Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Lượng phân vô cơ bón cho vườn chè đạt năng suất > 7 tấn /ha

Lượng phân vô cơ bón cho vườn chè đạt năng suất > 7 tấn /ha

Tải bản đầy đủ - 0trang

196

- 3.000kg/ha



P2O5 + N :K2O



90+250:190



. Chè kinh doanh

- 3.000kg/ha



P2O5 + N :K2O



70+250:250



- 4.000kg/ha



P2O5 + N :K2O



70+350:350



- 5.000kg/ha



P2O5 + N :K2O



90+450:450



lần/năm hoặc 11,25kg/ha,

lần/năm và cách năm.



5



. Bón P2O5 hàng năm ở độ sâu 15 25cm. Rải N, K 4 - 6 lần/năm. Phun

kẽm sulfat 6 - 10kg/ha, 3 - 5

lần/năm.



Với vùng chè có sản lượng nhỏ hơn 4.000 kg/ha thì mỗi năm cần bón thêm 20 - 25 kg

manhezit và 75 – 125 kg magie silicat/ha. Nều sản lượng đạt > 4.000 kg/ha thì cần bón thêm

40 - 50 kg manhezit và 125 – 150 kg magie silicat/ha.

19.2.4

19.2.4.1



Triệu chứng thiếu hay thừa một số dinh dưỡng trên cây chè

Đạm



Đạm là thành phần cấu tạo của nhiều vật chất quan trọng trong cây trồng

(chlorophyll, nucleotides, các hormone, các vitamin…).

Cây chè phản ứng rất nhạy với phân đạm. Khi lượng đạm tăng dần đến 150 kg.ha -1,

mỗi 1 kg đạm sử dụng tạo được 4 – 8 kg chè chế biến (chè khô).

Trong điều kiện dinh dưỡng cân đối, ở những cây chè khỏe mạnh, lượng đam trong lá

rất ổn định trong khoảng 4,5 – 5,0% chất khô. Khi lưởng đạm trong lá < 3%, xảy ra hiện

tượng thiếu đạm.

Biểu hiện của hiện tượng thiếu đạm: rút ngắn giai đoạn hái búp, lá chuyển màu thành

hơi vàng đến hơi trắng, tốc độ sinh trưởng giảm thấp, hình thành những lá nhỏ, lóng ngắn,

thậm chí có thể gây rụng tồn bộ lá nếu thiếu đạm trầm trọng.

19.2.4.2



Lân



Lân là nguyên tố cơ bản cho sinh trưởng và đóng vai trò quan trọng trong sự hình

thành gổ và rể mới.

Thường hàm lượng lân trong lá là 0,4 – 0,9% chất khô. Lân trong cây rất linh động

và có xu hướng di chuyển lên đỉnh sinh trưởng, nơi mà quá trình quang hợp diễn ra mạnh

hơn, do đó, lượng lân trong búp non cao hơn trong lá trưởng thành.



197



Phản ứng của cây chè đối với phân gốc phosphate được ghi nhận rõ hơn ở những cây

chè con, cây chè cung cấp hạt giống hoặc cành giâm, trong khi ở cây chè trưởng thành hầu

như khơng hoặc có biểu hiện rất ít, trừ ở những nơi thiếu lân.

Thiếu lân (P2O5 < 0,4%) ảnh hưởng có hại đến sinh trưởng: sắc lá khơng còn bóng

sáng mà chuyển sang màu xỉn, thân cành nhỏ lại, lóng ngắn hơn và giảm sự hình thành rể.

Thiếu lân có thể làm chết cành.

19.2.4.3



Kali



Kali là nguyên tố sống còn của cây; kali được xem là đóng vai trò quan trọng trong

sự giử nước, trong sự phân chia tế bào, trong sinh trưởng của cây chè và trong quá trình

hình thành bộ khung tán vững chắc ở cây chè con. Trong những điều kiện nhiệt độ thấp,

mùa khơ kéo dài, vai trò quan trọng của kali thể hiện rõ nét hơn.

Hàm lượng kali trong lá chè bình thường khoảng 1,5 – 2,0% chất khơ. Trong cây chè,

kali tập trung chủ yếu ở bộ phận non. Khi hàm lượng kali trong lá < 0,7%, cây chè biểu hiện

triệu chứng thiếu kali: lá chuyển màu đỏ đồng, nhất là dọc theo gân lá và chóp lá, sau đó các

bộ phận ở mép tán chết dần  rụng lá và năng suất giảm. Màu vỏ cây chuyển thành hơi

trắng, tán chè mở ra; mật độ búp tăm hương tăng đáng kể và rể hấp thu ngừng phát triển.

Cây chè có dạng hình ống và phản ứng kém với việc đốn.

19.2.4.4



Magnesium



Nhu cầu Magnesium của chè rất ít; hiện tượng thiếu Mg thường chỉ thấy ở những đất

có hàm lượng base trao đổi thấp, hoặc đất quá giàu kali. Hàm lượng Mg trong lá bình

thường là 0,3 – 0,5% chất khơ.

Triệu chứng thiếu MgO: lá già bị vàng và hình thành những vết đốm nâu vàng giữa

các gân lá. Số lá non không giảm nhưng trở nên mất màu sau một thời gian nhất định.

19.2.4.5



Lưu huỳnh



Lượng lưu huỳnh trong lá bình thường là 0,08 – 0,2% chất khơ. Biểu hiện của cây

thiếu lưu huỳnh: lá chuyển vàng trừ gân vẫn xanh. Búp mới nhỏ hơn, lóng ngắn lại, rồi tốc

độ sinh trưởng giảm. Hiện tượng thiếu lưu huỳnh, xuất hiện nhiều ở Đơng và Trung Phi, còn

được gọi là “bệnh vàng” hay “vàng lưu huỳnh”.

19.2.4.6



Calcium



198



Dù phát triển trên đất chua, nhưng cây chè vẫn có một nhu cầu calcium tối thiểu.

Calcium có chức năng khơng thể thay thế (bằng kali hay Mg) là tham gia vào quá trình hình

thành vách tế bào. Trong lá bình thường, hàm lượng calcium biến động trong khoảng 0,3 –

0,9% chất khô.

Thiếu calcium, lá già trở nên giòn dễ gãy; trên lá non có những vết mất màu ở mép

lá, sau đó chuyển thành nâu tối.

Mặt khác, calcium trong đất cao cũng làm giảm tốc độ tăng trưởng: lá non chuyển

sang màu vàng, cuốn vào trong; mép lá và đầu lá bị cháy đen.

19.2.4.7



Sắt



Hàm lượng sắt trong lá chè là 700 – 1.500 ppm chất khô. Thiếu sắt lá chuyển sang

màu vàng.

19.2.4.8



Mangan



Hàm lượng Mn trong lá chè dao động trong khoảng 900 – 1.200 ppm chất khơ. Mn

được tích lũy nhiều hơn trong lá già. Trên những chân đất quá chua, lá chè trưởng thành

thiếu Mn trở nên giòn, dễ gãy.

19.2.4.9



Boron



Thiếu Bo gây rối loạn sự trao đổi chất trong cây chè. Vỏ nứt ra, thân và lá biến dạng

và chết. Triệu chứng thiếu Bo thường xuất hiện ở những đất giàu sét hoặc trong mùa nóng.

Khắc phục bằng 15 – 30 kg borax/ha.

19.2.4.10



Đồng



Đồng trong lá chè chiếm 20 – 30 ppm chất khô. Khi đồng trong lá < 12 ppm thì nên

bổ sung bằng các loại hóa chất có gốc đồng.

19.2.4.11



Kẽm



Thiếu kẽm lóng ngắn lại, lá còi cọc và hóa vàng, búp nhỏ hình lưỡi liềm.

Đọc thêm

Một số dạng phân hóa học

Phân đơn



199

Phân đạm

- Ammonium sulphate chứa 21% nitrogen, dùng cho đất chua.

- Urea có chứa 46% nitrogen; biuret trong phân urea có thể làm cây chè ngộ độc.

- Ammonium nitrate chứa 35% nitrogen, được bọc bởi calcium, là phân phản ứng trung tính.

- Ammonium sulpho-nitrate chưa 26% nitrogen, là phân phản ứng chua nhẹ.

- Ammonium chloride chứa 24%, là phân phản ứng chua mạnh.

Phân lân

- Simple superphosphate (18% P2O5, 28% CaO, 12% S)

- Triplesuper phosphate (44% P2O5, 17 – 23% P2O5, 5% SO3): phân trung tính, hiệu lực nhanh.

- Phosphate tự nhiên (30 – 35% P2O5, 40 – 45% CaO).

Phân kali

- Potassium sulphate (48% K2O, 18% S).

- Potassium chloride (50 – 60% K2O).

Phân magnesium

Kieserite (27% MgO).

Phân hỗn hợp

Phân hỗn hợp là hỗn hợp của 2 hay nhiều phân đơn. Việc phối trộn có thể do người dân thực hiện,

hay được sản xuất trừ các nhà máy phân bón.

Phân phức

Phân phức, được sản xuất ở dạng viên, có chứa cả các nguyên tố đa lượng và vi lượng, thường được

sản xuất bằng cách cho phosphate tự nhiên phản ứng với các khoáng chua.



19.3



Kỹ thuật đốn chè



Đốn chè là một biện pháp kỹ thuật đặc thù trong sản xuất chè, có ảnh hưởng đến sinh

trưởng, năng suất và phẩm chất chè.

19.3.1



Cơ sở lý luận của việc đốn chè



- Chè có thân đa mầm, khả năng mọc mầm mạnh, liên tục.



200



- Lý luận phát dục:

+ Phần ngọn: tuổi sinh lý già  trình độ phát dục già  sinh trưởng dinh dưỡng kém:

cành tâm hương, búp nhỏ, hoa trái nhiều.

+ Phần phía dưới: tuổi sinh lý non hơn  trình độ phát dục non  sinh trưởng dinh

dưỡng mạnh hơn  cành to, khoẻ, búp to, ít hoa trái.

- Phá thế cân bằng giữa hai bộ phận trên và dưới mặt đất, tạo điều kiện cho bộ phận trên mặt

đất phát triển mạnh.

- Làm giảm diện tích lá, giúp cây chống chịu tốt hơn qua mùa nắng (rét) [do giảm thoát hơi

nước].

- Giảm sinh trưởng dinh dưỡng  tạo thế mất cân bằng với sinh trưởng sinh thực  giúp

cây hạn chế sinh trưởng sinh thực, tiếp tục phát triển sinh trưởng dinh dưỡng

19.3.2



Tác dụng của đốn chè



- Tạo bộ khung tán mới to, khỏe  tăng mật độ búp  năng suất cao.

- Thay bộ tán già cõi, cành tâm hương nhiều, bằng bộ khung tán mới to khỏe.

- Khống chế tán chè ở độ cao nhất định.

- Giúp cây tránh những điều kiện bất lợi: tránh hạn, rét, dịch bệnh...

- Duy trì diện tích lá phù hợp (tránh quá lớn).

19.3.3



Thời vụ đốn chè



Về nguyên tắc, nên đốn chè khi cây ngừng sinh trưởng, tỉ lệ C/N trong cây cao nhất: tháng

12 – 1 (tuy nhiên ở tháng 7 – 8, tỷ lệ C/N cũng cao)

Thời vụ đốn (theo khuyến cáo của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thông, 2001) là từ

giữa tháng 12 đến hết tháng 1.

- Nơi thường bị sương muối

đốn muộn hơn, đốn sau đợt

sương muối nặng.



Hình 4.31 Các mức độ đốn khác nhau



201



- Đốn đau trước, đốn phớt sau.

- Đốn tạo hình, chè con trước, đốn chè trưởng thành sau.

Đối với vùng đảm bảo độ ẩm, hoặc có điều kiện chủ động tưới chè có thể đốn một phần diện

tích vào tháng 4 - 5 sau đợt chè Xuân góp phần rải vụ thu hoạch chè.

19.3.4



Quy cách đốn



Quy cách của các kiểu đốn chính là:

Đốn phớt

- Đốn phớt thường được hàng

năm, vị trí đốn năm sau cao hơn

vị trí năm trước 3 –5 cm.

- Mục đích: loại bỏ cành tâm

hương, sinh trưởng yếu, tạo điều

kiện cho các mầm phía dưới phát

động hình thành búp mới.

Đốn phớt theo khuyến cáo của Bộ Hình 4.32 Vườn chè của cơng ty TNHH Vĩnh Húc được sửa

Nông nghiệp và Phát triển Nông nhẹ (tạo tán bằng) sau khi thu hoạch

thôn (2001):

- Hai năm đầu, mỗi năm đốn trên

vết đốn cũ 5 cm. Sau đó mỗi năm

đốn cao thêm 3 cm, khi vết đốn

dưới cùng cao 70 cm so với mặt

đất thì hàng năm chỉ đốn cao thêm

1 cm so vết đốn cũ.



Hình 4.33 Vườn chè vừa được đốn phớt



- Tuyệt đối không cắt tỉa cành la,

đảm bảo độ che phủ, khép tán trên

nương.



- Đối với nương chè sinh trưởng yếu, tán lá thưa mỏng, có thể áp dụng chu kỳ đốn cách

năm: 1 năm đốn phớt như trên, 1 năm đốn sửa bằng tán chỉ cắt phần cành xanh.



202

Hình 4.27:

họa độ

caođộcủa

- TùyMinh

sinh trưởng

của cây,

cao của tán chè có 3 dạng đốn phớt: lu sửa bằng, phớt xanh và

các kiểu đốn



phớt nâu.



- Đốn bằng dao sắc, kéo hay máy. Tạo tán bằng hoặc tán mâm xôi.

Đốn lững

- Những đồi chè đã được đốn phớt nhiều năm, vết đốn cao quá 90 cm so với mặt đất, nhiều

cành tăm hương, u bướu, búp nhỏ, năng suất giảm thì đốn lửng cách mặt đất 60 - 65 cm;

hoặc chè năng suất khá nhưng cây cao quá cũng đốn lửng cách mặt đất 70 - 75 cm.

- Đốn bằng dao hoặc kéo sắc, tạo tán bằng.

Đốn đau

Đốn đau có tác dụng thay một phần khung tán.

Những đồi chè được đốn lửng nhiều năm, cành nhiều mấu, cây sinh trưởng kém, năng suất

giảm rõ rệt thì đốn đau cách mặt đất 40 - 45 cm.

Đốn trẻ lại

Ở những cây chè già, sau nhiều lần đốn đau thân cây bị sâu bệnh hại nhiều, sinh trưởng phát

triển kém, năng suất giảm rõ,

đốn trẻ lại cách mặt đất 10 – 15

cm (hoặc 20 – 25 cm, theo Trung

tâm Khuyến nông Lâm Đồng).

Dùng dao bén để tránh làm ảnh

hưởng đến gốc, vết đốn thẳng,

vát, khơng giập nát.

Ngồi ra, trong một số điều kiện

nhất định (thường là khơ hạn kéo

dài), có thể áp dụng biệp pháp

đốn chừa cành thở.



Hình 4.34 Đốn chè chừa cành thở được áp dụng không điều

kiện khắc nghiệt (hạn hán kéo dài)

Một số điểm cần lưu ý khi áp



dụng biện pháp đốn chè

- Bón phân đầy đủ trước khi đốn (nhất là trước khi đốn đau và đốn trẻ lại).



203



- Vết đốn có độ nghiên và khơng bị giập nát. Trường hợp thiết diện vết đốn lớn, có thể quét

lên đó dung dịch Bordeaux 1%.

19.3.5



Cách đốn và dụng cụ đốn



- Đốn tạo tán có mặt bằng nghiêng theo sườn dốc, không làm dập cành, sây sát vỏ.

- Đốn đau, đốn lửng, đốn tạo hình lần đầu thì dùng dao. Đốn phớt, đốn tạo hình lần 2 thì

dùng kéo hoặc dao. Đốn trẻ lại, sửa cành lớn chè giống thì dùng cưa.

- Đối với các giống chè có phân cành nhiều, mật độ cành lớn, sinh trưởng đỉnh đều thì có

thể áp dụng máy đốn để nâng cao năng suất lao động.

19.4



Phòng trừ sâu bệnh



Ngày nay, thách thức lớn nhất của người trồng chè là sản xuất chè không tồn dư thuốc bảo

vệ thực vật. Trên quan điểm bảo vệ thực vật, đòi hỏi chè khơng tồn dư thuốc bảo vệ thực vật

mâu thuẫn với yêu cầu chất lượng cao của người tiêu dùng và với yêu cầu năng suất cao,

đầu tư lao động thấp của người sản xuất. Bởi vì hiện tại năng suất cao chủ yếu đạt được

bằng cách loại bỏ cây che bóng và giảm những thiệt hại do sâu bệnh bằng cách sử dụng

thuốc bảo vệ thực vật.

Việc khơng áp dụng cây che bóng làm thay đổi môi trường nông nghiệp: gia tăng cỏ dại,

đầu tư phân bón cao hơn và gia tăng mức độ nhiễm một số sâu bệnh hại (bệnh sùi cành do

ánh sáng trực tiếp…). Tuy nhiên, che bóng cũng có thể tác động có hại cho năng suất vì

chọn loại cây che bóng khơng phù hợp hoặc mức độ che bóng q cao trong mùa mưa, dễ

nhiễm bệnh phồng lá (Exobasidium vexans) và một số sâu hại khác (bọ xít muỗi hại chè).

Thiệt hại về kinh tế do bệnh được đánh giá là nặng hơn do sâu và bệnh phồng lá được xem

là bệnh chính hại búp. Hàng năm thiệt hại sản lượng do sâu bệnh lên đến 18 – 20%. Aùp lực

sâu bệnh trên chè cũng còn phụ thuộc vào chiến lược kiểm sốt dịch hại và điều kiện mơi

trường. Giảm sử dụng thuốc bảo vệ thực vật có thể thực hiện được khi cùng lúc giảm áp lực

sâu bệnh hại bằng cách canh tác ở những mội trường ít nhiễm sâu bệnh hại (độ cao, che

bóng), sử dụng những giống chống chịu tốt với sâu bệnh, sử dụng thuốc bảo vệ thực vật ít

có tác động đến hệ thiên địch và áp dụng thuốc theo ngưỡng gây hại kinh tế.

Nguyên tắc cơ bản phòng trừ sâu bệnh hại chè là tiến hành phòng trừ tổng hợp, kết hợp

nhiều biện pháp, đặc biệt là hái búp, phải thu hái đúng tiêu chuẩn, đúng lứa.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Lượng phân vô cơ bón cho vườn chè đạt năng suất > 7 tấn /ha

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×