Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
2 Hiệu quả cho vay của Ngân hàng Thương mại

2 Hiệu quả cho vay của Ngân hàng Thương mại

Tải bản đầy đủ - 0trang

Luận văn tốt nghiệp



Học viện Tài chính



lãi. Hiệu quả cho vay được đánh giá dựa vào việc thanh toán gốc, lãi đúng

hợp đồng và sự hợp tác của khách hàng trong thời kì vay vốn.

Đối với Nhà nước: Hiệu quả cho vay được thể hiện ở việc cho vay phục

vụ sản xuất, lưu thơng hàng hóa, góp phần giải quyết công ăn việc làm cho

người lao động, thúc đẩy quá trình tích tụ và tập trung sản xuất, giải quyết tốt

nhất mối quan hệ giữa tăng trưởng cho vay và tăng trưởng kinh tế.

1.2.2.Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả cho vay tại ngân hang thương mại

Để đánh giá thực lực của một Ngân hàng, người ta phải đánh giá và xem

xét đến hiệu quả của hoạt động cho vay. Hiệu quả cho vay là một chỉ tiêu tổng

hợp, nó thể hiện sức mạnh của một Ngân hàng trong quá trình cạnh tranh để

phát triển. Có nhiều chỉ tiêu dùng để đánh giá hiệu quả cho vay, gồm cả các

chỉ tiêu định tính và định lượng.

1.2.2.1Các chỉ tiêu định tính

a) Đánh giá khách quan của khách hàng

Đó là các chỉ tiêu phản ánh hình ảnh Ngân hàng thơng qua cảm nhận của

khách hàng. Đó là những ấn tượng ban đầu khi đến với Ngân hàng, ấn tượng

về sự tiếp đón, về tinh thần, thái độ phục vụ của cán bộ Ngân hàng. Trên thực

tế, sự tiếp đón ban đầu ln tạo nên ấn tượng đầu tiên về hình ảnh Ngân hàng.

Đó có thể là một bãi gửi xe rộng rãi, miễn phí, một trụ sở khang trang, một

khơng gian giao dịch rộng rãi, mát mẻ...Nó tạo nên cảm giác an tâm của

khách hàng khi đến giao dịch với Ngân hàng.

b) Điều kiện chủ quan của ngân hàng

Nếu Ngân hàng có sơ đồ làm việc của các phòng ban, khách hàng sẽ tiết

kiệm được thời gian trong việc tìm kiếm phòng mà mình cần giao dịch, nó tạo

nên thuận lợi cho khách hàng. Cách bố trí, sắp xếp trong phòng làm việc của

Ngân hàng, trang phục của nhân viên...Tất cả đều tạo nên ấn tượng cho khách

hàng.

Sv: Nguyễn Văn An



Lớp: CQ49/15.01



Luận văn tốt nghiệp



Học viện Tài chính



Bên cạnh những yếu tố mang tính hình thức đó là các thủ tục mà Ngân

hàng yêu cầu với khách hàng, là tinh thần phục vụ khách hàng của đội ngũ

cán bộ Ngân hàng. Sự thỏa mãn của mỗi khách hàng phụ thuộc khá nhiều vào

chỉ tiêu này. Mỗi nhân viên khi làm việc với khách hàng, cần thể hiện thái độ

thiện chí trong việc tư vấn, giải đáp mọi thắc mắc cho khách hàng. Đến với

một Ngân hàng, sự phục vụ chu đáo, nhiệt tình, cởi mở của các nhân viên sẽ

khiến cho khách hàng rất hài lòng. Nó tạo điều kiện thuận lợi cho việc xúc

tiến các khoản vay và ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả tín dụng của Ngân

hàng.

1.2.2.2. Các chỉ tiêu định lượng

a) Doanh số cho vay

Là chỉ tiêu phản ánh quy mô cho vay của Ngân hàng đối với nền kinh tế.

Đây là chỉ tiêu phản ánh chính xác, tuyệt đối về hoạt động cho vay trong một

thời gian dài, thấy được khả năng hoạt động tín dụng qua các năm.

b) Tổng dư nợ và kết cấu dư nợ

Chỉ tiêu này cũng có ý nghĩa tương tự như doanh số cho vay nhưng nó

phản ánh quy mơ cho vay của Ngân hàng cho nền kinh tế trong một thời

điểm. Tổng dư nợ bao gồm:Dư nợ cho vay ngắn hạn, trung hạn và dài hạn.

Tổng dư nợ thấp chứng tỏ hoạt động của Ngân hàng yếu kém, khả năng tiếp

thị của Ngân hàng là hạn chế, trình độ cán bộ nhân viên thấp và Ngân hàng

khơng có khả năng mở rộng. Tuy nhiên, không phải chỉ tiêu này càng cao thì

hiệu quả cho vay càng cao, bởi tới một lúc nào đó, khi Ngân hàng cho vay

vượt quá mức giới hạn cũng là lúc Ngân hàng bắt đầu chấp nhận những rủi ro

về cho vay.

Chỉ tiêu tổng dư nợ phản ánh quy mô cho vay của Ngân hàng, sự uy tín của

Ngân hàng. Khi so sánh tổng dư nợ của Ngân hàng với thị phần cho vay của

Ngân hàng sẽ cho chúng ta biết được dư nợ của Ngân hàng là cao hay thấp.

Sv: Nguyễn Văn An



Lớp: CQ49/15.01



Luận văn tốt nghiệp



Học viện Tài chính



Kết cấu dư nợ phản ánh tỉ trọng của các loại dư nợ trong tổng dư nợ.

Phân tích kết cấu dư nợ sẽ giúp Ngân hàng biết được Ngân hàng cần đẩy

mạnh cho vay theo loại hình nào là có lợi nhất.

c) Tỉ lệ nợ quá hạn

Theo QĐ 493 năm 2012 của thống đốc ngân hàng nhà nước thì :”Nợ q

hạn là một phần hoặc tồn bộ nợ gốc hoặc lãi đã quá hạn”.

Tỉ lệ nợ quá hạn là tỉ lệ phần trăm giữa nợ quá hạn và tổng dư nợ của

NHTM ở một thời điểm nhất định, thường là cuối tháng, cuối qúy, cuối năm.

Tỉ lệ nợ



Nợ quá hạn

=



quá hạn



Tổng dư nợ



Nợ quá hạn - Đó là hiện tượng phát sinh từ mối quan hệ cho vay khơng

hồn hảo, khi người đi vay khơng có lí do chính đáng mà vẫn khơng trả nợ

Ngân hàng đúng hạn như đã thỏa thuận trong hợp đồng. Lúc này, khoản vay

sẽ bị chuyển sang nợ quá hạn với lãi suất cao hơn lãi suất bình thường. Trên

thực tế, phần lớn các khoản nợ quá hạn là các khoản nợ có vấn đề, có khả

năng mất vốn. Như vậy, khi tỉ lệ nợ quá hạn càng cao thì NHTM càng có

nguy cơ mất vốn, mất khả năng thanh tốn và giảm lợi nhuận, tức là tỉ lệ nợ

quá hạn càng cao, hiệu quả cho vay càng thấp.

d) Chỉ tiêu nợ xấu



Nợ xấu là các khoản nợ dưới chuẩn, có thể quá hạn và bị nghi ngờ về

khả năng trả nợ lẫn khả năng thu hồi vốn của chủ nợ, điều này thường xảy

ra khi các con nợ đã tuyên bố phá sản hoặc đã tẩu tán tài sản. Nợ xấu gồm

gồm các khoản nợ quá hạn trả lãi và/hoặc gốc trên thường quá ba tháng căn

cứ vào khả năng trả nợ của khách hàng để hạch toán các khoản vay vào các

nhóm thích hợp.

Sv: Nguyễn Văn An



Lớp: CQ49/15.01



Luận văn tốt nghiệp



Học viện Tài chính



Tỉ lệ nợ



Nợ xấu

=



xấu



Tổng dư nợ



Tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ là tỷ lệ để đánh giá chất lượng tín dụng của

ngân hang thương mại. Ngân hàng là ngành kinh doanh rủi ro nên nợ xấu phát

sinh là tất yếu và trong dự tính. Cơng tác xử lý và thu hồi nợ xấu là hoạt động

nghiệp vụ thông thường của ngân hàng.Nếu ngân hàng không có những biện

pháp sẵn sàng để xử lý các khoản nợ này thì sẽ khó tồn tại và phát triển.

e) Chỉ tiêu thu nhập từ hoạt động cho vay

Một khoản cho vay có hiệu quả cao sẽ đem lại một khoản thu nhập cho

Ngân hàng. Nguồn thu từ hoạt động cho vay là nguồn thu chủ yếu để Ngân

hàng tồn tại và phát triển. Lợi nhuận do hoạt động cho vay mang lại chứng tỏ

các khoản vay không những thu hồi được gốc mà còn có lãi, đảm bảo được độ

an toàn của nguồn vốn cho vay.



Tỷ trọng thu nhập từ

hoạt động cho vay



Thu nhập từ hoạt



=



động cho vay

Tổng thu nhập



Một mặt Ngân hàng quan tâm tới việc làm giảm tỉ lệ nợ quá hạn, mặt

khác phải chú trọng tới nguồn thu nhập từ hoạt động cho vay. Duy trì một tỉ lệ

nợ quá hạn thấp mà không tăng được thu nhập từ hoạt động cho vay thì tỉ lệ nợ

q hạn thấp cũng khơng có ý nghĩa. Hiệu quả cho vay được nâng cao chỉ thực

sự có ý nghĩa khi nó góp phần nâng cao khả năng sinh lời của Ngân hàng.



Sv: Nguyễn Văn An



Lớp: CQ49/15.01



Luận văn tốt nghiệp



Học viện Tài chính



f) Chỉ tiêu vòng quay vốn vay

Đây là chỉ tiêu thường được các NHTM tính tốn hàng năm để đánh

giá khả năng tổ chức, quản lý vốn vay và hiệu quả cho vay trong việc đáp ứng

nhu cầu của khách hàng.



Vòng quay vốn vay =



Doanh số thu nợ trong kỳ

Dư nợ cho vay bình quân



Hệ số này phản ánh số vòng chu chuyển của vốn vay. Vòng quay của

vốn vay càng cao càng chứng tỏ nguồn vay Ngân hàng luân chuyển càng

nhanh, tham gia càng nhiều vào chu kỳ sản xuất và lưu thơng hàng hóa. Hệ số

này càng tăng, phản ánh tình hình quản lý vốn vay càng tốt, hiệu quả cho vay

càng cao. Chỉ số này cao trước hết thể hiện khả năng thu nợ tốt. Nó còn thể

hiện hiệu quả cho vay của Ngân hàng. Một đồng vốn khi cho vay được nhiều

lần sẽ đem lại nhiều lợi nhuận hơn. Tuy nhiên, cần xét đến yếu tố quan trọng

là “Dư nợ bình quân”. Khi dư nợ bình qn thấp sẽ làm cho vòng quay lớn

nhưng lại không phản ánh hiệu quả khoản vay là cao bởi thực tế nó thể hiện

khả năng cho vay kém của Ngân hàng. Chỉ tiêu này cần phải được xem xét

với chỉ tiêu “Hiệu suất sử dụng vốn”.

g) Chỉ tiêu hiệu suất sử dụng vốn

Chỉ tiêu này phản ánh cơ cấu cho vay trong tổng nguồn huy động. Nó

xem xét, đánh giá tỉ trọng cho vay đã phù hợp với khả năng đáp ứng về vốn

của bản thân Ngân hàng cũng như của nền kinh tế hay chưa.

Chỉ tiêu này được biểu thị bằng công thức:



Hiệu suất sử dụng vốn =



Sv: Nguyễn Văn An



Tổng dư nợ

Tổng vốn huy động



Lớp: CQ49/15.01



Luận văn tốt nghiệp



Học viện Tài chính



Tỉ lệ này trên thực tế giao động từ 30% đến 100%. Thông thường vào

khoảng trên 80% là tốt, còn nếu dưới hoặc trên mức đó, thậm chí xấp xỉ 100%

có thể sẽ gây ảnh hưởng khơng tốt cho Ngân hàng. Lúc đó tính thanh khoản

của Ngân hàng sẽ bị đe dọa do khối lượng dự trữ không được đảm bảo. Tuy

vậy, để xác định một tỉ lệ thế nào là phù hợp còn phụ thuộc vào kết cấu của

vốn huy động, lĩnh vực Ngân hàng tập trung tài trợ và nhiều nhân tố khác.

1.3.



Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả cho vay tại NHTM

Hoạt động cho vay là hoạt động cơ bản và là hoạt động sinh lời chủ yếu



của một Ngân hàng. Hoạt động cho vay phát triển cũng kéo theo các hoạt

động khác của Ngân hàng phát triển. Vì vậy các Ngân hàng luôn phải chú

trọng đến việc nâng cao hiệu quả cho vay. Có nhiều nhân tố ảnh hưởng đến

hiệu quả cho vay. Bên cạnh những yếu tố chủ quan thuộc về bản thân Ngân

hàng còn có những nhân tố khách quan từ phía khách hàng và các nhân tố

khách quan khác.

1.3.1. Các nhân tố chủ quan

a) Chiến lược kinh doanh dài hạn của Ngân hàng

Đối với một tổ chức kinh tế, việc xây dựng cho mình một Chiến lược

kinh doanh dài hạn là vô cùng quan trọng. Chiến lược kinh doanh dài hạn của

Ngân hàng là Chiến lược hoạt động, gồm nhiều mặt, tập trung vào các hoạt

động kinh doanh để nhằm đạt được hiệu quả cao nhất. Trong Chiến lược kinh

doanh, các nhà quản lý đề ra các định hướng, nguyên tắc hoạt động, các mục

tiêu cần đạt được, các phương pháp tiến hành, từ đó cụ thể hóa bằng các kế

hoạch hành động. Chiến lược kinh doanh ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả cho

vay. Một Chiến lược cho vay đúng đắn và được thực hiện tốt trên cơ sở một

Chiến lược kinh doanh phù hợp sẽ góp phần nâng cao hiệu quả cho vay.

b) Chính sách cho vay của Ngân hàng



Sv: Nguyễn Văn An



Lớp: CQ49/15.01



Luận văn tốt nghiệp



Học viện Tài chính



Chính sách cho vay là các định hướng căn bản cho việc kinh doanh tín

dụng của một Ngân hàng. Chính sách cho vay phản ánh cương lĩnh tài trợ của

một Ngân hàng, trở thành hướng dẫn chung cho cán bộ tín dụng và các nhân

viên Ngân hàng, tăng cường chun mơn hóa trong phân tích cho vay, tạo sự

thống nhất chung trong hoạt động cho vay nhằm hạn chế rủi ro và nâng cao

khả năng sinh lời. Nội dung của chính sách cho vay là để trả lời cho các câu

hỏi về quy mô các khoản vay, thời hạn các khoản cho vay, các hình thức cấp

cho vay được sử dụng. Điều khoản của chính sách cho vay được xây dựng

dựa trên nhiều yếu tố khác nhau như các điều kiện kinh tế, chính sách tiền tệ

và tài chính của NHNN, khả năng về vốn của Ngân hàng và nhu cầu đi vay

của khách hàng. Khi các yếu tố này thay đổi, chính sách cho vay cũng thay

đổi theo. Đối với mỗi loại đối tượng khách hàng, Ngân hàng có thể đưa ra các

chính sách khác nhau cho phù hợp. Một chính sách cho vay đúng đắn, sẽ thu

hút nhiều khách hàng, vừa đảm bảo khả năng sinh lời, vừa trên cơ sở hạn chế

rủi ro, tuân theo các đường lối, chính sách của Nhà nước và đảm bảo công

bằng xã hội. Bất cứ một Ngân hàng nào muốn có hiệu quả cho vay tốt cũng

đều phải có chính sách cho vay khoa học, phù hợp với thực tế của Ngân hàng

cũng như của thị trường.

c) Quy trình cho vay

Quy trình cho vay là tập hợp những nội dung, các bước tiến hành trong

quá trình từ cho vay đến thu nợ nhằm bảo đảm an toàn cho vay. Quá trình này

căn bản gồm từ nhận hồ sơ xin vay, thẩm định khách hàng, giải ngân, đến

giám sát khách hàng và thu nợ.

Quy trình cho vay của NHTM khơng mang tính dập khn, cứng nhắc

mà có sự linh động nhất định. Tùy vào tình hình cụ thể mà mỗi Ngân hàng sẽ

có các quy trình riêng. Sự hợp lý của các bước trong quá trình này quyết định

một phần rất quan trọng đối với hiệu quả cho vay. Một quy trình cho vay

Sv: Nguyễn Văn An



Lớp: CQ49/15.01



Luận văn tốt nghiệp



Học viện Tài chính



khơng phù hợp do thiếu các bước hoặc đủ nhưng tiến hành không tốt sẽ có

nguy cơ dẫn đến một khoản vay xấu. Song một quy trình chặt chẽ q mức

cũng bị coi là khơng hợp lý, không cần thiết, gây tốn kém, mất thời gian và

không hiệu quả.

d) Công tác tổ chức Ngân hàng

Ngân hàng được tổ chức một cách có khoa học sẽ đảm bảo được sự phối

hợp chặt chẽ, nhịp nhàng giữa các phòng ban, giữa các Ngân hàng với nhau

trong tồn hệ thống cũng như với các cơ quan liên quan khác. Qua đó sẽ tạo

điều kiện đáp ứng kịp thời các yêu cầu của khách hàng, quản lý có hiệu quả

các khoản vốn vay, phát hiện và xử lý kịp thời các khoản cho vay có vấn đề,

từ đó nâng cao hiệu quả cho vay

Bên cạnh việc sắp xếp, bố trí các phòng ban, Ngân hàng cũng cần chú

ý đến công tác tổ chức nhân sự.

Tổ chức nhân sự là cơng tác sắp xếp, bố trí người lao động vào các vị trí

làm việc. Cơng tác này đòi hỏi phải có sự đánh giá đối với các nhân viên về

nhiều mặt nhằm có được quyết định hợp lý và hiệu quả nhất. Các nhân viên

cần được bố trí dựa vào năng lực chuyên môn, đạo đức nghề nghiệp, các đặc

điểm về sức khỏe, tâm lý ... và các điều kiện khác.Công tác tổ chức này ảnh

hưởng rất lớn đến hiệu quả cơng việc nói chung và hiệu quả cho vay nói

riêng.

e) Phẩm chất và trình độ cán bộ

Hiệu quả đội ngũ cán bộ Ngân hàng là nhân tố quyết định đến sự thành

bại trong hoạt động kinh doanh của Ngân hàng nói chung và trong hoạt động

cho vay nói riêng. Cán bộ tín dụng là người trực tiếp tham gia vào mọi khâu

của quá trình cho vay từ bước đầu tiên cho đến những bước cuối cùng.

Như vậy, phẩm chất và trình độ cán bộ là nhân tố ảnh hưởng trực tiếp

đến hiệu quả của khoản cho vay . Một cán bộ tín dụng có trình độ chun

Sv: Nguyễn Văn An



Lớp: CQ49/15.01



Luận văn tốt nghiệp



Học viện Tài chính



mơn cao, có đạo đức nghề nghiệp sẽ giúp Ngân hàng giảm thiểu được những

rủi ro trong hoạt động cho vay

g) Công tác kiểm tra, kiểm sốt nội bộ

Cơng tác kiểm tra kiểm soát nội bộ sẽ giúp cho các nhà lãnh đạo Ngân

hàng nắm được tình hình hoạt động kinh doanh, kịp thời phát hiện những khó

khăn, trở ngại, sai trái...từ đó đưa ra các biện pháp giải quyết kịp thời.

Qúa trình kiểm tra, giám sát là một quá trình quan trọng, góp phần nâng

cao hiệu quả cho vay . Nó một mặt nâng cao hiệu quả cho vay cho Ngân hàng

khi giảm thiểu rủi ro về các khoản vay xấu, đồng thời có tác dụng hướng

khách hàng đến các hoạt động tốt, tăng khả năng thành công cho họ. Xét ở

một mức độ cao hơn, q trình này còn có đóng góp tích cực cho nền kinh tế,

khi mà thơng qua việc điều chỉnh, giám sát khách hàng, nó đã giảm thiểu

phần nào những hoạt động kinh tế tiêu cực của họ.

1.3.2. Các nhân tố khách quan

a) Nhân tố khách hàng

Khách hàng là đối tượng thường xuyên giao dịch và làm việc với Ngân

hàng. Khách hàng của Ngân hàng gồm có người gửi tiền, người đi vay và các

khách hàng khác. ở đây, dưới góc độ tín dụng, ta chỉ quan tâm tới khách hàng

là những người đi vay.

Khách hàng là người lập ra phương án, dự án xin vay và sau khi được

Ngân hàng chấp nhận, khách hàng là người trực tiếp sử dụng vốn vay để hoạt

động sản xuất kinh doanh. Bởi vậy, khách hàng có tác động khơng nhỏ đến

hiệu quả của khoản cho vay được cấp ra.

Cán bộ tín dụng cần phải quan tâm đến những đặc điểm sau của khách

hàng

* Đặc điểm ngành nghề kinh doanh của khách hàng



Sv: Nguyễn Văn An



Lớp: CQ49/15.01



Luận văn tốt nghiệp



Học viện Tài chính



Nếu khách hàng kinh doanh trong lĩnh vực chứa đựng tiềm ẩn rủi ro cao

thì Ngân hàng sẽ tốn kém hơn trong công tác giám sát

* Sự trung thực của khách hàng

Đây là vấn đề đạo đức từ phía khách hàng. Sự trung thực của khách hàng

ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả cho vay.

Nếu trong qúa trình xin vay vốn, khách hàng không trung thực với Ngân

hàng, đưa ra các số liệu sai lệch, vi phạm chế độ thống kê kế tốn đã được ban

hành thì sẽ gây khó khăn cho Ngân hàng trong việc nắm bắt tình hình sản xuất

kinh doanh của khách hàng, gây ra những phán quyết sai lầm trong quyết định

cho vay ban đầu.

Khi Ngân hàng đồng ý cấp khoản vay cho khách hàng, trong quá trình

giải Ngân nếu khách hàng sử dụng vốn vay khơng đúng với phương án, mục

đích khi xin vay thì sẽ dẫn đến tình trạng khơng trả nợ hoặc có trả nhưng

khơng đúng hạn.

* Năng lực của khách hàng

Năng lực của khách hàng là một yếu tố rất quan trọng đến khả năng

thành công của dự án hay phương án sản xuất kinh doanh. Năng lực của

khách hàng yếu kém thể hiện ở việc khách hàng không dự đoán được những

biến động lên xuống của nhu cầu thị trường.

Khách hàng không hiểu biết nhiều trong việc sản xuất, phân phối,

khuyếch trương...thì sẽ dẫn đến thất bại trong cạnh tranh, từ đó làm ảnh

hưởng đến khả năng trả nợ và làm hiệu quả cho vay của Ngân hàng cũng bị

ảnh hưởng.

Ngược lại, năng lực của khách hàng càng cao thì khả năng cạnh tranh

trên thị trường càng tốt, vốn vay càng sử dụng có hiệu quả và khả năng trả nợ

là càng lớn.

b) Môi trường kinh tế - xã hội

Sv: Nguyễn Văn An



Lớp: CQ49/15.01



Luận văn tốt nghiệp



Học viện Tài chính



Nền kinh tế là một hệ thống bao gồm các hoạt động kinh tế có quan hệ

biện chứng, ràng buộc và phụ thuộc lẫn nhau. Do đó, bất kì sự biến động của

một hoạt động kinh tế nào đó cũng sẽ gây ảnh hưởng đến các hoạt động kinh

tế còn lại. Sự ổn định hay mất ổn định của nền kinh tế sẽ có tác động mạnh

mẽ đến hoạt động Ngân hàng, mà đặc biệt là hoạt động cho vay NHTM

Một môi trường kinh tế ổn định, cơ hội kinh doanh nhiều và khả năng

thành công lớn là lý tưởng cho hiệu quả cho vay xét trên nhiều phương diện.

Nền kinh tế ổn định với mức lạm phát vừa phải sẽ tạo điều kiện cho các

khoản vay có hiệu quả cao. Trong điều kiện như vậy, các doanh nghiệp đều

làm ăn có hiệu quả, khả năng tạo ra lợi nhuận của họ là cao hơn, từ đó họ có

thể hồn trả vốn lẫn lãi cho Ngân hàng đúng như thời hạn đã thỏa thuận. Ngân

hàng sẽ không phải tốn nhiều tiền của vào công tác thẩm định hay giải quyết

các vấn đề sai trái, do đó đối với Ngân hàng- hiệu quả cho vay là cao.

Đối với khách hàng, trong điều kiện kinh tế thuận lợi, khách hàng có

thể sử dụng vốn vay một cách có hiệu quả, khả năng thành công của phương

án là lớn, thủ tục vay vốn là dễ dàng hơn, nhanh gọn hơn, do đó nó cũng là

những khoản cho vay có hiệu quả.

Về phía Nhà nước, khi các doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả sẽ góp

phần thúc đẩy nền kinh tế phát triển, tạo công ăn việc làm cho người lao

động, cải thiện đời sống nhân dân. Hệ thống Ngân hàng đảm bảo được uy tín,

vững mạnh về tài chính cũng mang lại sức mạnh kinh tế cho đất nước. Lúc

này, đối với cơ quan quản lý Nhà nước, hiệu quả cho vay cũng được thỏa mãn

Ngược lại, khi nền kinh tế biến động, các doanh nghiệp làm ăn thất

thường, kém hiệu quả sẽ ảnh hưởng đến lợi nhuận doanh nghiệp, từ đó làm

ảnh hưởng đến khả năng thu nợ của Ngân hàng. Lúc đó, về cả ba phía: Doanh

nghiệp - Ngân hàng - Nhà nước thì đây là các khoản cho vay khơng có hiệu

quả.

Sv: Nguyễn Văn An



Lớp: CQ49/15.01



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

2 Hiệu quả cho vay của Ngân hàng Thương mại

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×
x