Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Quy trình xây dựng bài học

Quy trình xây dựng bài học

Tải bản đầy đủ - 0trang

Mức 1: Giáo viên đặt vấn đề, nêu cách giải quyết vấn đề. HS thực hiện cách

giải quyết vấn đề theo hướng dẫn của giáo viên. Giáo viên đánh giá kết quả làm việc

của HS.

Mức 2: Giáo viên nêu vấn đề, gợi ý để HS tìm ra cách giải quyết vấn đề. HS

thực hiện cách giải quyết vấn đề với sự giúp đỡ của giáo viên khi cần. Giáo viên và HS

cùng đánh giá.

Mức 3: Giáo viên cung cấp thông tin tạo tình huống có vấn đề. HS phát hiện và

xác định vấn đề nảy sinh, tự đề xuất các giả thuyết, giải pháp và lựa chọn giải pháp.

HS thực hiện giải pháp để giải quyết vấn đề. Giáo viên và HS cùng đánh giá.

Mức 4: HS tự lực phát hiện vấn đề nảy sinh trong hồn cảnh của mình hoặc

cộng đồng, lựa chọn vấn đề cần giải quyết. HS giải quyết vấn đề, tự đánh giá chất

lượng, hiệu quả, có ý kiến bổ sung của giáo viên khi kết thúc.

Ví dụ: Địa hình là một trong những thành phần quan trọng nhất của mơi trường

địa lí tự nhiên, đồng thời cũng là thành phần bền vững nhất tạo nên diện mạo cảnh

quan trên thực địa. Địa hình tác động mạnh đến các thành phần khác của tự nhiên như

phân phối lại nhiệt, ẩm của khí hậu, điều tiết dòng chảy của sơng ngòi…. Vì vậy muốn

nắm được đặc điểm của tự nhiên Việt Nam thì trước hết phải hiểu biết về địa hình.

Địa hình Việt Nam rất đa dạng, phức tạp, thay đổi từ bắc tới nam, từ đông sang

tây, từ miền núi đến đồng bằng, bờ biển, thềm lục địa, các đảo và quần đảo. Đặc điểm

của địa hình nước ta phản ánh rõ lịch sử phát triển địa chất, sự tác động của các yếu tố

ngoại lực trong mơi trường nóng ẩm, gió mùa, q trình phong hóa diễn ra mạnh mẽ.

Địa hình thấp dần theo hướng Tây Bắc - Đông Nam, được thể hiện rõ qua hướng chảy

của sơng ngòi.

Đồi núi chiếm phần lớn diện tích, nhưng chủ yếu là đồi núi thấp. Địa hình thấp

dưới 1.000 m chiếm tới 85% lãnh thổ. Núi cao trên 2.000 m chỉ chiếm 1% diện tích cả

nước. Vùng đồi núi của nước ta rất hiểm trở, bị chia cắt bởi một mạng lưới sơng ngòi

dày đặc. Tuy nhiên, miền núi lại có nhiều thế mạnh về khống sản, đất trồng và tiềm

năng thủy điện.

Tương phản với miền núi là vùng đồng bằng, tuy chỉ chiếm ¼ diện tích nhưng

có địa hình bằng phẳng, đất đai màu mỡ thuận tiện cho việc quần cư và phát triển kinh

tế, nhất là nông nghiệp. Tuy nhiên, giữa miền núi và đồng bằng lại có mối quan hệ vơ

cùng mật thiết

Sự sắp xếp nội dung các tiết dạy trong chương trình chưa thật sự khoa học:

Trong chương trình Địa lí 12, Bài 6 học về các đặc điểm chung của địa hình và địa

hình các khu vực đồi núi, Bài 7 tiếp tục học về các khu vực địa hình đồng bằng và

đánh giá ảnh hưởng của địa hình đồi núi đến sự phát triển kinh tế, xã hội, đánh giá ảnh

hưởng của địa hình khu vực đồng bằng đến sự phát triển kinh tế xã hội, đến Bài 13

thực hành đọc bản đồ địa hình để củng cố kiến thức về địa hình Việt Nam. Sự sắp xếp

như vậy chưa thật sự lô gic và chưa tạo điều kiện thuận lợi cho việc tổ chức các hoạt

động học tập.

Việc sắp xếp lại kiến thức của các Bài 6, 7, 13 thành chuyên để học tập tạo điều

kiện cho việc tổ chức các hoạt động học tập được tiếp nối nhau thành một chuỗi các

12



hoạt động, từ việc nghiên cứu "cái chung" (đặc điểm chung của địa hình nước ta) đến

nghiên cứu "cái riêng" minh chứng cho cái chung (các khu vực địa hình và những tác

động của nó đối với phát triển kinh tế xã hội) sẽ làm cho mạch kiến thức được lô gic

hơn, đồng thời sau khi học tập HS được luyện tập củng cố kiến thức, kĩ năng đã được

học.

2.2. Bước 2: Xây dựng nội dung chủ đề bài học

Căn cứ vào tiến trình sư phạm của phương pháp dạy học tích cực được sử dụng

để tổ chức hoạt động học cho HS, từ tình huống xuất phát đã xây dựng, dự kiến các

nhiệm vụ học tập cụ thể tiếp theo tương ứng với các hoạt động học của HS, từ đó xác

định các nội dung cần thiết để cấu thành chủ đề bài học. Lựa chọn các nội dung của

chủ đề từ các bài/tiết trong sách giáo khoa của một mơn học hoặc/và các mơn học có

liên quan để xây dựng chuyên đề dạy học.

Ví dụ: Đối với bài học nói trên, nội dung bài học gồm:

1. Đặc điểm chung của địa hình

- Địa hình đồi núi chiếm phần lớn diện tích nhưng chủ yếu là đồi núi thấp

- Cấu trúc địa hình khá đa dạng:

- Địa hình của vùng nhiệt đới ẩm gió mùa.

- Địa hình chịu tác động mạnh mẽ của con người.

2. Các khu vực địa hình

a. Khu vực đồi núi: gồm 4 vùng núi Đông Bắc, Tây Bắc, Trường Sơn Bắc, Nam

Trường Sơn.

- Vùng núi Đông Bắc

- Vùng núi Tây Bắc

- Vùng núi Trường Sơn Bắc

- Vùng núi Trường Sơn Nam

− Địa hình bán bình nguyên và đồi trung du

- Thế mạnh và hạn chế đối với phát triển kinh tế - xã hội

b. Khu vực đồng bằng

- Đồng bằng châu thổ sông gồm đồng bằng sông Hồng và đồng bằng sông Cửu

Long.

− Đồng bằng ven biển.

- Thế mạnh và hạn chế đối với phát triển kinh tế - xã hội.

Đối với HS học khá giỏi, GV có thể bổ sung thêm nội dung, để HS tự nghiên

cứu mở rộng kiến thức.

3. Mối quan hệ giữa địa hình với các thành phần tự nhiên khác.

4. So sánh đặc điểm địa hình của các khu vực: đồi núi; đồng bằng.

2.3. Bước 3: Xác định mục tiêu bài học

Xác định chuẩn kiến thức, kĩ năng, thái độ theo chương trình hiện hành và các

hoạt động học dự kiến sẽ tổ chức cho HS theo phương pháp dạy học tích cực, từ đó

xác định các năng lực và phẩm chất có thể hình thành cho HS trong chuyên đề sẽ xây

dựng.

13



Ví dụ: Đối với bài học Địa hình Việt Nam nói trên, Chương trình giáo dục phổ

thơng quy định mức độ cần đạt của HS như sau:

(i) Kiến thức

- Biết được đặc điểm chung của địa hình VN: đồi núi chiếm phần lớn diện tích

đất liền của lãnh thổ nhưng chủ yếu là đồi núi thấp.

- Hiểu được sự phân hóa địa hình đồi núi ở VN, đặc điểm mỗi khu vực địa hình

và sự khác nhau giữa các khu vực đồi núi.

- Hiểu được đặc điểm chung của đồng bằng nước ta và sự khác nhau giữa các

đồng bằng.

- Phân tích được ảnh hưởng của các đặc điểm thiên nhiên các khu vực đồi núi

và đồng bằng đối với phát triển KT-XH.

- Phân tích được mối quan hệ giữa địa hình với các thành phần thự nhiên khác.

- So sánh các khu vực địa hình.

(ii) Kĩ năng

- Sử dụng bản đồ Tự nhiên Việt Nam để trình bày các đặc điểm nổi bật về địa

hình.

- Đọc bản đồ địa hình để xác định được vị trí các dãy núi, đỉnh núi và dòng

sơng, điền, ghi đúng trên lược đồ: dãy Hoàng Liên Sơn, đỉnh Phan-xi-păng, Trường

Sơn,...

(iii) Thái độ

Yêu thiên nhiên Việt Nam và có các tác động phù hợp đối với các dạng địa hình

nhằm đem lại hiệu quả kinh tế cao nhất nhưng không làm tổn hại đến môi trường tự

nhiên.

(iiii) Định hướng năng lực được hình thành

- Năng lực giao tiếp; Năng lực hợp tác trong học tập và làm việc; Năng lực giải

quyết vấn đề; Năng lực tự học

- Tư duy tổng hợp theo lãnh thổ; Năng lực sử dụng bản đồ, biểu đồ, tranh ảnh;

Năng lực khảo sát thực tế.

2.4. Bước 4: Xác định và mô tả mức độ yêu cầu

(nhận biết, thông hiểu, vận dụng, vận dụng cao) của mỗi loại câu hỏi/bài tập có

thể sử dụng để kiểm tra, đánh giá năng lực và phẩm chất của HS trong dạy học.

2.5. Bước 5: Biên soạn các câu hỏi/bài tập

Theo các mức độ yêu cầu đã mô tả để sử dụng trong quá trình tổ chức các hoạt

động dạy học và kiểm tra, đánh giá, luyện tập theo chủ đề đã xây dựng.

Ví dụ: Đối với bài học Địa hình Việt Nam nói trên, việc kiểm tra, đánh giá như

sau:

- Đánh giá bằng nhận xét: Với tiến trình dạy học như trên, chúng ta có thể hình

dung các hoạt động học của HS được diễn ra trong 2 tuần với 3 tiết học trên lớp. Thông

qua quan sát, trao đổi và các sản phẩm học tập của HS, giáo viên có thể nhận xét, đánh giá

được sự tích cực, tự lực và sáng tạo của HS trong học tập:

+ Đánh giá tính tích cực, tự lực của HS: Mức độ hăng hái tham gia phát biểu ý

kiến của HS; Thái độ lắng nghe của HS khi giáo viên gợi ý, hướng dẫn; Mức độ hăng

14



hái thảo luận nhóm của HS để giải quyết nhiệm vụ học tập; Khả năng tập trung, tự lực giải

quyết các nhiệm vụ học tập của mỗi cá nhân; Vai trò của nhóm trưởng trong việc tổ chức

hoạt đơng của nhóm; Trách nhiệm của mỗi thành viên trong nhóm, thể hiện ở trách

nhiệm hồn thành các phần việc được phân công; nêu ý kiến độc lập và tham gia thảo

luận để thống nhất được ý kiến chung; Sự tiến bộ về khả năng hoàn thành nhiệm vụ

của HS sau mỗi tiết học, thể hiện từ chỗ giáo viên phải gợi ý từng bước để HS trả lời

câu hỏi đến việc giáo viên chỉ đưa các nhiệm vụ và hỗ trợ khi thực sự cần thiết; Khả

năng ghi nhớ những điều đã học để có thể trình bày lại nội dung bài học theo ngôn ngữ

riêng và vận dụng được những kiến thức vào thực tiễn; Sự tự tin của HS khi trình bày,

bảo vệ kết quả hoạt động của nhóm trước lớp một cách chặt chẽ, thuyết phục.

+ Đánh giá khả năng sáng tạo, phát hiện và giải quyết vấn đề của HS: Trong

quá trình học tập, HS được thực tế hoạt động phỏng theo con đường nhận thức của nhà

khoa học: đề xuất giả thuyết, dự đốn giải pháp, đề xuất phương án thí nghiệm, phân

tích kết quả thực nghiệm, dự đoán quy luật đồ thị,... Giáo viên có thể đánh giá được

mức độ đáp ứng của HS đối với các hoạt động sáng tạo này thông qua quan sát, nhận

xét sự trải nghiệm hoạt động nhận thức sáng tạo và khả năng “luyện tập” tư duy sáng

tạo, phát hiện và giải quyết vấn đề thông qua học tập theo tiến trình dạy học kể trên.

Như HS đánh giá được các điều kiện vê địa hình miền núi và đồng bằng có thuận lợi

và khó khăn gì cho phát triển kinh tế-xã hội và đời sống, từ đó HS có thể đưa ra các ý

tưởng về giải pháp để khác phục khó khăn nêu trên.

- Đánh giá kết quả học tập của HS: Căn cứ vào các mức độ yêu cầu của câu hỏi,

bài tập được mơ tả trong bảng trên, giáo viên có thể xây dựng các câu hỏi, bài tập

tương ứng để kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của HS. Căn cứ vào mức độ phát triển

năng lực của HS ở từng học kỳ và từng khối lớp, giáo viên và nhà trường xác định tỷ

lệ các câu hỏi, bài tập theo 4 mức độ yêu cầu trong các bài kiểm tra trên nguyên tắc

đảm bảo sự phù hợp với đối tượng HS.

2.6. Bước 6: Thiết kế tiến trình dạy học

Thiết kế tiến trình dạy học chủ đề thành các hoạt động học được tổ chức cho

HS có thể thực hiện ở trên lớp và ở nhà, mỗi tiết học trên lớp có thể chỉ thực hiện một

số hoạt động trong tiến trình sư phạm của phương pháp và kĩ thuật dạy học được sử

dụng. Trong chuỗi hoạt động học, đặc biệt quan tâm xây dựng tình huống xuất phát.

Trong quá trình tổ chức hoạt động dạy học mỗi chuyên đề theo phương pháp

dạy học tích cực, HS cần phải được đặt vào các tình huống xuất phát gần gũi với đời

sống, dễ cảm nhận và các em sẽ tham gia giải quyết các tình huống đó. Trong q trình

tìm hiểu, HS phải lập luận, bảo vệ ý kiến của mình, đưa ra tập thể thảo luận những ý

nghĩ và những kết luận cá nhân, từ đó có những hiểu biết mà nếu chỉ có những hoạt

động, thao tác riêng lẻ khơng đủ tạo nên. Những hoạt động do giáo viên đề xuất cho

HS được tổ chức theo tiến trình sư phạm nhằm nâng cao dần mức độ học tập. Các hoạt

động này làm cho các chương trình học tập được nâng cao lên và dành cho HS một

phần tự chủ khá lớn. Mục tiêu chính của q trình dạy học là giúp HS chiếm lĩnh dần

dần các khái niệm khoa học và kĩ thuật, HS được thực hành, kèm theo là sự củng cố

ngơn ngữ viết và nói. Những u cầu mang tính ngun tắc nói trên của phương pháp

dạy học tích cực là sự định hướng quan trọng cho việc lựa chọn các chuyên đề dạy

học. Như vậy, việc xây dựng các tình huống xuất phát cần phải đảm bảo một số yêu

cầu sau đây:

15



- Tình huống xuất phát phải gần gũi với đời sống mà HS dễ cảm nhận và đã có

ít nhiều những quan niệm ban đầu về chúng.

- Việc xây dựng tình huống xuất phát cần phải chú ý tạo điều kiện cho HS có

thể huy động được kiến thức ban đầu để giải quyết, qua đó hình thành mâu thuẫn nhận

thức, giúp HS phát hiện được vấn đề, đề xuất được các giải pháp nhằm giải quyết vấn

đề.

Tiếp theo tình huống xuất phát là các hoạt động học như: đề xuất giải pháp giải

quyết vấn đề; thực hiện giải pháp để giải quyết vấn đề; báo cáo, thảo luận; kết luận,

nhận định, hợp thức hóa kiến thức...

Ví dụ: Bài học Địa hình Việt Nam nói trên có thể được tiến hành như sau:

TT



Hoạt động



Nội dung

Tình huống xuất phát - đề xuất vấn đề



1



2



3



Chuyển

giao nhiệm

vụ

Thực hiện

nhiệm vụ

Báo cáo,

thảo luận



4

Đánh giá



Cá nhân HS đọc bản đồ địa hình Việt Nam và ghi ra giấy những

nội dung về đặc điểm của địa hình Việt Nam mà mình đọc

được.

HS có thể làm việc cá nhân sau đó trao đổi với bạn bên cạnh về cách

làm và trao đổi kết quả đã tìm tòi được.

Giáo viên cho 01 HS lên bảng ghi lại kết quả đã tìm hiểu được;

gọi một vài HS khác bổ sung. Trên cơ sở đó, GV dắt dẫn vào

nội dung bài học mới

GV quan sát, đánh giá quá trình hoạt động của HS; đánh giá kết

quả cuối cùng của một số HS.



Khi vào bài học mới GV tổ chức các hoạt động học để học sinh tìm hiểu nội dung

của bài học. Tiến trình các hoạt động còn lại được thực hiện như hoạt động khởi động.

Tóm lại, mục tiêu, nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức dạy học và kiểm tra

đánh giá của quá trình giáo dục có liên quan chặt chẽ với nhau nên cần phải đổi mới một

cách đồng bộ, trong đó khâu đột phá là đổi mới kiểm tra, đánh giá theo định hướng

chuyển từ chú trọng kiểm tra kết quả ghi nhớ kiến thức sang coi trọng kết hợp kết quả

đánh giá phong cách học và năng lực vận dụng kiến thức trong quá trình giáo dục và tổng

kết cuối kỳ, cuối năm học để hướng tới phát triển năng lực của HS; coi trọng đánh giá để

giúp đỡ HS về phương pháp học tập, động viên sự cố gắng, hứng thú học tập của các em

trong quá trình dạy học. Việc kiểm tra, đánh giá không chỉ là việc xem HS học được cái gì

mà quan trọng hơn là biết HS học như thế nào, có biết vận dụng khơng.

3. Các hình thức học tập và học tập theo nhóm

3.1. Hoạt động cá nhân

- Là hoạt động yêu cầu học sinh thực hiện các bài tập/nhiệm vụ một cách độc

lập. Loại hoạt động này nhằm tăng cường khả năng làm việc độc lập của học sinh. Nó

16



diễn ra khá phổ biến, đặc biệt là với các bài tập/nhiệm vụ có yêu cầu khám phá, sáng

tạo hoặc rèn luyện đặc thù. Giáo viên cần đặc biệt coi trọng hoạt động cá nhân vì nếu

thiếu nó, nhận thức của học sinh sẽ không đạt tới mức độ sâu sắc và chắc chắn cần

thiết, cũng như các kĩ năng sẽ không được rèn luyện một cách tập trung.

- Ví dụ các hoạt động cá nhân như:

+ HS đọc thầm yêu cầu, ví dụ đọc đoạn thơng tin, quan sát hình,… nêu ý chính

hay trả lời câu hỏi.

+ HS thực hiện yêu cầu, HS cần ghi lại kết quả thực hiện, ví dụ ghi vào vở ý

chính của đoạn thơng tin, kết quả nhận xét hình. GV hướng dẫn HS biết cách ghi ngắn

gọn kết quả đạt được.

+ HS báo cáo kết quả với thày/cô giáo hoặc trao đổi với bạn bên cạnh. Sau khi

HS có kết quả làm việc, các em có thể trao đổi với bạn bên cạnh và góp ý cho nhau về

kết quả hoặc cùng thống nhất kết quả. Với các yêu cầu đơn giản, HS có thể tự thống

nhất kết quả cuối cùng; với yêu cầu phức tạp, GV nên đề nghị một vài HS báo cáo kết

quả, cho một số HS bình luận ý kiến của bạn, sau đó GV chọn ý kiến đúng của HS để

chốt kết quả chung cho cả lớp, giúp các em có kết quả cuối cùng đúng. GV không nên

áp đặt HS ý kiến của mình. Cần ln tạo điều kiện để các em tự tin.

Lưu ý: GV phải bao quát được việc học của HS cả lớp và hỗ trợ HS kịp thời,

cần ưu tiên giúp đỡ cho HS yếu, kém. GV cần nói nhỏ khi hướng dẫn cho cá nhân HS

và nhẹ nhàng khi di chuyển trong lớp.

3.2. Hoạt động theo cặp đôi

- Là những hoạt động nhằm giúp học sinh phát triển năng lực hợp tác, tăng

cường sự chia sẻ và tính cộng đồng. Thơng thường, hình thức hoạt động cặp đôi được

sử dụng trong những trường hợp các bài tập/ nhiệm vụ cần sự chia sẻ, hợp tác trong

nhóm nhỏ gồm 2 em. Ví dụ: kể cho nhau nghe, nói với nhau một nội dung nào đó, đổi

bài cho nhau để đánh giá chéo,…

- Tùy theo hoạt động học tập, có lúc học sinh sẽ làm việc theo cặp trong nhóm.

Giáo viên lưu ý cách chia nhóm sao cho không học sinh nào bị lẻ khi hoạt động theo

cặp. Nếu không, giáo viên phải cho đan chéo giữa các nhóm để đảm bảo tất cả học

sinh đều được làm việc. Làm việc theo cặp rất phù hợp với các cơng việc như: kiểm tra

dữ liệu, giải thích, chia sẻ thông tin; thực hành kĩ năng giao tiếp cơ bản (ví dụ như

nghe, đặt câu hỏi, làm rõ một vấn đề), đóng vai. Làm việc theo cặp sẽ giúp học sinh tự

tin và tập trung tốt vào cơng việc nhóm. Quy mô nhỏ này cũng là nền tảng cho sự chia

sẻ và hợp tác trong nhóm lớn hơn sau này.

- GV yêu cầu 2 HS thực hiện học cặp đôi, 2 HS sẽ cùng làm việc. HS cần thực

hiện những việc sau:

+ HS đọc thầm yêu cầu trong chỉ dẫn của tài liệu. Thường là yêu cầu cùng đọc

thông tin, cùng giải quyết bài tập,….

+ HS thực hiện yêu cầu. Ví dụ: từng HS đọc thơng tin, quan sát hình, sau đó cặp

đơi HS cùng trả lời, làm các bài tập. Trong quá trình giải bài tập, trả lời câu hỏi, hai em

bàn bạc để có chung kết quả làm việc.

- HS báo cáo kết quả với thày/cô giáo hoặc trao đổi với cặp bạn bên cạnh. Lưu

ý: Từng cặp HS đọc lời hội thoại, trao đổi với nhau cũng như GV chỉ dẫn chỉ nói đủ

cho từng cặp nghe để không ảnh hưởng tới cặp bên cạnh.

17



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Quy trình xây dựng bài học

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×