Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Nội dung của phương pháp

Nội dung của phương pháp

Tải bản đầy đủ - 0trang

143



- Giám định được cá thể  có thể tích lũy và cũng cố các biến dị tốt nên có khả năng tạo ra

được giống mới.

- Nếu các đặc tính được chọn lọc

chỉ có lợi cho mục đích sử dụng của

con người (khơng có lợi cho sinh

trưởng phát triển, duy trì nòi

giống… của cây trồng) thì chọn lọc

cá thể có hiệu quả tốt hơn so với

chọn lọc hỗn hợp.



Hình 4.6 Phương pháp lựa chọn cá thể



Giống

tiêu

chuẩn



Quần thể

nguyên

thủy



Nhược điểm

- Vì phải tiến hành chọn lọc từng

cây, theo từng dòng nên phương

pháp này phức tạp, tốn nhiều công.



- Dể đưa đến hiện tượng giao phối gần (vì chè là cây giao phấn)  ảnh hưởng đến sức sống

của giống.

Trong sản xuất, thường lựa chọn cá thể được kết hợp với phương pháp giâm cành.

15.6



Nhân giống chè bằng hạt



Hiện tại và trong tương lai, để đảm bảo độ đồng đều của vườn chè (ảnh hưởng đến năng

suất, phẩm chất), người trồng chè được khuyến cáo sử dụng cây con nhân giống vơ tính:

bằng phương pháp giâm cành, ghép cây.

Tuy nhiên trước mắt, dù khơng được khuyến khích, song ở một số vùng ở nước ta, người

dân vẫn trồng chè bằng hạt chủ yếu vì khả năng đầu tư còn yếu và chưa đồng bộ. Ngồi ra,

chè con trồng bằng hạt còn là gốc ghép non để sản xuất cây chè ghép, phục vụ cho trồng

mới ở những vùng đất khô hạn, thiếu nước.

Tùy điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội, trình độ và kỹ thuật canh tác, có thể trồng mới chè

bằng hạt theo một trong hai phương thức: gieo hạt qua vườn ươm rồi đem cây con trồng ra

ngoài ruộng sản xuất hay có thể gieo hạt trực tiếp trên ruộng sản xuất.

15.6.1



Gieo hạt ở vườn ươm rồi đem cây con ra trồng ở ruộng sản xuất



144



Trong vườn ươm (thiết kế vườn ươm tương tự như trong giâm chè cành ), tùy điều kiện cụ thể,

người ta có thể gieo hạt trên luống ươm rồi sau đó bứng cây con ra trồng hoặc có thể gieo



Hình 4.7 Cây chè con nảy mầm từ hạt



hạt thẳng vào bầu đất (thường là bầu nylon). Tuy nhiên gieo hạt trong bầu đất sẽ có nhiều

thuận lợi hơn.

Một số ưu điểm của phương pháp

- Tiết kiệm hạt giống.

- Tiện lợi cho chăm sóc và quản lý tốt cây con. Cây con xuất vườn tốt, khỏe, đều.

- Có thể lưu cây con lại vườn ươm để đợi chuẩn bị đất hoặc dự trữ cho trồng dặm.

- Cung cấp cây giống để giặm vào khoảng khuyết cây ở vườn chè trồng mới hoặc phục hồi

lại những vườn chè già.



145



Một số nhược điểm của phương pháp

- Tốn công làm vườn ươm, chăm sóc vườn ươm tỉ mỹ, đòi hỏi người dân phải có vốn và

trình độ kỹ thuật nhất định.

- Phải tốn nhiều công vận chuyển cây con ra trồng trên ruộng sản xuất.

- Nếu gieo hạt trên luống rồi bứng đi trồng thì tỷ lệ chết cao hơn do bể bầu, đứt rễ.

- Giá thành cây con cao  chi phí đầu tư trồng mới lớn.

- Trong thời gian đầu trồng mới ra ruộng sản xuất, đòi hỏi phải chăm sóc kỹ (tưới nước, giữ

ẩm, che nắng, trừ cỏ, phòng trừ sâu bệnh…) thì tỷ lệ sống của cây chè con mới cao, ít mất

khoảng.

15.6.2



Gieo thẳng hạt giống ra ruộng sản xuất



Hạt chè được gieo trực tiếp ra ruộng sản xuất theo hàng hoặc theo hốc đã chuẩn bị sẳn ( xem

thêm ở phần trồng mới).

Một số ưu điểm của phương pháp

- Kỹ thuật đơn giản, dễ thực hiện, ít tốn cơng quản lý, chăm sóc cây con,

- Giá thành cây giống thấp  chi phí đầu tư ban đầu cho trồng mới thấp.

Nhược điểm của phương pháp

Gieo hạt trực tiếp ra vườn sản xuất tốn nhiều hạt giống, nếu khơng chăm sóc tốt thì tỷ lệ mất

khoảng lớn (do cây con không được bảo vệ, mà phát triển trực tiếp trong điều kiện tự nhiên

của vườn).

Hiện nay, trong kỹ thuật trồng mới chè bằng hạt, phần lớn đều áp dụng phương thức gieo

thẳng hạt ra ruộng sản xuất.

15.6.3



Chọn vườn cung cấp hạt giống



Hạt chè giống có thể được thu từ các vườn chè sau:

Vườn chè sản xuất

Người ta có thể thu hạt giống từ các vườn chè sản xuất búp. Tuy nhiên số lượng hạt giống

thu được ít, chất lượng khơng cao. Hệ số nhân giống của vườn chè sản xuất chỉ đạt 2 – 4.



146



Để tăng sản lượng và chất lượng quả giống trên vườn chè đang sản xuất búp, cần tăng

cường các biện pháp kỹ thuật chăm sóc và dinh dưỡng theo chiều hướng thúc đẩy q trình

sinh trưởng sinh thực, tích lũy dinh dưỡng cho hoa và quả chè: nuôi nhiều cành lá ( để số lá

chừa nhiều hơn), bón thêm cân đối lân và kali, giảm bón phân đạm và giảm số lần thu hái cuối

năm.

Vườn chè lưu

Từ vườn chè đang kinh doanh, chọn những vườn chè tốt, hoặc những cây chè tốt, ngưng

không hái búp, để lưu lại thành những cây chè giống. Khi khơng còn nhu cầu thu hạt giống

thì có thể đốn lại để thu hái búp như những vườn chè kinh doanh bình thường. Năng suất và

chất lượng hạt giống thu được từ những vườn giống này tốt hơn từ vườn sản xuất. Hệ số

nhân giống của vườn chè lưu là 4 – 6.

Ưu điểm của kiểu vườn giống này là nhanh chóng xây dựng được vườn chè giống, hệ số

nhân giống khá và sau khi hết nhiệm vụ làm giống, có thể nhanh chóng chuyển lại thành

vườn chè sản xuất kinh doanh bình thường.

Nhược điểm của phương pháp: giống chè còn nhiều lẫn tạp nên chất lượng hạt giống không

cao lắm.

Vườn chè chuyên để thu hạt giống

Ở nước ta chủ trương trồng chè chuyên để thu hạt giống đã có từ thời Pháp (Du Pasquier),

nhưng đến nay chỉ vài nơi có vườn chè chuyên cung cấp trái giống, song cũng chưa phải là

những vườn chè giống được chọn lọc đúng quy trình.

15.6.4



Kỹ thuật chăm sóc vườn chè chuyên thu hạt giống



Do mục đích chính của các vườn chè này là cung cấp hạt giống với năng suất và chất lượng

tốt, nên các biện pháp kỹ thuật canh tác đều phải lưu ý đến đặc điểm này. Một số đặc điểm

chính trong kỹ thuật chăm sóc vườn chè chuyên thu hạt như sau:

- Vườn chè chuyên thu hạt giống phải được bố trí cách vườn chè sản xuất búp ít nhất 1 km,

có thể có 10 – 15% số cây chuyên thụ phấn.

- Nên trồng thưa. Khoảng cách trồng có thể là 2,0 x 1,5 m hoặc 2,5 x 3,0 m tuỳ từng điều

kiện, đặc điểm sinh trưởng của cây.



147



- Khi cây còn non (dưới 5 tuổi), nên tỉa bỏ hết nụ để tạo điều kiện cho cây sinh trưởng dinh

dưỡng tốt.

- Đốn lần 1 khi cây khoảng 2 tuổi, đốn cách mặt đất 30cm. Đốn lần 2 cách lần đốn đầu tiên

khoảng 2 – 3 năm; Trong lần đốn thứ 2, chủ yếu là tỉa bỏ những cành yếu, nhỏ, những cành

nằm sát mặt đất.

- Quả chè thường tập trung ở giữa cây trở xuống và ở ngồi tán, chủ yếu là trên cành ngắn

(85%). Chè khơng đốn cho trái nhiều hơn gấp 3 lần đốn, nhưng chất lượng kém. Mặt khác,

trái cao, khó thu hoạch.

- Phân bón: tăng cường bón phân kali và lân, bón làm 2 đợt trong một năm, vào tháng 3 – 4

(khi đốn tỉa cành) và vào tháng 6 – 7 (khi hình thành chồi nụ), lưu ý khơng bón đạm sau

tháng 8.

- Phòng trừ sâu bệnh hại, cỏ dại, trong đó cần lưu ý các loại sâu hại quả, bọ xít…

- Có thể ni ong hoặc tiến hành thụ phấn nhân tạo bổ sung để tăng tỷ lệ thụ phấn và đậu

quả. Thời gian thụ phấn tốt nhất là khi hoa nở rộ (tháng 11).

- Thụ phấn nhân tạo nên tiến hành khi trời quang. Lấy phấn hoa từ 1 – 2 ngày trước ở những

cây giống tốt (có thể là những cây trồng chuyên để lấy phấn): buổi sáng hái những hoa sắp

nở đưa về phòng, chờ khi hoa nở thì rủ hoa lấy phấn, bảo quản hạt phấn ở nhiệt độ khoảng 5

– 8oC, ẩm độ khơng khí thấp (trong điều kiện này, hạt giống có thể được bảo quản trong 7 – 15 ngày );

lưu ý tránh ánh sáng trực xạ.

Về cơ bản, các biện pháp kỹ thuật chăm sóc ( phân bón, bảo vệ thực vật, thụ phấn bổ sung ) cho

vườn chè lưu tương tự như ở vườn chuyên thu hạt giống.

15.6.5



Thu hoạch quả chè giống



Do hạt chè chín sinh lý trước chín hình thái, lại dễ mất sức nảy mầm (2), nên việc xác

định tiêu chuẩn quả chín có ý nghĩa lớn trong việc xác định thời điểm thu hoạch nhằm nâng

cao năng suất, chất lượng và tỷ lệ nảy mầm của hạt giống.

Những biểu hiện của quả – hạt chè chín

- Vỏ quả chuyển từ màu xanh sang nâu xám, vỏ mỏng và khô.

- Vỏ sành của hạt có màu nâu đen sẩm.

2



Xem chương II.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Nội dung của phương pháp

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×