Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Thời vụ thu hoạch

Thời vụ thu hoạch

Tải bản đầy đủ - 0trang

149



Hạt giống phải tốt: không vỡ nát, lẫn tạp cơ giới, không bị nhiễm sâu bệnh, khả năng nảy

mầm > 75%, hàm lượng nước trong hạt là 30 – 38%, đường kính hạt ≥ 12mm, số hạt/kg là

120 hạt, trọng lượng 100 hạt P100 hạt = 800 – 843g. Hạt thuần chủng, không lẫn tạp.

Nếu giống tốt, lượng hạt giống cần cho 1ha trồng mới là 250 kg.

15.6.8



Xử lý hạt giống



Để rút ngắn thời gian nảy mầm, đồng thời giúp hạt giống nảy mầm đồng đều, cây con khỏe

mạnh, người ta tiến hành xử lý hạt giống trước khi gieo. Có nhiều cách xử lý hạt giống.

Phương pháp thường được sử dụng:

- Ngâm hạt giống trong nước 12 – 24 giờ.

- Trải hạt thành lớp 7 – 10cm, rồi phủ lớp cát dày 5cm.

- Giữ ẩm thường xuyên cho khối hạt, có thể tưới 1 lần/ngày. Nhiệt độ thích hợp là 20 –

25oC.

- Khi có khoảng 50% hạt nứt nanh thì đem gieo. Lưu ý cách đặt hạt, khơng làm cong rể đuôi

chuột (rể trụ, rể cọc).

15.7

15.7.1



Nhân giống chè bằng cành

Ưu điểm của phương thức nhân giống chè cành



- Có hệ số nhân giống rất cao, có thể cung cấp đồng thời một số lượng giống lớn, tránh được

khó khăn do thiếu giống khi trồng mới.

Bảng 4.4 Hệ số nhân giống chè bằng phương pháp giâm cành (Nguyễn Văn Niệm, 1978)

Tuổi vườn



Số hom/bụi



Số hom (ngàn)/ha



Trồng được (ha)



1 tuổi



20



200



5



2 tuổi



100



1.000



20 – 25



3 tuổi



200



2.000



40 – 50



4 tuổi



300



3.000



60 - 75



(không kể thời gian vườn ươm)



Số liệu từ Viện nghiên cứu chè Phú Hộ cho thấy từ 1 ha vườn giống 4 tuổi có thể cung cấp

được khoảng 3 triệu hom, đủ cây giống cho trồng mới 50 ha (nếu trồng 2 cây/hố), hoặc 80



150



ha (1 cây/hố). Trong khi đó, trong điều kiện tương tự, chỉ có thể thu được khoảng 2.000kg

hạt giống/ha vườn giống 4 tuổi, chỉ đủ cung cấp cho 4ha trồng mới.

Theo Denis Bonheure, với khoảng cách 1,2 x 0,6 m (mật độ 14.000 cây.ha -1), giả định tỷ lệ

xuất vườn là 80% và thất thoát 25% khi trồng mới, lượng hom giống phải chuẩn bị cho

vườn ươm là 22.000 hom.

- Tạo được vườn chè đồng đều với những đặc tính tốt của cây mẹ, do đó rất thuận lợi cho

Hình 4.8 Cây con chè cành



việc đầu tư thâm canh, cơ giới hóa, cho năng suất cao. Mặt khác nguyên liệu đồng đều sẽ

giúp chế biến được những loại chè chất lượng tốt, ổn định.

- Rút ngắn được thời gian giai đoạn kiến thiết cơ bản.

- Kết quả nghiên cứu của Trường Đại học Nông nghiệp I cho thấy năng suất chè cành

thường cao hơn chè hạt từ 33 – 45% tùy giống.

15.7.2



Nhược điểm của phương pháp nhân giống chè bằng cành



- Phải qua giai đoạn vườn ươm.

- Đòi hỏi phải có kỹ thuật: các khâu giâm cành; chăm sóc, quản lý vườn ươm tỉ mỉ, tốn

nhiều công lao động.

- Khối lượng vận chuyển cây con cho trồng mới lớn.

- Giá thành cây con cao, làm tăng đáng kể chi phí đầu tư trồng mới.

- Trong thời gian kiến thiết cơ bản, khả năng chịu hạn của cây con kém.



151



15.7.3



Các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ sống của cành giâm



Giâm cành chè phải được tiến hành trên cơ sở đã chọn lọc giống tốt thì mới phát huy được

ưu thế của phương pháp. Cũng cần lưu ý không nên sử dụng một dòng chè cành duy nhất,

mà phải có bộ giống thích hợp cho từng vùng.

15.7.3.1



Hình 4.9 Mơ sẹo hình thành ở vết cắt hom chè ở 30 ngày

sau khi giâm



Các điều kiện nội tại



Tỷ lệ sống của cành giâm phụ thuộc

vào các yếu tố như: giống chè, tuổi

cành giâm, tỉ lệ C/N, số lá trên cành

giâm, tình trạng chồi nách của cành

giâm…

Yêu cầu



- Hom chè tốt nhất là một đoạn cành bánh tẻ dài 3 – 4cm, mang 1 lá thật nguyên vẹn và một

mầm nách, không bị sâu bệnh.

- Nên bón tăng cường phân P, K và giảm N đối với cây chè cung cấp hom giống và bấm

ngọn cành chè 7 – 10 ngày trước khi cắt cành.

15.7.3.2



Các điều kiện bên ngoài



Tất cả các yếu tốt ngoại cảnh như: đất (lý hố tính đất, nhiệt độ đất…), thời tiết - khí hậu

(nhiệt độ, ẩm độ, lượng mưa, ánh sáng), sâu bệnh, cỏ dại… đều có ảnh hưởng đến tỷ lệ sống

của cành giâm.

Yêu cầu

- Môi trường cắm hom là đất tơi xốp, thốt nước, khơng có mầm sâu bệnh, tuyến trùng, độ

chua thích hợp, ít chất hữu cơ.

- Nên có biện pháp điều chỉnh ánh sáng, ẩm độ, gió trong vườn ươm cho thích hợp.

15.7.3.3



Các biện pháp kỹ thuật



Các khâu chuẩn bị đất, làm vườn ươm, vô bầu đất, chuẩn bị hom, cắt hom, cắm hom, mật độ

hom, chế độ tưới nước, bón phân, phòng trừ sâu bệnh, vê nụ… đều có ảnh hưởng đến tỷ lệ

sống của cành giâm.

Yêu cầu



152



Các biện pháp kỹ thuật cần được tiến hành chính xác, đúng phương pháp, kịp thời nhằm tạo

điều kiện tốt nhất cho cành giâm phát triển tốt.

Sau khi cắm hom, ở vết cắt hình thành một màng mộc thiêm (sẹo) để chống sự xâm nhập

của vi sinh vật gây hại cho hom chè. Sau đó, từ mơ sẹo (calus) xuất hiện những điểm sinh

trưởng, từ đó rể được hình thành. Cành non phát triển từ chồi nách. Ngoài phần dinh dưỡng

dự trữ trong hom, lá là bộ phận duy nhất của hom chè có khả năng quang hợp tạo ra chất

dinh dưỡng. Trong thực tế, khi chồi phát triển trước rể hoặc nụ, hoa phát triển mạnh đều là

những hiện tượng bất lợi cho sự phát triển của cành giâm, cần khống chế hoặc điều chỉnh

cho phù hợp.

15.7.4



Điều kiện ngoại cảnh thích hợp cho sự ra rể và phát triển của cành giâm



- Nhiệt độ: nhiệt độ khơng khí: 25 – 30oC; đất (ở 5cm đất mặt): 20 – 22oC.

Nhiệt độ thấp sẽ kéo dài thời gian hình thành mơ sẹo và rễ, mầm. Nhiệt độ cao làm tăng

cường độ bốc thốt hơi, khơng có lợi cho cành giâm.

- Ẩm độ:

+ Khơng khí: bão hòa (nhằm làm giảm đến thấp nhất hiện tượng bốc thoát hơi nước do đó bảo vệ

được cành giâm, thúc đẩy sự phân chia tế bào, hom mau ra rể (nhờ tăng sức trương tế bào)).

+ Đất: 70 – 80% (ẩm độ đất cao: hom dễ bị thối; ẩm độ đất thấp: hom bị khơ).



- Ánh sáng: nên làm giàn che thích hợp ( có thể điều chỉnh được ánh sáng ) sao cho chủ động

khống chế ánh sáng trong vườn ươm. Ánh sáng mạnh quá sẽ gia tăng cường độ thoát hơi

nước, do đó ảnh hưởng đến tỷ lệ sống của hom chè.

15.8



Một số kỹ thuật giống khác



Bên cạnh những kỹ thuật giống thông dụng trên, ngày nay người ta cũng quan tâm đến việc

áp dụng một số kỹ thuật giống khác: kỹ thuật giống đa bội, nhân giống đột biến, nuôi cấy

mơ.

Ưu điểm chính của giống đa bội là sức sống mạnh và chống chịu tốt với những tác động bất

lợi của môi trường, đặc biệt là điều kiện mùa đông khắc nghiệt, nhưng không phải năng suất

lúc nào cũng cao. Thậm chí, một số dòng tam bội và tứ bội tự nhiên có chất lượng rất kém,

và một số dòng chè ngũ bội thường là những dòng chè có bộ rể phát triển kém. Do đó, đa

bội chỉ có giá trị giới hạn trong kỹ thuật giống chè (Willson và Clifford, 1992).



153



Còn mục đích của kỹ thuật đột biến là thúc đẩy các đột biến có lợi để cải thiện năng suất và

phẩm chất chè. Các nghiên cứu sơ bộ chủ yếu giới hạn ở việc chiếu xạ hom chè, hạt phấn và

hạt chè cho thấy những cây có xử lý có biểu hiện tốt hơn những cây khơng xử lý. Tuy nhiên,

các xử lý này không chỉ thất bại trong việc tạo ra những dòng đột biến ưu việt, mà còn làm

giảm sức sống, sinh trưởng cằn cổi và ít lá và cành (Singh và Aharma, 1982; được trích bởi

Willson và Clifford, 1992).

Theo Willson và Clifford (1992),

những tiến bộ gần đây trong

nghiên cứu tế bào và nuôi cấy

mô mở ra cơ hội cho khơng chỉ

việc nhân nhanh chóng vật liệu

nhân giống, mà cả cho việc sử

dụng các quy luật, kỹ thuật di

Hì truyền học, sinh lý học và sinh

nh 4.10 Nghiên cứu nuôi cấy mô chè tại Đại học Nơng Lâm

hóa học vào việc phát triển các

Tp. Hồ Chi Minh

dòng chè đặc trưng.

Nhưng hiện nay các tiến bộ trong ni cấy mơ chè là khá chậm, chủ yếu vì hầu hết các

nghiên cứu đều chỉ giới hạn ở chổ chuẩn hố kỹ thuật. Do vậy, cây chè cơng nghệ sinh học

vẫn chưa được phát triển, dù đây là lĩnh vực có nhiều triển vọng để chuyển những gene đặc

trưng vào những kiểu gene đã thích nghi tốt.

15.9

15.9.1



Giới thiệu một số giống chè

Dòng chè PH1



Giống PH1 được chọn tạo bằng phương pháp chọn lọc cá thể từ tập đoàn Assamica từ năm

1965 và được công nhận năm 1972.

Đặc điểm: thân gỗ, phân cành

thấp, số cành cấp I nhiều, to

khỏe. Lá to trung bình, màu

xanh đậm, hình bầu dục. Trọng

lượng 1 búp đạt 0,8 - 1,0g.

Năng suất bình quân đạt 15 - 17

Hình 4.11 Búp chè PH1 gồm 1 tơm và 2 lá (P + 2)

tấn.ha-1, thâm canh tốt có thể

đạt 25 - 18 tấn.ha-1. Nguyên liệu phù hợp chế biến chè đen đạt tiêu chuẩn xuất khẩu. Có khả



154



năng chịu nóng, hạn khá. Chịu rét trung bình. Kháng rầy xanh, bọ xít muỗi khá. Dễ bị

nhiễm nhện đỏ.

15.9.2



Dòng chè LĐ97



LĐ97 là giống do Trung tâm Nghiên cứu Thực nghiệm Chè Lâm Đồng chọn lọc từ năm 1993

– 1997.

Đặc điểm: lá to, thon dài, chiều

dài 15 – 18cm, rộng 5 – 7cm,

có 10 – 12 đơi gân lá, mép lá có

răng cưa lớn, đều nhau, răng

cưa kéo dài đến chóp lá. Lá

màu xanh đậm. Cây sinh

trưởng và phân cành mạnh, ít

cành tăm hương. Búp to, có

nhiều lơng tơ trắng mịn. Khả

năng kháng sâu bệnh tốt, thích

hợp với địc hình cao. Năng suất

Hình 4.12 Vườn chè LĐ97 tại Lâm Đồng

cao (18 – 20 tấn/ha), phẩm chất

tốt, có thể dùng để chế biến chè xanh, đen. Tuy nhiên mật độ búp trên tán khơng cao.

15.9.3



Dòng chè TB14



TB14 là chè shan Trấn Ninh được bình tuyển tại B’lao.

Đặc điểm: lá màu xanh nhạt, hình

thon dài, chiều dài 10 – 15 cm,

rộng 4,0 – 4,5 cm, có 12 đơi gân

lá. Mép lá có răng cưa đều và kéo

dài đến chóp lá. Góc lá lớn, trên

tơm có nhiều lơng tơ trắng mịn.

Khả năng phân cành mạnh. Năng Hình 4.13 Búp chè TB14 gồm 1 tơm và 2 lá thật (P + 2)

suất cao (17 – 18 tấn/ha). Chất

lượng tốt. Hiện nay là giống chè cành chủ lực tại Lâm Đồng.



155



Chương 16: KỸ THUẬT SẢN XUẤT CÂY CON BẰNG PHƯƠNG PHÁP

GIÂM CÀNH

16.1



Chuẩn bị vườn chè giống



Có hai loại vườn giống: vườn giống chính quy và vườn chè lưu. Thực tế hiện nay cho thấy

khơng có sự khác biệt lớn giữa vườn giống chính quy và vườn chè lưu.

16.1.1



Vườn giống chính quy



Vườn giống chính quy là vườn chè cành chuyên để thu hoạch cành giống.

Địa điểm thiết kế vườn chè giống phải đáp ứng đủ những yêu cầu về đất đai, khí hậu. Cũng

lưu ý bố trí gần đường giao thông và ở trung tâm khu vực trồng chè.

Vườn giống chính quy cung cấp cành phải được trồng bằng cành của các dòng chè đã được

chọn lọc kỹ (năng suất cao, phẩm chất tốt, thích nghi với vùng ). Nếu sau này khơng sản xuất hom

giống nữa, có thể đốn và chăm sóc thành vườn chè sản xuất búp bình thường.

Khoảng cách trồng: có thể trồng với khoảng cách 1,75 x 0,60 m, 1 – 2 cây con đủ tiêu

chuẩn/hốc. Theo Denis Bonheure, có thể bố trí cây giống với khoảng cách 1,2 x 1,2 m; có

thể trồng kiểu bình thường hay nanh sấu.

Phân bón: sử dụng phân bón cân đối, đúng kỹ thuật, đúng liều lượng, đúng thời gian cho

cây làm giống; có xu hướng tăng cường phân P, K, giảm lượng N ( thừa N: cành giâm ra rể kém,

lá dể bị rụng):

- Phân hữu cơ: được sử dụng để bón lót trước khi trồng (bón vào khoảng tháng 12, 1).

Lượng dùng: 30 tấn/ha. Ở các năm sau: hai năm bón phân hữu cơ một lần, lượng dùng 20

tấn/ha và bón vào đầu vụ.

- Phân vơ cơ: thường dùng 200kg sulfat ammon, 200kg KCl, chia làm các lần bón:

. Chè dưới 3 tuổi: bón 2 lần/năm, bón vào các tháng 2 và 8;

. Chè trên 3 tuổi: bón 4 lần/năm, vào các tháng 2, 5, 8 và 10.

Các chăm sóc khác: làm cỏ, phòng trừ sâu bệnh: triệt để, đúng lúc, đúng phương pháp.

Đốn tạo hình: kỹ thuật đốn tạo hình cho chè chuyên cung cấp cành giống:

- Cuối năm I (không kể thời gian vườn ươm): khơng đốn mà chỉ cắt tỉa tạo hình;



156



- Cuối năm II: đốn ở độ cao 25cm;

- Cuối năm III: đốn ở độ cao 30 – 35cm.

- Các năm sau, mỗi năm đốn cao hơn năm trước 5cm.

- Thời vụ đốn: đốn chậm hơn so với vườn sản xuất, thường đốn vào tháng 2, sau khi cắt

hom vào tháng 1.

Mỗi năm có thể thu cành giống 2 lần vào các tháng 1 và 7. Nên bấm ngọn ( 1 tôm + 1 - 2 lá )

trước khi cắt cành để tập trung dinh dưỡng cho cành giống, đồng thời kích thích các mầm

nách phát động.

- Ở vụ Đơng Xn, sau khi thu hom giống vào tháng 1, tiến hành đốn vào tháng 2. Sau đó, ở

đợt cành đầu tiên, hái tỉa 1 – 2 lần những búp to, cao ở giữa tán, để lại 1 – 2 lá chừa. Không

hái các búp ở mép tán.

- Vụ Hè Thu, tương tự vụ Đông Xuân, tức là sau khi cắt cành vào tháng 7, tiến hành đốn nhẹ

cho bằng tán, rồi cũng hái tỉa 1 – 2 đợt những búp to, cao ở giữa tán, búp ở mép tán không

hái.

16.1.2



Vườn chè lưu

Từ những vườn chè cành đang hái

búp, chọn vườn chè tốt (chọn các giống

đã được khuyến cáo: TB 14, LĐ97…) sinh

trưởng đồng đều, ít sâu bệnh, năng

suất cao; ngưng hái búp và tiến hành

chăm sóc theo hướng chè giống.



Trước khi thu hoạch cành giống, phải

tiến hành đốn chè và chăm sóc, quản

lý như với vườn giống chính quy.

Hình 4.11 Vườn giống chè lưu tại Trung tâm Nghiên cứu

và chuyển giao kỹ thuật Cây Cơng nghiệp và Cây ăn quả

Quy trình chăm sóc vườn chè giống

Lâm Đồng



lưu theo khuyến cáo của Cơng ty

Chè Lâm Đồng



- Phân bón: nên bón phân hữu cơ 2 năm/lần với lượng dùng 15 – 20 tấn/ha; phân vơ cơ,

NPK, bón theo tỷ lệ 1:1,2:0,8 (ví dụ: 300kg N – 360kg P2O5 – 240kg K2O).



157



- Đốn ở độ cao 70 – 75cm vào tháng 12 – 2.

- Các biện pháp chăm sóc khác như ở vườn chè giống chính quy.

16.2



Vườn ươm cành



Có hai loại vườn ươm:

- Vườn ươm cổ điển: hom chè được

giâm trên luống đất, nên còn được

gọi là vườn ươm cố định. Ngày nay,

vườn ươm cổ điển hầu như khơng

còn được sử dụng.

- Vườn ươm tiến bộ: hom chè giống Hình 4.12 Bụi chè PH1 được ngưng hái búp để tạo cành

được giâm trực tiếp vô bầu đất nên giống tại Trung tâm Nghiên cứu và chuyển giao kỹ thuật

còn gọi là vườn ươm di động. Ưu Cây Công nghiệp và Cây ăn quả Lâm Đồng

điểm chủ yếu của loại vườn ươm này

là: đất vườn ươm được chuẩn bị đúng yêu cầu, loại trừ khâu đánh bầu tốn công lại tổn hại

đến cây con, di chuyển cây con dễ dàng. Hiện nay chủ yếu người ta sử dụng kiểu vườn ươm

này.

16.2.1



Chọn vị trí xây dựng vườn ươm



- Vườn ươm được bố trí ở những vùng có điều kiện khí hậu thích hợp đối với cây chè (có

ánh sáng đầy đủ, ẩm độ khơng khí khá cao, gió khơng q lớn…). Ở vùng núi, tránh những

vùng trũng, có nhiệt độ q thấp vào mùa Đơng; tránh nơi đầu gió vì dễ làm để giàn, lay gốc

hom.

- Khu vực làm vườn ươm phải gần nguồn nước, gần diện tích chè sắp trồng mới, gần đường

vận chuyển.

- Nên chọn đất đỏ hay vàng có cấu tượng tốt, ít chất hữu cơ; pH = 4,5 – 6,0; không bị nhiễm

mầm sâu bệnh; mực nước ngầm dưới 1m (không cần thiết nếu cắm hom vào bầu). Một số

nơi, để đảm bảo cho giâm cành thành công, người ta phải chở đất từ nơi khác đến để làm

vườn ươm.

- Độ dốc không quá 5o.



158



16.2.2



Thiết kế giàn che



Giàn che có tác dụng điều tiết ánh sáng, nắng, mưa, gió trong vườn ươm; giữ nhiệt độ và ẩm

độ khơng khí thích hợp cho sự phục hồi và sinh trưởng của hom giống. Ngoài ra, giàn che

cũng giúp bảo vệ cây con khỏi sự phá hại của gia súc, gia cầm hay một số tác động cơ giới

khác của con người.

Tùy khả năng kinh phí, trình độ kỹ thuật và vật liệu tại chổ, có thể làm giàn che với nhiều

quy mô khác nhau, bằng nhiều vật liệu khác nhau (lưới polythene đen, tranh, phên – cót…).

u cầu chung là phải lợp kín cả khu vực vườn ươm và che kín xung quanh, nhưng phải

thuận tiện và chủ động điều chỉnh ánh sáng. Xu hướng hiện nay thường làm giàn che bằng

lưới polythene để thông thống và khỏi tốn cơng cất dỡ sau này (nhưng chi phí đầu tư sẽ cao).

Xét về độ cao, có 3 loại giàn che:

giàn cao, thấp và sát đất.

- Giàn cao: chiền cao của giàn che

cao 1,5 – 1,8 m trở lên. Ưu điểm: dễ

dàng đi lại dưới giàn. Nhược: phải

sử dụng cột chống to, chắc  tốn

kém, chi phí cao (tuy có thể dùng 2

– 3 vụ). Thường giàn che cao được

Hình 4.13 Một kiểu vườn ươm chè cành

xây dựng cho toàn vườn ươm. Kiểu

giàn che này được sử dụng phổ biến hiện nay tại Lâm Đồng.

- Giàn thấp: thường là giàn che cho

từng luống riêng rẽ; chiều cao giàn

chỉ đạt 1,0 – 1,2m. Ưu điểm: ít tốn

nguyên liệu  giá rẻ; ít đỗ ngã, dễ

điều khiển ánh sáng. Nhược điểm: đi

lại, các thao tác chăm sóc khó khăn.

Kiểu giàn che này hiện nay ít được

sử dụng.

- Giàn sát đất: được xây dựng cho

từng luống riêng biệt, chỉ cao 0,5 – Hình 4.14 Vườn ươm chè cành tại Trung tâm Nghiên cứu



và chuyển giao kỹ thuật Cây Công nghiệp và Cây ăn quả

Lâm Đồng



Hình 4.13 Một kiểu giàn che vườn ươm chè cành



159



0,6m; chưa phổ biến ở Việt Nam do thấp  hầm (nhiệt độ và ẩm độ trong giàn che cao) 

hom chè dễ bị chết.

Ngoài ra, trong từng điều kiện sản xuất cụ thể, còn có một số loại giàn đặc biệt khác được

áp dụng một cách linh động tùy điều kiện từng vùng (giàn một mái, lều cọc sắt, bồ giâm

cành, bể giâm cành…).

Phổ biến trong sản xuất hiện nay ở vùng chè Lâm Đồng là các loại giàn che cao bằng lưới

polythene đen.

Bên dưới giàn che, vườn ươm cần được chia ơ với kích thước hợp lý để dễ quản lý, chăm

sóc, đi lại và vận chuyển (kích thước mỗi luống khơng q 1,2 m x 20,0m). Có thể kết hợp

phân ơ với đào rãnh tưới và tiêu nước.

16.2.3 Chuẩn bị môi trường giâm

Như đã trình bày ở trên, hom chè

giống có thể được giâm trên liếp

giâm hay giâm trong túi polythene,

nhưng những yêu cầu cơ bản về môi

trường giâm cành gần như giống

nhau:

- Nên chọn đất cát pha sét, tơi xốp,

hàm lượng chất hữu cơ thấp.

- Đất chua, pH thích hợp từ 4,5 –

5,0; có thể làm giảm pH đất bằng

sulphate nhơm (15 – 20 g.m-2); khơng dùng đất có pH > 5,5.



Hình 4.15 Chuẩn bị đất vô bầu



Cắm hom chè trên liếp ươm

- Trong thực tế hiện nay hầu như người ta không còn giâm cành chè bằng cách này.

- Nếu là đất mới khai hoang thì cần cày ải trước 3 tháng, còn đất đã được khai hoang từ

trước thì chỉ cần cày sâu 25 – 30cm, bừa nhỏ rồi lên luống theo hướng Đông - Tây ( để tránh

nắng hai bên luống). Kích thước luống: cao 15 – 20cm, mặt luống rộng 120cm, chiều dài luống

tùy theo kích thước vườn ươm, rãnh luống rộng 60cm. Tuy nhiên, để tiện chăm sóc, chiều

dài của luống không nên dài quá 20m. Yêu cầu: sau khi lên luống xong, mặt luống phải

bằng phẳng, đất mặt luống phải có kết cấu tốt, tơi xốp, nhỏ, mịn.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Thời vụ thu hoạch

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×