Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Một số điểm cần lưu ý khi áp dụng biện pháp đốn chè

Một số điểm cần lưu ý khi áp dụng biện pháp đốn chè

Tải bản đầy đủ - 0trang

203



- Vết đốn có độ nghiên và khơng bị giập nát. Trường hợp thiết diện vết đốn lớn, có thể quét

lên đó dung dịch Bordeaux 1%.

19.3.5



Cách đốn và dụng cụ đốn



- Đốn tạo tán có mặt bằng nghiêng theo sườn dốc, không làm dập cành, sây sát vỏ.

- Đốn đau, đốn lửng, đốn tạo hình lần đầu thì dùng dao. Đốn phớt, đốn tạo hình lần 2 thì

dùng kéo hoặc dao. Đốn trẻ lại, sửa cành lớn chè giống thì dùng cưa.

- Đối với các giống chè có phân cành nhiều, mật độ cành lớn, sinh trưởng đỉnh đều thì có

thể áp dụng máy đốn để nâng cao năng suất lao động.

19.4



Phòng trừ sâu bệnh



Ngày nay, thách thức lớn nhất của người trồng chè là sản xuất chè không tồn dư thuốc bảo

vệ thực vật. Trên quan điểm bảo vệ thực vật, đòi hỏi chè khơng tồn dư thuốc bảo vệ thực vật

mâu thuẫn với yêu cầu chất lượng cao của người tiêu dùng và với yêu cầu năng suất cao,

đầu tư lao động thấp của người sản xuất. Bởi vì hiện tại năng suất cao chủ yếu đạt được

bằng cách loại bỏ cây che bóng và giảm những thiệt hại do sâu bệnh bằng cách sử dụng

thuốc bảo vệ thực vật.

Việc khơng áp dụng cây che bóng làm thay đổi môi trường nông nghiệp: gia tăng cỏ dại,

đầu tư phân bón cao hơn và gia tăng mức độ nhiễm một số sâu bệnh hại (bệnh sùi cành do

ánh sáng trực tiếp…). Tuy nhiên, che bóng cũng có thể tác động có hại cho năng suất vì

chọn loại cây che bóng khơng phù hợp hoặc mức độ che bóng q cao trong mùa mưa, dễ

nhiễm bệnh phồng lá (Exobasidium vexans) và một số sâu hại khác (bọ xít muỗi hại chè).

Thiệt hại về kinh tế do bệnh được đánh giá là nặng hơn do sâu và bệnh phồng lá được xem

là bệnh chính hại búp. Hàng năm thiệt hại sản lượng do sâu bệnh lên đến 18 – 20%. Aùp lực

sâu bệnh trên chè cũng còn phụ thuộc vào chiến lược kiểm sốt dịch hại và điều kiện mơi

trường. Giảm sử dụng thuốc bảo vệ thực vật có thể thực hiện được khi cùng lúc giảm áp lực

sâu bệnh hại bằng cách canh tác ở những mội trường ít nhiễm sâu bệnh hại (độ cao, che

bóng), sử dụng những giống chống chịu tốt với sâu bệnh, sử dụng thuốc bảo vệ thực vật ít

có tác động đến hệ thiên địch và áp dụng thuốc theo ngưỡng gây hại kinh tế.

Nguyên tắc cơ bản phòng trừ sâu bệnh hại chè là tiến hành phòng trừ tổng hợp, kết hợp

nhiều biện pháp, đặc biệt là hái búp, phải thu hái đúng tiêu chuẩn, đúng lứa.



204



19.4.1



Một số sâu hại chính



Bảng 4.18 Một số sâu hại chính

Tên chung

. Bọ xít muỗi

(mosquito bug)

. Bọ xít muỗi

(mosquito bug, tea

bug)

. Bọ xít muỗi chè

(tea mosquito bug,

cocoa mirid)

. Nhện đỏ (scarlet

mite, red-và

-black-flat mite,

red-crevice mite)



Tên khoa học, thứ, họ và phân bố địa lý

. Helopeltis schoutedeni Reut., Đông Phi;

H. orophila Ghesq., Tây Phi.

(Heteroptera, Miridae).

. H. antonii Signoret (Heteroptera,

Miridae). Sri Lanka, Ấn Độ, Indonesia,

Vietnam. Xuất hiện ở độ cao 200 –

1400m.

. Helopeltis theivora Waterhouse

(Heteroptera, Miridae). Sri Lanka, Ấn

Độ, Bangladesh, Indonesia. Xuất hiện ở

độ cao dưới 600m.

. Brevipalpus phoenicis Geijskes

(Acarina, Tenuipalpidae). Toàn thế giới

(nhiệt đới).



Triệu chứng, bộ phận bị hại

. Vết hại màu nâu, trung

tâm màu đen kèm theo với

lổ chích trên lá, nếu bị hại

nặng lá sẽ bị cháy. Một số

loài gây sùi cành với những

vết hại màu đen trên thân.

Bọ xít muỗi (có thể là

Helopeltis sp.) cũng xuất

hiện gây hại trên chè của

Peru (Nam Mỹ).

. Tấn công búp và lá, tạo vết

sần sùi dày ở mặt dưới lá, lá

bị khô đi. Gây hạiở độ cao

dưới 1400m. Làm biến dạng

(xoăn) lá non.



. Nhện tím hại chè

(carinate tea mite,

purple tea mite).



. Calcarus carinatus Green (Acarina,

Eriophyidae). Sri Lanka, Ấn Độ,

Indonesia, Malaysia, Trung Quốc.



. Nhện vàng hại

chè (Yellow tea

mite)



. Polyphagotarsonemus latus (hoặc

Polytarsonemus latus) (Acarina,

Tetranychidae, Tarsonemidae). Tồn thế

giới.



. Búp bị bó lại hoặc bị bến

dạng, tạo vùng sần sùi, dày

màu nâu giữa hai gân chính

ở mặt dưới lá. Búp hóa nâu.



. Oligonychus coffeae Nietner (Acarina,

Tetranychidae). Toàn thế giới, nhiệt đới.



. Lá bị hại chuyển màu tím

hặc có rỉ vàng nâu. Tấn

cơng hầu hết các lá thật.



. Nhện đỏ hại cà

phê (red coffee

mite).

. Nhện rỉ hồng hại

chè (pink tea rust

mite)

. Sâu đục thân

mình đỏ hại cà phê

(red coffee borer)

. Mối hại gỗ sống

(live wood

termites)



. Mối đất (ground



. Acaphylla theae (Watt) (Acarina,

Eriphyidae). Bangladesh, Ấn Độ,

Malaysia, Indonesia, Trung Quốc, Liên

Xô cũ.

. Zeuzera coffeae Nietner (Lepidoptera,

Cossidae). Ấn Độ, Sri Lanka, Malaysia,

Indonesia.

. Glyptotermes dilatatus Bug. & Pop.,

Postelectrotermes militaris (Des.).

(Isoptera, Kalotermitidae). Sri Lanka.

. Microcerotermes spp., (Isoptera,

Termitidae). Mối ăn nấm. Ấn Độ,

Malaysia, Java

. Macrotermes gilvus (Hag.) (Isoptera,

Termitidae). Indonesia, Malaysia,



. Sâu non màu đỏ đếm nâu

tím. Thờng có vòng vàng.

Sâu non đục vào bên trong

thân và nhánh. Chết khô

(dieback).

. Gây hại ở thân. Chết khô

(dieback). Tổ ở vùng thân.

P. militaris nhân giống và

duy trì tổ trong thân chè rất

thành cơng.

. Tổ trong đất. Gây hại cây

chè con.



205

termites)

. Sâu đục thân (tea

shoot hole borer,

stem borer)



19.4.2



Vietnam, Philippines.

. Xyleborus fornicatus (Eichoff). Ấn Độ,

Sri Lanka, Đông Nam Á. X. morigenus

(Blanford), Indonesia. (Coleoptera,

Scolytidae).



. Gây hại thân. Dieback.



Moät số sâu hại chính ở Việt Nam



Bọ xít muỗi (Helopelthis sp.)

Bọ xít muỗi

thuộc bộ cánh

nửa Hemiptera,

họ

Miridae.

Đây là đối

tượng gây hại

quanh năm trên

búp và lá non.



Hình 4.35 Sâu xuất hiện và gây hại trên nhiều bộ phận khác nhau của cây chè



Hình thái: hình

dạng bên ngồi

gần giống con

muỗi, màu nâu

đen, dài 4 –

5mm,

rộng

1,5mm, có 3

đơi chân, đơi

chân sau rất

dài. Có cánh.

Miệng

chích



hút.

Tập quán sinh sống: trưởng thành đẻ trứng

trên cuống hoặc dưới lá, dọc 2 bên gân lá.

Trứng được đẻ thành từng chùm, sâu trong

biểu bì, mỗi trứng có 2 lơng nhỏ màu trắng

mọc ra khỏi biểu bì lá.

Sâu non có 5 tuổi. Trưởng thành và sâu

non đều gây hại trên búp và lá non. Mức Hình 4.36 Triệu chứng bọ xít muỗi hại trên lá chè

non



206



độ gây hại của sâu non nặng hơn trưởng thành. Thường trưởng thành gây ra những vết chích

thưa, lớn, còn sâu non gây ra những vết chích nhỏ với mật độ dày. Búp bị hại nặng sẽ bị

cháy đen.

Bọ xít muỗi ưa thích vườn chè xanh tốt, non lâu, trời mát, ẩm, do đó thường xuất hiện và

gây hại nặng ở những khu vực gần bìa rừng, dưới tán cây che bóng hay trong những ngày

mưa phùn, râm mát. Trong những ngày nắng ráo, bọ xít muỗi chỉ xuất hiện gây hại vào sáng

sớm hoặc chiều mát. Sau những ngày mưa to, bọ xít muỗi xuất hiện hàng loạt và gây hại

nặng.

Trong vườn chè, bọ xít muỗi xuất hiện thành từng ổ. Khả năng di chuyển xa và nhanh.

Phòng trừ: Làm sạch cỏ dại, tạo điều kiện thơng thống trong vườn chè. Bón cân đối NPK,

khơng bón quá nhiều N, tăng cường bón K vào thời điểm bọ xít muỗi xuất hiện gây hại

nặng. Siết chặt lứa hái, hái triệt để những búp bị hại. Có thể dùng một số thuốc hóa học để

phòng trừ khi vườn chè bị hại nặng, tuy nhiên cần lưu ý vấn đề về thời gian cách ly.

Rầy xanh (Chlorita flavescens)

Rầy xanh thuộc bộ cánh nửa Hemiptera, họ Jassidae.

Hình thái: trưởng thành rầy xanh có màu xanh lá mạ, sâu non có màu nhạt hơn, trên cánh có

vết đen. Trưởng thành dài 1,5 – 2,0mm, ngang 0,75 – 1,0mm. Miệng chích hút.

Tập quán sinh sống: trưởng thành bay khỏe, hoạt động phá hại cả ngày. Rầy xanh hút nhựa

ở lá non theo đường gân chính và gân phụ làm khơ lá non.

Mức độ lây lan của rầy xanh rất rộng và nhanh. Rầy xanh sinh sản rất nhanh và mau thích

nghi với môi trường sống nên mật độ rầy xanh trên vườn chè thường rất cao.

Phòng trừ: IPM, tương tự như phòng trừ bọ xít muỗi.

Bọ trỉ (bọ cánh tơ) (Physothrips setiventris)

Bọ trỉ thuộc bộ cánh tơ Thysanoptera, họ Tripidae.

Bọ hung nâu (Maladera orientalis Molts)

Bọ hung nâu gây hại nặng trên vườn chè kiến thiết cơ bản và chè sau đốn. Vòng đời của bọ

hung nâu kéo dài 1 năm, các pha trứng, sâu non và nhộng đều trong đất, chỉ có trưởng thành

gây hại cho cây chè.



207



Bọ hung nâu xuất hiện gây hại ở vùng chè Lâm Đồng, các vùng khác bọ hung nâu ít hoặc

khơng xuất hiện.

Trưởng thành bọ hung nâu xuất hiện gây hại ở những tháng đầu mùa mưa (tháng 4 – 6), chỉ

gây hại vào buổi tối (18 – 21 giờ), ban ngày chúng chui xuống đất, tập trung quanh gốc chè.

Con trưởng thành ăn khuyết tồn bộ lá non và búp, còn chừa lại gân lá, làm lá chè khơ quăn,

sau đó rụng, làm chậm sinh trưởng của cây, thậm chí cây bị ngừng sinh trưởng.

Phòng trừ: sử dụng IPM: trồng cây phân xanh mật độ cao giữa các hàng chè, xác định thời

vụ đốn thích hợp (để búp non xuất hiện lệch với thời gian bọ hung nâu xuất hiện gây hại

nặng), không trồng chung với các cây cùng ký chủ, dùng thuốc hóa học.

Sâu đục thân mình đỏ (Zeuzera coffea nietner).

Bọ xít hoa (Poecilocoris latus) thuộc họ

Scutellaridae.

Sâu róm (Euproctis pseudoconspersa Strand)

thuộc bộ Lepidoptera, họ Lymantriidae.

Sâu chùm chè (Andraca bipunctata Walker)

thuộc bộ Lepidoptera, họ Bombycidae.

Sâu kèn mái chùa (Pagodia hekmeyri) thuộc

họ Psychidae.

Hình 4.37 Bọ xít hoa hại chè

19.4.3



Nhện hại chè



- Nhện đỏ cà phê Oligonychus coffeae (họ Tetranychidae).

- Nhện đỏ Brevipalpus phoenicis (họ Eriophyidae): nhện đỏ có kích

thước rất nhỏ, sống thành quần thể ở mặt dưới lá già và lá bánh tẻ.

Nhện đỏ hút dinh dưỡng từ lá làm lá dày lên, sần sùi, màu hung đỏ,

rất dễ rụng. Cây chè bị hại thường chậm ra lá non, làm ảnh hưởng đến

sinh trưởng và năng suất. Nhện đỏ thích gây hại ở những vườn chè

thống, trong điều kiện nóng, khơ. Ở Lâm Đồng, nhện đỏ thường

xuất hiện và gây hại nặng trong những tháng mùa khơ (tháng 1 đến

tháng 3, 4).

Hình 4.38 Nhện đỏ



208

Do nhện đỏ gây hại vào mùa khô, triệu chứng bị hại lại gần giống triệu chứng cây chè thiếu



nước, thiếu phân, nên nhiều khi nông dân bị nhầm lẫn.

Sự phát sinh, phát triển và gây hại của nhện đỏ phụ thuộc lớn vào mơi trường do đó trong

điều kiện hiện tại, đối với nhện đỏ cơng tác phòng rất khó và khơng triệt để, chủ yếu là trừ.

- Nhện vàng Polyphagotarsonemus latus (hoặc Polytarsonemus latus) (Acarina,

Tetranychidae, Tarsonemidae).

- Nhện tím Calcarus carinatus Green (Acarina, Eriophyidae).

19.4.4



Bệnh hại chè



Vì búp và lá chè là bộ phận thu hoạch, nên bệnh trên búp và lá non thu hút được nhiều quan

tâm. Ở châu Á, bệnh phồng lá chè là bệnh hại chủ yếu, tiếp theo là các bệnh hại rể phổ biến

hiện nay trên toàn thế giới. Ngoài ra, bệnh chấm đen trên lá do Corticium invisum (black

blight), bệnh nấm hồng do Corticium salmonicolor và tảo gây bệnh tảo đỏ (red rust) do

Cephaleurus parasiticus có thể gây những thiệt hại lớn trong điều kiện khí hậu ẩm.

Bảng 4.19 Một số bệnh hại trên lá và thân

Tên chung

. Phồng lá chè

(Blister blight)



Tác nhân, nơi nhiễm bệnh chính

. Exobasidium vexans Massee

(Basidiomycotina, Ustomycetes,

Exobasidiales). Chỉ xuất hiện ở vùng

chè Châu Á.



Triệu chứng

. Đầu tiên, xuất hiện vết

châm kim trong mờ màu

vàng nhạt, sau đó xuất hiện

vết phồng tròn ở mặt dưới

lá. Rồi xuất hiện lớp phấn

trắng mịn và cuối cùng vết

bệnh hóa nâu.



. Chấm đen (Black

blight, thread blight)



. Corticium koleroga, C. invisum, còn

gọi Pellicularia koleroga

(Basidiomycotina, Hymenomycetes,

Aphyllophorales, Corticiaceace). Xuất

hiện trên tồn thế giới.



. Lá và cành nhỏ hóa nâu.

Trong điều kiện ẩm của

vùng nhiệt đới, lá chết treo

trên cành bằng sợi chỉ nhỏ.



. Chấm nâu (grey

blight)



. Pestalotiopsis theae

. Vết bệnh hoại trên lá hình

(Deuteromycotina, Coelomycetes). Xuất tròn, khơng theo quy luật,

hiện trên toàn thế giới.

màu xám. Ở trung tâm vết

bệnh cũ có những bào tử

màu đen (acervuli). Chủ

yếu tấn công những cây chè

yếu, bị vết thương.



. Tảo đỏ (red rust)



. Cephaleurus parasiticus Karst, C.

virescens (Algae, Heterokontophyta [=



. Vết tảo đỏ phủ trên mặt lá

hoặc cành.



209

. Bệnh nấm hồng

(pink disease)



. Thối gỗ hypoxylon

(hypoxylon wood

rot, wood rot)

. Ung thư thân (stem

cancer, low-country

stem cancer)

. Thorny stem blight



Chrysophyta]. Xuất hiện trên toàn thế

giới.

. Corticium salmonicolor Berk. &

Broome (Basidiomycotina,

Hymenomycetes, Aphyllophorales,

Corticiaceace). Xuất hiện trên toàn thế

giới.

. Hypoxylon serpens (Prs. Ex Fr.)

(Ascomycotina, Pyrenomycetes). Xuất

hiện ở vùng phía nam Ấn Độ, Kenya.

. Macrophoma theicola (Petch)

(Deuteromycotina, Coelomycetes). Xuất

hiện ở Srilanka.

. Tunstallia aculeata Petch

(Ascomycotina, Sphaeriales). Xuất hiện

ở Ấn Độ.



. Lớp phấn hồn trên cành

hoặc nhánh. Phần phía trên

vết bệnh bị chết và gây chết

ngược (dieback). Điều kiện

khí hậu nhiệt đới ẩm.

. Sùi thân. Phần gổ bệnh

hóa đen từng vết hay sợi.

. Sùi thân.

. Cành bệnh bị chết. Thể

bào tử (perithecia) xuất hện

từ vỏ của cành chết hình

thành những gai nhọn



Kiểm soát sự rụng lá do bệnh black blight bằng cách đốn và đốt bỏ những phần bị nhiễm

bệnh. Chỉ trong điều kiện thời tiết khô ráo, hái búp có tác dụng tránh lan truyền bệnh trên

ruộng nhiễm bệnh. Các đợt sinh trưởng mới được bảo vệ bằng cách sử dụng thuốc trừ nấm

(thuốc gốc đồng hay hữu cơ). C. invisum cũng có thể được kiểm sốt bằng lớp bảo vệ chống

xâm nhiễm trên bề mặt lá (phylloplane), như sử dụng vi khuần Bacillus subtilis (Barthakur

và ctv., 1993).

19.4.5



Một số loại bệnh hại phổ biến tại vùng chè Lâm Đồng



Bệnh phồng lá chè do nấm Exobasidium vexans Massee

Bệnh phồng lá chè gây hại chủ yếu

trên búp lá non và bánh tẻ. Bệnh lây

lan rất nhanh. Bệnh làm giảm diện

tích quang hợp, làm cây sinh trưởng

chậm lại, ảnh hưởng đến năng suất,

phẩm chất chè.

Phòng trừ: sử dụng IPM: vệ sinh

đồng ruộng, bón phân cân đối, tăng

chè (triệu chứng ở mặt dưới lá)

cường bón phân K cho vườn cây bị

nhiễm bệnh, siết chặt lứa hái, hái

triệt để những búp bị nhiễm bệnh, có thể dùng thuốc hóa học.

Hình 4.39 Triệu chứng gây hại của bệnh phòng lá



Bệnh sùi cành chè: chưa rõ tác nhân (có thể do nấm hoặc vi khuẩn).



210



Bệnh chấm xám do nấm Pestalozia thea Saw: gây hại chủ yếu trên lá bánh tẻ và lá già.

Bệnh thối búp do nấm Colletotrichum camelliae Massee.

Bệnh đốm lá do nấm Cercospora sp.



211



Chương 20: CÁC YẾU TỐ CHỦ YẾU ẢNH HƯỞNG ĐẾN SINH TRƯỞNG, NĂNG

SUẤT VÀ CHẤT LƯỢNG CHÈ

Nói chung có nhiều yếu tố đồng thời tác động đến sinh trưởng, năng suất và phẩm chất của

cây chè. Có thể chia các yếu tố này thành 3 nhóm: các yếu tố mơi trường (biến động của

thời tiết, điều kiện đất đai), các yếu tố nội tại (biến thiên của giống) và kỹ thuật canh tác.

Trong từng điều kiện cụ thể, một số các yếu tố có thể có tác động quyết định.

20.1

chè



Tác động của các yếu tố môi trường đến sinh trưởng, năng suất và phẩm chất



Khi tiến hành điều tra tác động của các yếu tố khí hậu đến sinh trưởng và năng suất chè, các

nhà khoa học kết luận rằng sự phân bố năng suất hàng năm bị tác động mạnh bởi các yếu tố

thời tiết như: lượng mưa, nhiệt độ và ẩm độ và sự thiếu nước trong đất (Burgess và ctv.,

1996; Matthews và Stephens, 1998). Theo Owour (1994), những thay đổi thời tiết hàng

tháng ảnh hưởng đến năng suất và các thành phần sinh hóa của chè đen.

Wijeratne (1996) cho rằng khô hạn gây nên những tổn thất không thể khắc phục được là yếu

tố giới hạn, nhưng Ng‘etich (1997) tin rằng nhiệt độ là yếu tố môi trường có liên quan chặt

nhất với sự sản xuất chất khơ và năng suất. Nghiên cứu khác cho thấy nhiệt độ khơng khí có

tác động trực tiếp lớn nhất đến đặc điểm của búp và trọng lượng 100 búp (Cheng, 1996).

Xét về ảnh hưởng của yếu tố đất, Guohua và ctv. (1995) thấy rằng các điều kiện lý – hóa của

đất và hàm lượng các nguyên tố trong đất tác động rõ đến sinh trưởng của cây chè và chất

lượng búp.

Nghiên cứu về các thành phần sinh hóa của chè, Takeda (1994) cho rằng hàm lượng tannin

và caffeine trong các giống chè được thu thập từ các vùng khác nhau trên khắp thế giới biến

động rất lớn. Trong khi đó, với cùng một mục đích, Baptista và ctv. (1999) xác định trong

chè xanh, hàm lượng caffeine biến động theo vị trí lá, loại đất và điều kiện sản xuất.

20.2 Ảnh hưởng của yếu tố giống đến sinh trưởng, năng suất và phẩm chất chè

Joshi và ctv. (1998) cho rằng ngoại trừ một số trường hợp ngoại lệ, sinh trưởng của búp phụ

thuộc vào cường độ quang hợp của lá chừa và búp đang phát triển. Trước đó, Smith và ctv.

(1990) đã xác định tương quan giữa chiều dài búp, trọng lượng khô, trọng lượng tươi và thời

gian khác nhau ở các giống khác nhau (theo Willson và Clifford, 1992).

Hàm lượng tannin trong búp khác nhau đáng kể phụ thuộc vào giống (Obanda và Owuor,

1992) và mùa thu hoạch (Yamamoto và ctv., 1997). Trong một nghiên cứu khác, Ninomiya



212



và ctv. (1997) tin rằng hàm lượng các chất tạo vị chính trong chè xanh (như là tannin,

caffeine và các amino acids, kể cả theanine) khác nhau đáng kể tùy thuộc vào giống, đất và

phương pháp chế biến.

Theo Wang và ctv. (1995), giống là yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến nồng độ amino

acid trong chè, đặc biệt là các amino acid tự do. Mặt khác, Shiraki (1996) kết luận rằng hàm

lượng N tổng số, amino acids tự do và tannins trong lá chè tươi có liên quan đến độ cứng

của lá, tỷ lệ búp mù và số lá.

Vị của chè xanh chủ yếu được quyết định bởi giống, thời điểm thu hoạch, độ già của búp và

phương pháp canh tác (Yamamoto và ctv., 1997).

20.3 Ảnh hưởng của kỹ thuật canh tác đến sinh trưởng, năng suất và phẩm chất của

chè

Ranganathan và Natesan (1987) kết luận rằng sử dụng phân bón khơng ảnh hưởng đến chất

lượng, trong khi đó Owuor và ctv. (1987) khuyến cáo rằng sử dụng phân bón hợp lý sẽ cho

năng suất kinh tế nhất và chất lượng tốt nhất. Ngược lại, Willson và Choudhury (1969) xác

định ở Kenya rằng chất lượng chè giảm sút khi tăng hàm lượng đạm, không thay đổi khi sử

dụng kali và chất lượng được cải thiện khi tăng lượng lân sử dụng. Sugianto (1985) cũng

thu được kết quả tương tự, song Oâng ta kết luận rằng kali làm giảm phẩm chất và chất

lượng chè cũng sẽ giảm khi sử dụng chung cả ba loại phân NPK. Hàm lượng tannin và các

chất trích ly được giảm khi tăng lượng đạm; lân và kali không thay đổi (Zyrin và Barabadze,

1987) trong khi hàm lượng caffeine tăng khi lượng kali và đạm sử dụng tăng (Cloughley,

1982, theo Willson và Clifford, 1992).

Takeo (1979) cho rằng sử dụng sulphate ammonia liều cao cải thiện chất lượng chè xanh;

hàm lượng amino acid trong lá cũng tăng (theo Willson và Clifford, 1992).

Yadav và Srivastava (1999) cho rằng năng suất chè bị ảnh hưởng có ý nghĩa bởi cơng tác

phòng trừ dịch hại và thu hoạch.

Thu hoạch thô, hái nặng tay sẽ làm giảm hàm lượng catechin tổng số, polyphenol oxidase

hoạt động, theaflavins tổng số, độ sáng, màu sắc và chỉ số hương (Obanda và Owour, 1994;

1995).

Về vai trò của aluminium đối với chất lượng chè, Owuor và Gone (1988) cho rằng

aluminium được sử dụng để cải thiện màu sắc nước, làm giảm hàm lượng theaflavins.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Một số điểm cần lưu ý khi áp dụng biện pháp đốn chè

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×