sâu, bệnh, nhện hoặc tuyến trùng.

Tính chống chịu hay nhiễm bệnh trên lá của các giống chè biến động rất lớn tùy theo thế lá

(Banerjee, 1987).

Tương tự, tạo giống chuyên chống chịu hạn chưa được tập trung, nhưng người ta thấy rằng

sự khác nhau về khả năng ăn sâu của rễ là một yếu tố quan trọng để cây chịu hạn.

Ở những vùng khí hậu lạnh như vùng chè Nhật Bản, cây chè có giai đoạn ngủ đơng, thời

gian thu hoạch trong vụ Xuân được xem là một chỉ tiêu quan trọng để theo dõi ( hái búp sớm

có nghĩa là cây sinh trưởng mạnh hơn ) (Toyao, 1965). Hái búp sơm còn là một đặc tính quan

trọng thể hiện chất lượng tốt, nhất là chỉ số hương liệu (Hazarika và ctv., 1984). Thế nhưng



139



ở những vùng rét nặng, thu hoạch muộn lại được chọn, mặt dù có thể năng suất và phẩm

chất không được cao.

* Khả năng chịu lạnh của một số dòng chè Gruzia:

Chịu được nhiệt độ mùa đông

Gruzia 1, 2, 3, 4, 5, 15, 16



< - 8o C



Gruzia 6, 10, 11



- 15oC



Gruzia 7, 8, 12

15.3



- 20oC  - 25oC



Một số nguyên tắc cơ bản của công tác chọn lọc giống



- Phải xác định mục tiêu, phương hướng chọn giống rõ ràng, chính xác.

- Chọn vật liệu khởi đầu thích hợp.

- Chọn lọc phải dựa trên những tính trạng trực tiếp và tính trạng tổng hợp.

- Vật liệu chọn giống cần được trồng trong điều kiện thích hợp và đồng đều.

- Vườn chọn giống cần được đầu tư chăm sóc tốt, kỹ thuật canh tác hiện đại để tăng cường

bồi dưỡng giống.

- Muốn có giống thích hợp cho mơi trường nào thì cần tiến hành chọn lọc trong mơi trường

ấy.

- Cần kết hợp chọn lọc ngồi đồng và trong phòng. Aùp dụng những tiến bộ khoa học kỹ

thuật hiện đại để có thể khảo sát và nhân nhanh nhất những giống thích hợp, nhằm rút giảm

tối đa thời gian chọn tạo giống.

Hiện nay theo khuyến cáo của Viện nghiên cứu Chè Phú Hộ, dòng chè cành PH 1 có năng

suất, phẩm chất tốt nhất, thích hợp làm ngun liệu chế biến chè đen, tuy nhiên không được

người trồng chè Lâm Đồng chấp nhận. Tại Lâm Đồng, các dòng chè cành TB 14 và LĐ97

đang rất được người trồng chè ưa chuộng.

15.4



Sự lai giống chè



Cây chè là cây giao phấn, nên vườn chè trồng từ hạt thường rất đa dạng về kiểu gene. Tuy

nhiên cây chè lai tự do khơng phải là cây có năng suất, phẩm chất tốt. Do đó cần tiến hành

lai giống nhằm tái tổ hợp các gene tốt lại với nhau.



140



Kết quả của việc lai tạo các dòng khác nhau có thể cải thiện ưu thế lai thể hiện ở năng suất

cao hơn, nhưng không kháng được dịch hại và bệnh (Bezbaruah, 1974).

Vấn đề chính trong lai giống chè là việc tự thụ và giao phấn tự nhiên khơng giúp ích gì cho

q trình lai tạo. Hạt và cây phát triển từ quá trình tự thụ hầu hết là khơng có sức sống và do

đó ít có giá trị trong lai giống.

Sản xuất cây đơn bội in vitro từ hạt phấn đã gia tăng đáng kể khả năng sản xuất dòng nhị bội

thuần (Raina và Iyer, 1982), nhưng điều này sẽ cũng bao gồm việc sản xuất nhiều cây cho

tương hợp chéo (cross – compatibility), là điều khơng thể hiện nay. Do đó trong bước đầu

của chương trình lai tạo, người ta quan tâm đến lai giữa các dòng (Bezbaruah, 1974). Các

bước chính như sau:

- Chọn cặp bố mẹ trên cơ sở các khảo nghiệm bước đầu về tiềm năng năng suất và phẩm

chất của chúng.

- Nhân giống vơ tính cây bố mẹ. Trồng, lai tạo và thu hạt giống trong điều kiện tự nhiên.

- Sản lượng các cây F1 sau đó được đánh giá ở nhiều điều kiện sinh trưởng khác nhau.

Lợi ích, về năng suất và phẩm chất, có được từ cây lai F 1 đáng giá hơn những vấn đề phát

sinh trong việc tổ chức thụ phấn.

15.5



Phương pháp chọn giống chè



Giống chè mới có thể là kết quả của một trong ba quá trình sau:

- Chọn lọc, phục tráng từ những vườn chè hạt sẳn có trong sản xuất.

- Nhập nội giống mới từ những nước có ngành chè phát triển, từ các trung tâm nghiên cứu

về chè trên thế giới, rồi tiến hành khảo nghiệm chọn lọc.

- Lai tạo hay gây đột biến để tạo – chọn giống mới.

15.5.1



Trình tự chọn giống



Công tác chọn giống gồm bốn bước cơ bản sau:

- Thu thập giống trong và ngoài nước để xây dựng vườn giống tập đoàn.

- Giám định và chọn những cây tốt.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

1 Đặc điểm của công tác chọn lọc giống chè

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×