Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
1 Cách tuyển dụng nhân tài của người xưa

1 Cách tuyển dụng nhân tài của người xưa

Tải bản đầy đủ - 0trang

thực sinh động phải có nhiều nguồn lực, vốn liếng, của cải, phải có rất nhiều người

tài đức, tức là nhân tài, hiền tài tham gia vào công cuộc kiến thiết chế độ.

Khơng có nguồn lực, nguồn vốn, của cải, tài sản nào quý hơn, quan trọng hơn là

vốn người, nguồn lực con người, tài nguyên con người, “tư bản” người. Nói rộng

ra đó là chất lượng con người Việt Nam trong cộng đồng dân tộc, trong các thế hệ

nối tiếp nhau. Tinh hoa ưu tú trong lực lượng người đông đảo ấy là những nhân tài

ở mọi lĩnh vực hoạt động, mọi nghề nghiệp, mọi cấp độ phát triển xã hội.

Muốn phát triển và hưng thịnh thì phải có nhiều người tài giỏi, hơn nữa phải sử

dụng và trọng đãi họ sao cho xứng đáng.

Trong quản lý và điều hành cơng việc quốc gia, phải coi lãng phí nguồn lực con

người là lãng phí lớn nhất. Để mai một nhân tài là gây ra thiệt hại lớn nhất, làm suy

yếu chính thể nhanh nhất. Đất nước sẽ đánh mất triển vọng phát triển, xã hội sẽ tự

làm hao mòn động lực phát triển nếu để xảy ra tình trạng nhân tài không được sử

dụng, không được tôn trọng. Cứ nhìn vào thái độ ứng xử và sự thi hành chính sách

đối với dân chúng, đặc biệt là đối với trí thức của những người cầm quyền trong bộ

máy cơng quyền và trong chính giới nói chung mà người ta có thể thấy tính chất và

hiện trạng của nhà nước và xã hội sẽ như thế nào.

Có thể nói, tuyển dụng, sử dụng nhân tài có hệ thống và quy củ ở nước ta bắt

đầu từ thời nhà Lý. Năm 1070, vua Lý Thánh Tông đã cho xây dựng trường đại

học đầu tiên, đó là Văn Miếu - Quốc Tử Giám. Lúc đầu, Văn Miếu - Quốc Tử

Giám chỉ đào tạo người tài trong số con em tầng lớp quý tộc, sau đó, đào tạo những

người thi tuyển tài năng và đỗ đạt của mọi tầng lớp nhân dân, không phân biệt địa

vị xã hội, sang hèn. Đến năm 1075, vua Lý Nhân Tông mở khoa thi Minh kinh bác

học đầu tiên để tuyển chọn nhân tài ra làm quan (Lê Văn Thịnh là người đỗ Tiến sỹ

đầu tiên trong kỳ thi này).

Phương pháp tuyển chọn nhân tài bằng thi cử ở Việt Nam bắt đầu từ thời nhà Lý

và kéo dài đến thời nhà Nguyễn (đầu thế kỷ XX). Cùng với Trường Quốc Tử Giám

(để đào tạo văn quan), còn có các Giảng Võ đường để đào tạo võ quan. Các võ

quan cũng thường tham gia các kỳ thi tài theo định kỳ. Năm 1721, chúa Trịnh

Cương (1709 - 1729) lập ra Trường Võ học; năm 1724, lần đầu tiên tổ chức thi

tuyển võ. Người đỗ cao nhất được gọi là1 Tạo sỹ (Quận cơng Hồng Đình Bảo đỗ



đầu bảng trong kỳ thi đầu tiên này) và hình thức thi tuyển võ này tồn tại cho đến

thời vua Tự Đức (1847 - 1883) nhà Nguyễn.

Đối với các triều đại phong kiến Việt Nam, tuyển chọn nhân tài có nhiều cách,

nhưng việc tuyển chọn tốt nhất, công bằng nhất là tổ chức các khoa thi. Các khoa

thi được tổ chức thường xuyên, ngày càng nghiêm túc và chặt chẽ; trở thành cơ chế

tuyển chọn nhân tài chủ yếu cho bộ máy cai trị ở trung ương và các cấp địa

phương. Dưới triều Lê sơ, khoa cử đã được quy định tương đối hồn chỉnh. Cách

ba năm có một kỳ thi. Mỗi kỳ thi, thí sinh phải qua ba hoặc bốn đợt thi (gọi là tam

trường hay tứ trường): đợt một thi kinh nghĩa; đợt hai thi chiếu, chế, biểu; đợt ba

thi thơ, phú; đợt bốn thi văn sách.

Để tỏ lòng yêu mến “kẻ sỹ”, nhiều ông vua phong kiến Việt Nam đã đề ra các

chính sách khác nhau để khuyến khích, động viên việc học. Những người thi đỗ

trong các kỳ thi Hội, thi Đình đều được triều đình ban cấp mũ áo, được vinh quy

bái tổ, khắc bia tiến sỹ và được bố trí những chức quan tương xứng.

Gần mười thế kỷ khoa cử trong lịch sử hành chính nhà nước Việt Nam (từ khoa

thi Nho học đầu tiên dưới triều Lý năm 1075 đến khoa thi cuối cùng dưới triều

Nguyễn năm 1919), đã có 118 kỳ thi Hội, thi Đình, tuyển chọn được 2.898 tiến sỹ,

trong đó có 48 người đỗ trạng nguyên, 48 bảng nhãn và 78 thám hoa[3]. Trong số

đó, có nhiều nhà chính trị, ngoại giao, giáo dục, văn hóa... nổi tiếng.

Ngồi hình thức thi tuyển, ơng cha ta còn sử dụng hình thức tiến cử nhằm

khơng để sót nhân tài, vì lý do nào đó đã khơng thể tham gia các kỳ thi. Thực hiện

hình thức tuyển chọn quan lại này, nhiều ơng vua đã ban “Chiếu cầu người hiền

tài”, khuyến khích các quan lại tiến cử người tài. Để khắc phục tình trạng quan lại

“tiến cử bừa” nhằm tạo phe cánh và tham nhũng, các ông vua quy định, nếu quan

lại nào tiến cử đúng người hiền tài thì được triều đình khen thưởng, ngược lại thì bị

phạt rất nặng.

Nhờ có lòng u kẻ sỹ, trọng dụng nhân tài mà khơng ít vua quan ở nước ta đã

không ngần ngại cất nhắc, sử dụng nhân tài, khơng căn cứ vào hồn cảnh xuất thân

và địa vị xã hội sang - hèn của họ.

Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, chính quyền mới do Chủ tịch Hồ Chí

Minh lãnh đạo đã có nhiều chính sách để thu hút nhân tài. Chủ tịch Hồ Chí Minh

đã tự viết “Chiếu cầu người hiền tài”, kêu gọi mọi người, các địa phương tiến cử

1



người hiền tài cho Chính phủ. Trong khi vừa đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ công chức



mới, Người đã mạnh dạn sử dụng nhiều nhân sỹ, trí thức yêu nước phục vụ cho nhà

nước cách mạng. Trong số họ, có nhiều người đã từng học tập, làm việc ở nước

ngồi, có người đã từng tham gia bộ máy của chế độ cũ, như ông Nguyễn Văn

Huyên, Tạ Quang Bửu, Đặng Văn Ngữ, Lương Đình Của, Vũ Đình Hòe, Trần Đại

Nghĩa, Huỳnh Thúc Kháng... Họ đã có những cống hiến to lớn cho sự nghiệp cách

mạng của dân tộc.



2.1 Thu hút và trọng dụng nhân tài ngày nay

Tiếp tục phát huy truyền thống đại đoàn kết dân tộc, trọng dụng nhân tài, trong

đó: “Hồn thiện hệ thống cơ chế, chính sách phát hiện, đào tạo, bồi dưỡng và sử

dụng nhân tài đáp ứng yêu cầu cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” [4], đặc

biệt, trước xu thế mới hiện nay, Đảng và Nhà nước ta xác định rõ hơn trong việc

xây dựng chiến lược quốc gia về nhân tài, coi đây là giải pháp quan trọng hàng đầu

trong việc thực hiện chiến lược cán bộ.

Xây dựng chiến lược quốc gia về nhân tài là một cơng việc khó khăn và phức

tạp, đòi hỏi cần có “cái tâm, cái tầm” của người lãnh đạo. Để chiến lược thu hút và

sử dụng nhân tài ở nước ta hiện nay đi đúng hướng và ngày càng phát huy hiệu

quả, cần:

Thứ nhất, thống nhất về mặt nhận thức đối với vai trò, vị trí của nhân tài.

Thống nhất nhận thức của đội ngũ cán bộ, công chức (CBCC), nhất là cán bộ

lãnh đạo, quản lý cấp cao về tầm quan trọng đặc biệt của việc xây dựng và thực

hiện chính sách nhân tài trong thời đại ngày nay là một việc rất quan trọng. Thực

hiện được nhiệm vụ này, cần phải coi việc phát hiện và sử dụng nhân tài phục vụ

cho sự nghiệp cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước là trách nhiệm của tồn xã

hội, trước hết là của lãnh đạo Đảng và Nhà nước ở trung ương cũng như ở địa

phương, đồng thời, phải có chính sách đồn kết, tập hợp rộng rãi những người có

tài, có đức, khơng phân biệt họ là người trong Đảng hay ngoài Đảng, người trong

nước hay người Việt Nam định cư ở nước ngồi; những người có đức, có tài, có

tâm huyết đối với quê hương, đất nước đều phải được trọng dụng, khắc phục tư

tưởng thành kiến, hẹp hòi, phân biệt đối xử.

Khuyến khích mọi CBCC phát hiện và tiến cử người tài trong xã hội. Đề cao

trách nhiệm phát hiện, sử dụng nhân tài của

1 người đứng đầu các tổ chức, cơ quan,



đơn vị, đồng thời, quy định rõ trách nhiệm của họ trong việc tuyển chọn, bố trí, sử

dụng nhân tài, tạo áp lực cạnh tranh thu hút và sử dụng người tài giữa các tổ chức,

cơ quan, đơn vị, tức là tạo ra “cầu” thật sự về nhân tài.

Thứ hai, áp dụng các hình thức để phát hiện và thu hút nhân tài.

Thực tế cho thấy, tuyển được nhân tài đã khó, nhưng việc giữ được nhân tài còn

khó khăn hơn nhiều, đặc biệt trong bối cảnh cạnh tranh nhân tài từ khu vực ngoài

nhà nước vốn rất năng động và nhiều cơ hội như hiện nay. Do đó, cần xây dựng

chính sách phát hiện, thu hút, sử dụng nhân tài một cách đồng bộ, hợp lý và cần

thực hiện theo một quy trình thống nhất, liên hoàn gồm nhiều khâu: Phát hiện, đào

tạo, bồi dưỡng, bố trí, sử dụng, trong đó sử dụng vừa là mục tiêu vừa là động lực

của quy trình phát triển tài năng. Bên cạnh đó, cần kiện tồn tổ chức bộ máy và

nâng cao năng lực của các cơ quan làm công tác cán bộ; quy định rõ hơn nữa trách

nhiệm của người lãnh đạo trong việc phát hiện, đào tạo và sử dụng nhân tài. Sử

dụng tổng hợp các phương pháp phát hiện nhân tài như kiểm tra nền tảng học vấn,

kinh nghiệm; xem xét lời giới thiệu của các cá nhân, tổ chức có uy tín và trách

nhiệm; tổ chức kiểm tra, sát hạch về khả năng nhận thức, về năng lực, sở trường;

kết hợp nhiều hình thức phỏng vấn khác nhau như phỏng vấn tình huống; phỏng

vấn hành vi; phỏng vấn bằng các câu hỏi duy lý; phỏng vấn tạo áp lực...

Nghiên cứu, xây dựng chính sách thích hợp để thu hút được những nhân tài tiềm

năng như sinh viên tốt nghiệp các trường đại học danh tiếng ở trong nước và trên

thế giới; những người sớm bộc lộ các năng khiếu đặc biệt trong các lĩnh vực hoạt

động cụ thể...

Thứ ba, thực hiện đúng đắn chính sách bổ nhiệm, đề bạt cơng chức lãnh đạo.

Chú trọng công tác bổ nhiệm công chức lãnh đạo thông qua thi tuyển cạnh

tranh, công khai, dân chủ nhằm tạo động lực và sự quan tâm của nhân tài. Áp dụng

chính sách “tiến cử” và “tự tiến cử”; quy định rõ trách nhiệm của người tiến cử;

cơng khai hóa người tiến cử và nhân tài được tiến cử để xã hội có điều kiện giám

sát. Xây dựng các tiêu chí đánh giá cán bộ và quy trình đề bạt cán bộ. Các tiêu chí

đánh giá cán bộ phải cụ thể, căn cứ chủ yếu vào tài đức của họ, gắn với nhiệm vụ,

vị trí cơng việc được giao, sát hợp với yêu cầu, đặc điểm của cơ quan, đơn vị, đồng

thời, phải áp dụng quy trình đề bạt, thử thách nhân tài rõ ràng, công khai, minh

bạch. Bổ nhiệm, đề bạt phù hợp với năng lực, trình độ để vừa phát huy được tối đa

1



tài năng của nhân tài, vừa giúp nhân tài tiếp tục phát triển và cống hiến.



Thứ tư, có chế độ đãi ngộ, trọng dụng nhân tài một cách thỏa đáng.

Ngồi nhu cầu bình thường trong sinh hoạt hàng ngày, CBCC còn tích cực

nghiên cứu khoa học. Nhiều cơng trình nghiên cứu nhiều khi chưa được xã hội

chấp nhận ngay. Đã có khơng ít phát minh khoa học của họ chỉ được thừa nhận khi

họ đã nghỉ hưu, thậm chí khi khơng còn sống. Chính vì vậy, chế độ đãi ngộ đối với

người tài phải rất khác so với những người bình thường.

Để thu hút nhân tài cần cải cách mạnh mẽ chế độ tiền lương của đối tượng này

nhằm đảm bảo cuộc sống của họ ở mức khá so với mức sống của các tầng lớp khác

trong xã hội, thu nhập của họ không thấp hơn thu nhập của những người có cùng

trình độ, năng lực làm việc ở khu vực tư; có chính sách hỗ trợ về nhà ở và các

phương tiện làm việc cần thiết. Nhà nước cần xem xét thành lập Quỹ nhân tài, đồng

thời, có chính sách hỗ trợ để người tài có thể tham gia các hội thảo khoa học, các

khóa học nâng cao ở trong nước và ngồi nước.

Thứ năm, tạo môi trường thuận lợi để nhân tài phát huy tài năng.

Nhà nước cần tạo môi trường và điều kiện làm việc thuận lợi cho CBCC như

khơng khí làm việc dân chủ, công khai; điều kiện làm việc đầy đủ, phương tiện

thông tin nhanh, kịp thời; đảm bảo cho nhân tài có quyền tự chủ, tự chịu trách

nhiệm cá nhân; quyền tự do tư duy, phát triển ý tưởng khoa học.

Muốn thu hút được người tài, điều kiện quan trọng nhất là Đảng, Nhà nước phải

tuyển chọn được người đứng đầu các cơ quan nhà nước thật sự có tài, có đức, có

tâm.

Kẻ bất tài thường có tầm nhìn ngắn, cách nghĩ cạn, có thói quen ích kỷ, hẹp hòi, đố

kỵ, khó có thể đồng cảm, đồng điệu, tri âm, tri kỷ được với những người tài. Khi

người lãnh đạo bất tài thường sẽ không muốn sử dụng những người tài vì sợ người

tài lấn át “cái danh” của mình và đến một lúc nào đó, họ sẽ chiếm mất “ghế” quyền

lực; nên người lãnh đạo bất tài sẽ chọn kẻ giúp việc theo kiểu “ngưu tầm ngưu, mã

tầm mã”. Như vậy, mơi trường tồn những kẻ bất tài thì chắc chắn chất lượng và

hiệu quả cơng việc sẽ rất yếu kém.

Thứ sáu, tơn vinh, đề cao vị trí xã hội của nhân tài.

Có rất nhiều biện pháp để tơn vinh, đề cao vị trí xã hội của nhân tài. Xưa kia,

những người thi đỗ tiến sỹ, thám hoa, bảng nhãn, trạng nguyên đều được lưu danh

vào bia tiến sỹ, được nhà vua ban tặng mũ, áo và lệnh cho quê hương, bản quán

1



của họ phải tổ chức các lễ nghi khi các tân khoa “vinh quy bái tổ”. Những người đỗ



đạt cao đều được bố trí vào những vị trí quan trọng trong bộ máy nhà nước.

Đến nay, việc tôn vinh đề cao nhân tài đang được phát huy và có tác dụng lớn

như vừa qua, thành phố Hà Nội tổ chức long trọng lễ tuyên dương 112 thủ khoa

xuất sắc đại diện cho 50 trường đại học, cao đẳng trên tồn thành phố với sự có

mặt của nhiều đồng chí lãnh đạo cao cấp của Đảng và Nhà nước tại Văn Miếu Quốc Tử Giám. Đây là một tín hiệu đáng mừng trong việc tơn vinh, đề cao vị trí xã

hội của nhân tài.

Thứ bảy, thành lập cơ quan chuyên trách để thực hiện chiến lược thu hút và sử

dụng nhân tài.

Muốn thu hút được người hiền tài thì phải có chính sách cụ thể của Đảng và

Nhà nước chứ khơng thể tùy thuộc vào chính sách “chiêu hiền đãi sỹ” của từng địa

phương như hiện nay. Chính phủ cần thiết phải thành lập một cơ quan chuyên trách

trực thuộc Bộ Nội vụ (có thể là Vụ đào tạo, bồi dưỡng tài năng) để thực hiện chiến

lược thu hút, đào tạo và sử dụng nhân tài. Cơ quan chuyên trách này chịu trách

nhiệm nghiên cứu, xây dựng và tổ chức thực hiện chính sách nhân tài thống nhất từ

trung ương đến địa phương, đồng thời, cũng phải có đủ thẩm quyền và nguồn tài

chính để triển khai các công việc cần thiết; kết hợp với các cơ quan, tổ chức có liên

quan để giải quyết các vấn đề nảy sinh trong quá trình đào tạo và sử dụng nhân tài.

Ngoài cơ quan trực thuộc Bộ Nội vụ, ở các tỉnh và thành phố lớn trong cả nước cần

có các văn phòng đại diện để trực tiếp theo dõi và thực hiện chính sách quan trọng

này.

Thứ tám, mở rộng và nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế.

Việc Nhà nước cử những sinh viên ưu tú đi đào tạo ở các học viện và các

trường đại học danh tiếng trên thế giới là một hướng đi đúng, cần được phát huy.

Thu hút nhân tài là người nước ngoài, Việt kiều đang sinh sống và làm việc ở các

nước là một chính sách quan trọng để Việt Nam hòa nhập và phát triển mạnh mẽ

hơn trong những năm tới.

Chính sách thu hút và trọng dụng nhân tài của cha ông ta đang được Đảng, Nhà

nước ta ngày nay tiếp tục vận dụng, phát huy. Tuy nhiên, trước tình hình mới, để

đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, chính sách

thu hút và trọng dụng nhân tài cần phải có những quyết sách mới phù hợp hơn và

có hiệu quả hơn./.



1



2. MỘT SỐ GIẢI PHÁP VỀ VẤN ĐỀ SỬ DỤNG NHÂN LỰC HIỆN NAY



Trong sự nghiệp xâ dựng và bảo vệ đất nước,chúng ta rất cần đội ngũ những người

giỏi

về quản lý, có nghề, thạo việc chuyên sâu. Việc mở trường lớp dạy học, đào tạo,

bồi dưỡng cán bộ quản lý, chuyên môn, thợ giỏi là việc làm bắt buộc, thường

xuyên và là nhân tố đầu tiên để có lớp thầy giỏi, thợ giỏi,. Các nước tiên tiến có

trình độ khoa học kỹ thuật cao đi trước chúng ta vài chục năm kinh nghiệm cũn đào

tạo theo quy chuẩn trường lớp: Thầy dạy, trò học. Vấn đề là dạy như thế nào? Học

như thế nào? Nhưng ta còn khác họ ở chỗ đó.

Nói về nhân lực là chuyện đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng con người. Đây là các khâu

khép kín trong quá trình học tập và tu dưỡng rèn luyện, làm việc và cống hiến của

mỗi người lao động trong xã hội. Vì thế mối quan hệ tương tác giữa chủ thể khách

thể ở mỗi khâu (như nhà trường, ngành giáo dục - đào tạo, cơ quan, đơn vị địa

phương và người quản lý sử dụng lao động, chủ doanh nghiệp, hệ thống tổ chức

cán bộ, cơ quan chủ quản) có tác động rất lớn đến khâu đào tạo bồi dưỡng sử dụng

lao động.

Trong hệ thống giáo dục- đào tạo, các cấp học, ngành học phải thực hiện thật tốt 3

nhiệm vụ: Nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài đây là nhiệm vụ

thường xuyên, lâu dài, mang tính chiến lược phục vụ sự nghiệp cơng nghiệp hóa

hiện đại hóa đất nước mà sứ mạng này giao cho ồn hệ thơng chính trị và cả xã hội

cùng làm chứ không phải là công việc riêng của ngành giáo dục đào tạo. vì giáo

dục là sự nghiệp của tồn dân. Cả nước cả dân tộc chung tay chung sức nâng cao

dân trí. Mở mang trí tuệ qua các hệ thống đào tạo bồi dưỡng, xây dựng xã hội học

tập.

Xã hội học tập xây dựng xã hội học tập chính là tạo môi trường là mảnh đất màu

mỡ để phát triển sự nghiệp giáo dục tồn dân. Vì thế chúng ta rất cần phải xác định

thật chuẩn phương hướng nhiệm vụ quy mơ đào tạo các loại hình lao động để cung

cấp cho xã hội nguồn nhân lực có chất lượng cao, tạo tiền đề phát triển kinh tế tri

thức phụ vụ sự nghiệp các mạng thời kỳ mới.

Việc sử dụng lao động cũng là vấn đề bức xúc xã hội. Lớp trẻ khơng khỏi toan tính

học gì? Học nghề gì? Nhưng khó khăn vất vả bội phần là học xong để được làm gì?

Làm ở đâu? Cũng khơng thể trách cứ thanh niên thời nay là thực dụng bởi “cơm áo

1



khơng đùa với khách thơ” “có mới vực được đạo” Mỗi người phải biết tự ni



sống mình và gia đình thì mới tồn tại và phục vụ xã hội “Dụng nhân như dụng

mộc”chính là ở chỗ này. Chất lượng nguồn nhân lực có được khai thức đúng lúc,

đúng chỗ, đúng đối tượng để “gỗ nào vào việc ấy”, mọi người mới phát huy hết sở

trường sở đoản phục vụ xã hội.

III. Kết luận

Lịch sử tồn tại và phát triển của dân tộc ta, trải qua bao thăng trầm trước mọi cuộc

xâm lăng với những tên đế quốc sừng sỏ nhất vẫn trường tồn và phát triển cho đến

ngày nay là do nhiều yếu tố, trong đó khơng thể đề cập đến chính sách sử dụng và

trọng dụng nhân tài của người xưa.

Ngày nay trong xu thế hội nhập và phân cơng lao động gày càng sâu sắc và tồn

diện giữa nước ta với phần còn lại của thế giới, trong mơi trường cạnh tranh gay

gắt thì việc sử dụng và trọng dụng nhân tài không hề giảm đi ý nghĩa của nó mà

ngược lại,nó mang tầm vóc mới là yếu tố quan trọng trong cạnh tranh , đưa nước ta

đuổi kịp các nước có nền kinh tế phát triển trong khu vực và thế giới. Để sớm đưa

nước ta thoát khỏi các nước kém phát triển và trở thành một nước phát triển như đã

đề cập ở trên sánh vai với các cường quốc năm châu như thành một yêu cầu bức

xúc toàn diện cách mạng và triệt để.

“Dụng nhân như dụng mộc” với hàm ý khơng có người nào là vô dụng chỉ cần sử

dụng đúng người đúng việc thì sẽ phát huy hiệu quả con người đó. Câu châm ngơn

trên từ xưa cho đến nay vẫn còn nguyên giá trị và là bài học sâu sắc mà ông cha ta

để lại



1



.



1



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

1 Cách tuyển dụng nhân tài của người xưa

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×