Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
I. Mô tả tình huống:

I. Mô tả tình huống:

Tải bản đầy đủ - 0trang

- Nông trường Sông Hậu được lãnh đạo Tỉnh Cần Thơ đề nghị và Thủ

Tướng Chính Phủ chọn thành lập KHU SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP ỨNG

DỤNG CÔNG NGHỆ CAO với mục đích ứng dụng các cơng nghệ tiên tiến trong

sản xuất nông nghiệp nhằm đạt hiệu quả kinh tế cao, vừa bảo đảm chất lượng, giá

cả và môi trường sinh thái, bảo đảm xây dựng nền sản xuất nông nghiệp bền vững,

đồng thời có thể nhân rộng các kết quả ứng dụng công nghệ cao trong sản xuất

nông nghiệp ra cho tồn vùng.

+ Trung tâm sản xuất giống bò sữa và bò thịt

+ Trung tâm sản xuất giống thủy sản sạch.

+ Trung tâm sản xuất giống gỗ rừng trồng bằng phương pháp Mô Hom.

Sau khi thành lập Nông trường, nông dân trở về nơi cư trú và được chính

quyền địa phương cấp đất để sản xuất theo bình quân nhân khẩu ở địa phương để

ổn định cuộc sống. Nhưng từ đầu năm 1989 đến nay, tình hình ruộng đất trong nội

bộ nơng dân có nhiều biến động, một bộ phận nơng dân có đất trực canh ở nơng

trường trước đây đã được chính quyền địa phương giao đất ở nơi cư trú dần dần bị

chủ cũ lấy lại hoặc tự thỏa thuận giao lại cho chủ cũ dẫn đến một số bà con nơng

dân khơng còn đất hoặc còn ít đất sản xuất, cuộc sống không đảm bảo. Năm 1990

đến nay nơng dân có đất trực canh ở nơng trường gởi đơn khiếu nại, yêu cầu các

nội dung sau:

- Trả lại đất cũ theo chứng khốn của chính quyền ngụy;

- Giải tán nông trường;

- Cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng ruộng đất cho họ.

Các hộ tập trung thành từng đoàn đến các cơ quan Nhà nước ở Trung ương,

thành phố, nông trường liên tục đấu tranh. Thực tế dưới đây là diễn biến một vụ

khiếu kiện về đất đai điển hình ở Nơng trường Sơng Hậu đã được các cơ quan

chức năng xem xét giải quyết nhưng vẫn còn khiếu nại cho đến hiện nay:

Bà Nguyễn Thị Hà, sinh năm 1947. Hiện đăng ký thường trú tại ấp 1, xã

Thới Hưng, huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ.

Trước năm 1975 Bà Hà có sở hữu một phần đất ruộng diện tích 05 ha, tọa

lạc tại phường Thới Thạnh, quận Ô Môn, thành phố Cần Thơ.

Nông trường Sông Hậu được thành lập từ tháng 4 năm 1979 theo Quyết định

số 33/QĐ-UBT của Ủy ban nhân dân tỉnh Cần Thơ với diện tích tự nhiên là 3.450

ha. Đến năm 1984, theo Quyết định số 47/QĐ-UBT sát nhập thêm 50% phần diện

tích còn lại của Nơng trường Quyết Thắng đưa tổng diện tích lên 6981,5 ha. Sau

này Nơng trường Sơng Hậu có bàn giao theo Quyết định của UBND tỉnh Cần Thơ

cho Thới Lai và phần diện tích xây dựng Đài VN2, nên diện tích hiện nay chỉ còn

6.924,78 ha. Phần đất của Bà Hà nằm trong diện tích quy hoạch Nơng trường.

Do những ứng dụng kỹ thuật canh tác tiên tiến nên từ năm 1987 -1991 Nơng

trường đã chuyển tồn bộ diện tích lúa 1 vụ năng suất thấp lên lúa 2 vụ năng suất

cao từ 6-8 tấn/ha/năm, đến nay năng suất đạt 11-12 tấn/ha/năm. Giá lúa lúc bấy giờ

5



tăng cao, sản xuất lúa đạt hiệu quả cao, mức sống của Nông trường viên đi lên rõ

nét. Từ nguyên nhân này, những hộ có nguồn đất mua của chế độ cũ quay lại tranh

chấp, đòi đất cũ của họ. Họ đưa ra chứng thư cấp quyền sở hữu của chế độ cũ để

làm cơ sở đòi đất, trong đó có hộ của bà Nguyễn Thị Hà.

Trước tình hình trên, Thành ủy Cần Thơ, UBND thành phố Cần Thơ đã kịp

thời chỉ đạo về công tác giải quyết ruộng đất, khằng định giữ vững nông trường

quốc doanh, tập trung chỉ đạo nâng cao hiệu quả kinh tế hơn nữa trong sản xuất

kinh doanh; nâng dần uy tín và vai trò nòng cốt của các đơn vị quốc doanh trong

sản xuất nông nghiệp.

Ban hành các Quyết định giải quyết đất đai tại Nông trường nhằm tiếp nhận

các hộ có đất trực canh ở thời điểm thành lập Nông trường mà hiện nay không đất

hoặc ít đất vào nhận đất sản xuất bằng hình thức khoán hoặc chi trả thành quả lao

động để họ tự lo ổn định cuộc sống, cụ thể: Ban hành Quyết định số 882/QĐUBT.93 ngày 03/4/1993 của UBND tỉnh về việc giải quyết đất ở Nông trường

Sông Hậu.

Ngày 25/01/2005, UBND thành phố Cần Thơ ban hành Quyết định số

24/QĐ.UBT và giải quyết cho 1.021 hộ có đất gốc được ưu tiên hợp đồng nhận

khoán. Căn cứ Quyết định trên và tinh thần Quyết định số 882/QĐ.UBT.93, qua

xem xét Nông trường đã giải quyết cho bà Hà hợp đồng sản xuất số 3070 với diện

tích 2,20 ha; và giải quyết bồi hồn thành quả lao động phần diện tích 2,80 ha

nhưng Bà Hà chưa nhận thành quả lao động.

Ngày 28/01/2006, bà Nguyễn Thị Hà gửi đơn khiếu nại đến UBND thành

phố Cần Thơ và các cơ quan Trung ương với nội dung đòi lại đất gốc 5 ha và cấp

giấy chứng nhận quyền sử dụng đất như mọi công dân.

Ngày 14/3/2006, UBND thành phố Cần Thơ ban hành Quyết định số

3440/QĐ-CT.UB với nội dung bác đơn khiếu nại của bà Nguyễn Thị Hà, cư ngụ ấp

1, xã Thới Hưng, huyện Cờ Đỏ, tỉnh Cần Thơ (cũ) về việc đòi lại 5 ha đất gốc của

gia đình trong quy hoạch Nơng trường Sơng Hậu và đòi cấp quyền sử dụng đất.

Giao Giám đốc Nông trường Sông Hậu mời bà Hà lập thủ tục chi trả thành quả lao

động về ruộng đất diện tích 2,8 ha, nếu khơng đồng ý thì lập biên bản và làm thủ

tục gởi số tiền chi trả thành quả lao động về ruộng đất cho bà Hà vào ngân hàng.

Mọi việc tưởng như đã được giải quyết ổn thỏa, nhưng được một thời gian

khá lâu, do tác động của một số phần tử xấu, đến ngày 22/4/2013, bà Hà cùng một

số hộ dân đến cơ quan tiếp công dân – Thanh tra thành phố khiếu nại đòi đất gốc,

Thanh tra thành phố đã chuyển đơn về cho UBND thành phố Cần Thơ xem xét giải

quyết.

Sau đó đến các ngày 13/5/2013, ngày 15/5/2013, bà Hà lại cùng một số hộ

dân tiếp tục đến cơ quan tiếp công dân – Thanh tra thành phố khiếu nại đòi đất gốc,

Thanh tra thành phố đã chuyển đơn về cho UBND thành phố Cần Thơ xem xét giải

quyết.



6



Ngày 28/7/2013, bà Nguyễn Thị Hà gửi đơn khiếu nại đến UBND thành phố

Cần Thơ với nội dung đòi lại đất gốc 2,8 ha mà Nơng trường đã chi trả thành quả

lao động nhưng bà Hà chưa nhận.

II. Xác định mục tiêu xử lý tình huống:

Giải quyết đúng quy định pháp luật, đúng trình tự, thời gian, đúng thẩm

quyền. Giải quyết tình hình trên cơ sở Kết luận số 2372/KL-LNCP của Đồn cơng

tác liên ngành Chính phủ và các quy định, quyết định hiện hành của thành phố.

Cố gắng giảm xuống đến mức thấp nhất sự xáo trộn đời sống Nông trường

viên và hoạt động sản xuất kinh doanh của Nông trường.

Không để phát sinh thành điểm nóng gây mất ổn định tình hình chính trị xã

hội tại địa phương.

Phưong án giải quyết khả thi.

III. Phân tích nguyên nhân và hậu quả:

1. Nguyên nhân:

Thực hiện Nghị quyết 10/BCT của Bộ Chính trị về đổi mới cơ chế quản lý

kinh tế nông nghiệp; Chỉ thị 47/BBT của Ban Bí thư Trung ương nhằm sửa sai

trong chính sách cải tạo nơng nghiệp như xáo canh, xóa ranh, cào bằng, cắt xâm

canh,…Một số địa phương thực hiện chưa tốt dẫn đến nhiều hộ nơng dân có đất

trước đây do quy hoạch xây dựng Nông trường đã được địa phương cấp đất sản

xuất ở nơi cư trú, bị chủ cũ lấy lại hoặc thỏa thuận giao lại dẫn đến không có đất

hoặc có ít đất sản xuất, khơng đảm bảo cuộc sống.

Từ khi có chủ trương mới, đặc biệt là sau khi Luật đất đai sửa đổi, bổ sung

có hiệu lực (15/10/1993), trong đó giao cho người sử dụng 05 quyền, góp phần

thúc đẩy sản xuất phát triển, nhưng cũng làm phát sinh nhiều vấn đề phức tạp như:

tình trạng chuyển dịch đất đai dưới nhiều hình thức nhưng khơng quản lý chặt làm

cho giá đất tăng cao, tranh chấp đất đai diễn ra liên tục trong nội bộ nông dân và

lây lan cả nông trường.

Ruộng đất ở nông trường đã được cải tạo hồn chỉnh, giao thơng thủy lợi

thuận tiện (giao thông thông suốt hai mùa mưa nắng, chủ động gieo xạ không sợ

rủi ro), sản xuất nông nghiệp luôn đạt năng suất và hiệu quả cao, điều kiện sản xuất

như cây con giống, phương tiện sản xuất luôn được đảm bảo,.. là sức hấp dẫn đối

với nông dân, tác động mạnh mẽ đến ý thức tư hữu, từ đó dân đòi lại đất để sản

xuất.

Một bộ phận nơng dân chưa thông suốt Luật đất đai, các quy định về quản lý

của đơn vị quốc doanh nông nghiệp, lợi dụng vào đó những kẻ xấu ( khơng loại trừ

địch), trích đoạn các văn bản của Đảng và Nhà nước giải thích một cách phiến

diện, sai lệch, méo mó, xun tạc,..để kích động nơng dân đấu tranh đòi lại đất gốc,

giải tán Nông trường, vu khống bộ đội dùng vũ lực chiếm đất, nhằm chống lại chủ

trương của Đảng và Nhà nước giữ các Nơng trường làm ăn có hiệu quả.

Nơng trường có nhiều cố gắng trong giải quyết tranh chấp đất đai và tổ chức

sản xuất kinh doanh, tích cực đổi mới cơ chế quản lý, cơ chế khoán nhưng cơng tác

7



quản lý đất đai còn thiếu chặt chẽ, để tình trạng sang bán, cầm cố lén lút xảy ra mà

chưa kịp thời xử lý đã tạo nguyên cớ cho nông dân khiếu nại.

Việc thực hiện quy chế dân chủ ở Nông trường chưa cao để Nông trường

viên thông suốt và tự giác thực hiện.

Việc đòi lại đất đã trải qua nhiều thời kỳ với nhiều cơ quan, nhiều cấp khác

nhau nhưng vụ việc chưa được giải quyết triệt để dẫn đến khiếu nại kéo dài đã làm

cho tính chất vụ việc phức tạp thêm.

2. Hậu quả:

Việc các hộ dân tập trung đông người tại các cơ quan nhà nước ở thành phố

và Trung ương gây mất an ninh trật tự, tốn kém công sức, thời gian và tiền bạc của

Nhà nước, nhân dân. Mặc khác, việc khiếu kiện kéo dài, đi lại nhiều nơi ảnh hưởng

đến cuộc sống của người dân.

Trong cơng tác quản lý đất đai còn buông lỏng (nhất là ở các Đội sản xuất),

chưa thường xuyên theo dõi, kiểm tra chặt chẽ dẫn đến tình trạng sang nhượng,

mua bán đất Nông trường trái với Nghị định 01/CP ngày 04/01/1995, theo đó Nơng

trường viên là người ký hợp đồng nhận khoán chỉ được quyền sử dụng đất. Tính từ

năm 1995 đến nay đã có hơn 262 trường hợp mua bán đất với diện tích khoảng 550

ha. Điều này đã một phần làm giảm lòng tin của nhân dân.

Việc khiếu nại đòi lại đất gốc khơng đúng quy định của Pháp luật của một số

hộ dân đã làm ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh của Nơng trường.

Một số hộ có đất gốc tại Nơng trường có những hành vi bao chiếm đất của

các hộ hiện đang được Nông trường cho hợp đồng sản xuất, gây thiệt hại sản xuất

và tâm lý không an tâm sản xuất của các hộ này.

Việc thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở chưa tốt, một số người dân chưa am

hiểu hoặc hiểu sai các quy định của Nhà nước, bị kẻ xấu lơi kéo, kích động gây

mất đoàn kết trong nội bộ của nhân dân và làm giảm lòng tin đối với Đảng và Nhà

nước.

IV. Xây dựng các phương án giải quyết:

Từ diễn biến sự việc trên và căn cứ các quy định của Nhà nước, của địa

phương, tơi xin nêu nhận định cá nhân và có các phương án giải quyết như sau:

1. Xây dựng phương án:

a. Phương án 1:

Căn cứ Điều 42 về Bồi thường, tái định cư cho người có đất bị thu hồi của

Luật đất đai năm 2003, giải quyết theo Quyết định số 3440/QĐ-CT.UB ngày

14/3/2006 với nội dung: Bác đơn khiếu nại của bà Nguyễn Thị Hà – cư ngụ tại ấp

1, xã Thới Hưng, huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ về việc đòi lại 5 ha đất gốc của

gia đình trong quy hoạch Nơng trường Sơng Hậu và đòi cấp quyền sử dụng đất.

Giao Giám đốc Nông trường Sông Hậu mời bà Hà lập thủ tục chi trả thành quả lao

động về ruộng đất diện tích 2,8 ha, nếu khơng đồng ý thì lập biên bản và làm thủ

tục gởi số tiền chi trả thành quả lao động về ruộng đất cho bà Hà vào ngân hàng.

8



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

I. Mô tả tình huống:

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×