Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Cơ sở thực tiễn

Cơ sở thực tiễn

Tải bản đầy đủ - 0trang

đơn thuần. Qua các kỳ thi, các bài kiểm tra mơn Ngữ văn, có thể nhận thấy có

nhiều học sinh học theo kiểu đối phó, học vẹt, lạm dụng tài liệu tham khảo,

không chú trọng kỹ năng diễn đạt, dùng câu, từ... Trong kỳ thi tốt nghiệp

THPT, học sinh còn có cơ hội để quay cóp, trao đổi bài, sử dụng tài liệu nên

có điểm cao mặc dù khơng chịu học. Thực tế trên đã khiến cho nhiều học sinh

vốn đã khơng thích học mơn Ngữ văn, nhất là những học sinh thi các khối thi

có các mơn khoa học tự nhiên, càng có “cớ” để lạnh nhạt, hờ hững với môn

học này.

Một bộ phận không nhỏ học sinh không thích học Ngữ văn và yếu kém

về năng lực cảm thụ văn chương không chỉ gây bi quan đối với dư luận xã hội

mà còn tác động tiêu cực đến người dạy.Các em lười phát biểu, thụ động

trong giờ học.Nhiều lúc lên lớp các em lại không quan tâm, chú ý nghe giảng

thậm chí còn nói chuyện riêng hoặc chế giễu những bạn chăm chỉ mơn này.Từ

đó dẫn đến giờ học trôi qua nặng nề, lớp học trầm lặng, tinh thần học tập của

học sinh mệt mỏi. Các số liệu thống kê cho thấy, môn Ngữ văn đang bị tuyệt

đại đa số học sinh phổ thông chối bỏ, hầu hết học sinh THPT chỉ cần học văn

để thi đỗ tốt nghiệp. Mặt khác, theo thống kê kết quả tuyển sinh đại học, cao

đẳng những năm gần đây có nhiều bài thi môn Ngữ văn của học sinh khiến

người đọc dở khóc dở cười vì những sai sót cơ bản như sai chính tả, sai kiến

thức, suy diễn cảm tính, viết mà khơng hiểu những gì mình đã viết...

Có một thực tế lo ngại hiện nay nữa là rất ít học sinh biết rung động trước

những tác phẩm văn học hay. Do vậy, khi làm bài học sinh thường suy luận chủ

quan, thơ tục hóa văn chương. Điều đó cho thấy học sinh rất lơ mơ về kiến thức

Ngữ văn. Hiện nay, một số học sinh khơng có thói quen đọc sách, các tác phẩm

văn học để tích lũy kiến thức, vốn từ, phục vụ cho việc học môn văn. Thậm chí

nhiều học sinh cho rằng Ngữ văn là bộ mơn không thực tế, vô bổ. Hiện trạng này

cho thấy vấn đề cảm thụ và diễn đạt văn chương của học sinh là rất đáng báo

động.



19



Trong q trình giảng dạy mơn Ngữ văn ở trường THPT mà đặc biệt là

giảng dạy những tác phẩm văn học thuộc thể loại truyện ngắn, trước đây, bản

thân tôi cùng các đồng nghiệp vẫn quen sử dụng phương pháp dạy học truyền

thống. Dạy học vẫn nặng về truyền thụ kiến thức lý thuyết và truyền thụ tri

thức một chiều vẫn là phương pháp dạy học chủ đạo của nhiều giáo viên. Số

giáo viên thường xuyên chủ động, sáng tạo trong việc phối hợp các phương

pháp dạy học cũng như sử dụng các phương pháp dạy học phát huy tính tích

cực, tự lực và sáng tạo của học sinh còn chưa nhiều. Việc rèn luyện kỹ năng

sống, kỹ năng giải quyết các tình huống thực tiễn cho học sinh thông qua khả

năng vận dụng tri thức tổng hợp chưa thực sự được quan tâm. Việc ứng dụng

công nghệ thông tin – truyền thông, sử dụng các phương tiện dạy học chưa

được thực hiện rộng rãi và hiệu quả trong các trường trung học phổ thông.

Những giờ dạy học Ngữ văn trước đây tơi thấy dù có thành cơng mấy đi

chăng nữa thì học sinh mới chỉ dừng lại ở mức độ lĩnh hội, tiếp thu và ghi nhớ

tri thức một cách máy móc mà chưa phát huy hết được năng lực chủ động,

sáng tạo trong quá trình chiếm lĩnh tri thức mới.

Là một giáo viên đứng trên bục giảng tôi luôn băn khoăn suy nghĩ, trăn

trở làm cách nào có thể nâng cao được chất lượng giáo dục học sinh và điều

quan trọng hơn là học sinh qua mỗi bài học các em có thể khám phá được

những tri thức mới như thế nào và có thể ứng dụng được gì vào trong thực

tiễn cuộc sống. Chính vì điều đó tơi muốn cố gắng nghiên cứu, tìm hiểu để có

thể đưa ra được một phương pháp dạy học phù hợp với thực tiễn dạy học Ngữ

văn ngày nay.

2.2. Thực trạng tổ chức dạy học Ngữ văn gắn với việc tăng cường hoạt

động trải nghiệm sáng tạo, phát huy kỷ năng, năng lực học sinh THPT

Thứ nhất: Dạy học đọc chép. Hiện tượng dạy học đọc chép trong môn

văn trước đây và môn ngữ văn rất phổ biến ở các trường phổ thông hiện nay.

Đọc chép trong giờ chính khóa và trong các lò luyện thi. Thầy cô đọc trước,

HS chép sau, hay thầy cô vừa đọc vừa ghi bảng rồi HS chép theo. Đối với các



20



bài khái quát về giai đoạn văn học hay khái quát về tác gia thầy cơ cũng

thường tóm tắt rồi đọc cho HS chép. Đối với bài “giảng văn” thầy cô cũng

thường nêu “câu hỏi thu từ”, rồi giảng, sau đó đọc chậm cho HS chép các kết

luận, nhận định. Trong cách dạy này HS tiếp thu hoàn toàn thụ động, một

chiều.

Thứ hai: Dạy nhồi nhét. Dạy nhồi nhét cũng là hiện tượng phổ biến do

thầy cô sợ dạy không kĩ, ảnh hưởng đến kết quả làm bài thi của HS, cho nên

dạy từ a đến z, không lựa chọn trọng tâm, khơng có thì giờ nêu vấn đề cho HS

trao đổi, sợ “cháy” giáo án. Kết quả của lối dạy này cũng là làm cho HS tiếp

thu một cách thụ động, một chiều.

Thứ ba: Dạy học văn như nhà nghiên cứu văn học. Một hiện tượng

thường thấy là cách giảng văn trên lớp như cách nghiên cứu văn học của các

học giả, như cách học của sinh viên văn học. Đó là cách phân tích sâu về tâm

lí, về kĩ thuật ngôn từ, về phương pháp sáng tác….. Trong khi đố đối với HS

môn ngữ văn chỉ cần dạy cho HS đọc hiểu, tiếp nhận tác phẩm như một độc

giả bình thường là đủ, nghĩa là chỉ cần nắm bắt đúng ý nghĩa, tư tưởng của tác

phẩm, một vài nét đặc sắc về nghệ thuật đủ để thưởng thức và gây hứng thú.

Thứ tư: Dạy học thiếu sự hợp tác giữa trò và thầy, giữa trò với trò.

Mỗi cá nhân trong q trình học tập đều có hạn chế, bởi mỗi người thường chỉ

chú ý vào một số điểm, bỏ qua hoặc không đánh giá hết ý nghĩa của các kiến

thức khác. Trong điều kiện đó, nếu biết cách hợp tác trong học tập, giữa thầy

giáo và HS, HS với HS có thể nhắc nhở nhau, bổ sung cho nhau, làm cho kiến

thức được tồn diện và sâu sắc.

Có thể nói, các kĩ năng của học sinh ít được chú ý rèn luyện trong giờ

dạy văn. Mơn văn có thể phát huy nhiều kĩ năng : kĩ năng phân tích ngôn ngữ,

kĩ năng giao tiếp, kĩ năng thuyết phục, kĩ năng làm chủ cảm xúc..., nhưng

phần lớn giờ học chỉ đi sâu vào những kĩ năng tiếp nhận lí thuyết mà chưa

phát huy những kĩ năng sống cho học sinh.



21



Để tránh sự nghèo nàn, đơn điệu trong dạy văn là một vấn đề khơng

dễ. Ở đó có những vấn đề thuộc về ý thức, thái độ, tình cảm nghề nghiệp,

năng lực của giáo viên, song việc giáo dục kỹ năng sống gắn với dạy học ngữ

văn sẽ góp phần giảng dạy môn Ngữ văn sinh động và hiệu quả.

Mục tiêu của mơn Ngữ văn ở trường phổ thơng là hình thành và phát

triển ở học sinh năng lực chung (tức năng lực giao tiếp, bao gồm kiến thức

tiếng Việt cùng với bốn kĩ năng cơ bản: Nghe, nói, đọc, viết và khả năng ứng

dụng các kiến thức và kĩ năng ấy vào các tình huống giao tiếp khác nhau

trong cuộc sống) và năng lực chuyên biệt (tức năng lực văn học, gồm tiếp

nhận hoặc cảm thụ văn học, sáng tác văn học.

3. Thiết kế giáo án thực nghiệm



VỢ CHỒNG A PHỦ - TƠ HỒI

(3 tiết)

A. MỤC TIÊU BÀI HỌC

1. Kiến thức:

Tiết 1:

+ Hiểu được những nét cơ bản về tác giả Tơ Hồi và tác phầm “Vợ chồng

A Phủ’’.

+ Hiểu được vẻ đẹp cũng như nỗi khổ của nhân vật Mị.

Tiết 2:

+ HS cảm nhận được sức sống tiềm tàng của nhân vật Mị .

+ Hiểu được tính cách, số phận của nhân vật A Phủ.

+ Thấy được cảnh xử kiện- hủ tục lạc hậu trong phong tục tập quán của

người dân miền núi Tây Bắc trước cách mạng.

+ Tổng kết giá trị nội dung và nghệ thuật của tác phẩm.

Tiết 3:

+ HS biết sử dụng những kiến thức, kĩ năng đã học để giải quyết các vấn

đề, các tình huống diễn ra trong cuộc sống.



22



+ HS biết nghiên cứu, sáng tạo, tìm ra cái mới theo sự hiểu biết của

mình, tìm phương pháp giải quyết vấn đề và đưa ra những phương án giải

quyết khác nhau góp phần hình thành năng lực học tập, năng lực giao tiếp…

2. Kỹ năng:

- Làm quen với các hoạt động trải nghiệm sáng tạo trong đọc hiểu văn

bản.

- Biết cách đọc hiểu truyện ngắn hiện đại theo đặc trưng thể loại.

- Vận dụng kiến thức đã học để giải quyết vấn đề đặt ra trong thực tiễn.

3. Thái độ:

Biết trân trọng con người, ln có khát vọng chính đáng, biết đấu tranh

cho quyền sống, quyền hạnh phúc, tự do cho chính mình.

4. Tổ chức hoạt động trải nghiệm và định hướng các năng lực hình

thành:

a. Tổ chức hoạt đợng trải nghiệm

- Trò chơi: Tổ chức trong hoạt động khởi động giúp tạo hứng thú cho

học sinh trước khi vào bài học mới.

- Hoạt động nhóm: Thảo luận nhóm tạo sự tham gia tích cực của học

sinh trong học tập. Học sinh được tham gia trao đổi, thảo luận, bàn bạc, chia

sẻ vấn đề mà cả nhóm cùng quan tâm. Qua đó học sinh được tự do bày tỏ

quan điểm, biết đón nhận quan điểm bất đồng, hình thành quan điểm cá nhân

giúp học sinh rèn luyện kỹ năng giải quyết các vấn đề khó khăn.

- Đóng vai:

+ Học sinh chuyển thể một số đoạn trong văn bản thành kịch bản sân

khấu sau đó diễn đoạn kịch đó. Từ đó học sinh cảm nhận sâu sắc nhân vật,

tình huống và ý nghĩa tác phẩm

+ Xử lý một tình huống giả định trong cuộc sống với vai trò là người

hùng biện về một số vấn đề trong văn bản liên quan đến cuộc sống. Từ đó

giúp học sinh rèn luyện những kỹ năng thực hành ứng xử và bày tỏ thái độ,

quan điểm của mình đối với các vấn đề trong cuộc sống.



23



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Cơ sở thực tiễn

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×