Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Trong chương trình Ngữ văn THPT nói chung và Ngữ văn 11 nói riêng, có rất nhiều tác phẩm có thể ứng dụng trải nghiệm sáng tạo, nhưng ở phạm vi một sáng kiến, người viết chỉ nêu định hướng ở một tác phẩm để minh họa.

Trong chương trình Ngữ văn THPT nói chung và Ngữ văn 11 nói riêng, có rất nhiều tác phẩm có thể ứng dụng trải nghiệm sáng tạo, nhưng ở phạm vi một sáng kiến, người viết chỉ nêu định hướng ở một tác phẩm để minh họa.

Tải bản đầy đủ - 0trang

1.4.3. Định hướng thiết kế bài học Ngữ văn theo hướng phát triển kỷ

năng, năng lực

Thiết kế bài dạy học Ngữ văn theo quan điểm tích hợp khơng chỉ chú

trọng nội dung kiến thức tích hợp mà cần thiết phải xây dựng một hệ thống

việc làm, thao tác tương ứng nhằm tổ chức, dẫn dắt học sinh từng bước thực

hiện để chiếm lĩnh đối tượng học tập, nội dung môn học, đồng thời hình thành

và phát triển năng lực, kỹ năng tích hợp, tránh áp đặt một cách làm duy nhất.

Giáo án giờ học đọc - hiểu không phải là một bản đề cương kiến thức

để giáo viên lên lớp giảng giải, truyền thụ áp đặt cho học sinh, mà là một bản

thiết kế các hoạt động, thao tác nhằm tổ chức cho học sinh thực hiện trong giờ

lên lớp để lĩnh hội tri thức, phát triển năng lực và nhân cách theo mục đích

giáo dục và giáo dưỡng của bộ mơn.

Đó là bản thiết kế gồm hai phần hợp thành hữu cơ: Một là, hệ thống các

tình huống dạy học được đặt ra từ nội dung khách quan của bài văn, phù hợp

với tính chất và trình độ tiếp nhận của học sinh. Hai là, hệ thống các hoạt

động, thao tác tương ứng với các tình huống trên do giáo viên sắp xếp, tổ

chức hợp lí nhằm hướng dẫn học sinh từng bước tiếp cận, chiếm lĩnh bài văn

một cách tích cực và sáng tạo.

Bởi thế, thiết kế giờ học đọc - hiểu theo mơ hình trường học mới cần tổ

chức hoạt động cho học sinh qua các bước:

- Hoạt động khởi động

- Hoạt động hình thành kiến thức mới

- Hoạt động thực hành

- Hoạt động ứng dụng

- Hoạt động bổ sung.

Mỗi đơn vị kiến thức được hướng dẫn học theo một cấu trúc thống nhất

gồm các hoạt động, trong đó có hoạt động cá nhân, hoạt động cặp đơi, hoạt

động nhóm, hoạt động cộng đồng. Mỗi hoạt động được xây dựng với mục



17



tiêu, yêu cầu và phương pháp cụ thể. Các hoạt động này hỗ trợ, bổ sung cho

nhau trong suốt tiến trình bài học.

2. Cơ sở thực tiễn

2.1. Thực trạng nhận thức về nhiệm vụ tăng cường hoạt động trải

nghiệm sáng tạo, phát huy kỷ năng, năng lực học sinh.

Đối với giáo viên, việc rèn kỹ năng sống đã được nhà trường chỉ đạo

thực hiện song vẫn mang tính hình thức như chỉ thể hiện trên giáo án hoặc ở

các tiết dạy thao giảng. Học sinh chưa được giáo viên chú trọng rèn kỹ năng

sống thường xuyên. Vì vậy các em còn nhút nhát, thiếu tự tin, khi tham gia

các hoạt động tập thể các em bộc lộ rất rõ điểm yếu này. Các giáo viên đã có ý

thức đổi mới phương pháp dạy học Văn nhưng việc thực hiện mới chỉ mang

tính hình thức, thử nghiệm chứ chưa mang lại hiệu quả mong muốn. Một số

giáo viên vẫn có thói quen dạy học theo kiểu truyền thụ kiến thức một chiều:

giáo viên giảng, học sinh lắng nghe, ghi nhớ và nhắc lại đúng điều mà giáo

viên đã truyền đạt. Giáo viên chủ động cung cấp kiến thức cho học sinh, áp đặt

những kinh nghiệm, hiểu biết, cách cảm, cách nghĩ của mình tới học sinh. Một

bộ phận không nhỏ giáo viên chưa được trang bị kĩ càng, đồng bộ về quan

điểm và lí luận phương pháp dạy học Văn mới. Ngoài ra sự thiếu thốn về

phương tiện và thiết bị dạy học như tranh, ảnh, sơ đồ, dụng cụ nghe nhìn để

minh họa cho bài giảng, tài liệu tham khảo, các tác phẩm văn học cho giáo viên

ở nhiều trường học đã khiến cho việc áp dụng phương pháp dạy học mới gặp

nhiều bất lợi, dẫn đến tình trạng dạy chay, học chay.

Về phía học sinh, mặc dầu mơn Văn có vị trí, chức năng quan trọng đặc

biệt như vậy nhưng hiện nay đang xuất hiện tình trạng nhiều học sinh khơng

thích học mơn Ngữ văn. Tỉ lệ học sinh thi vào các trường khối C càng ngày

càng ít. Một số học sinh chọn thi khối C khơng phải vì thích hoặc có khả năng

học các mơn khoa học xã hội mà chỉ vì họ khơng đủ khả năng để thi vào khối

nào khác. Nhiều bậc phụ huynh cũng than phiền về việc con em mình khơng

thích đọc sách văn học bằng các loại truyện tranh chỉ mang ý nghĩa giải trí

18



đơn thuần. Qua các kỳ thi, các bài kiểm tra mơn Ngữ văn, có thể nhận thấy có

nhiều học sinh học theo kiểu đối phó, học vẹt, lạm dụng tài liệu tham khảo,

không chú trọng kỹ năng diễn đạt, dùng câu, từ... Trong kỳ thi tốt nghiệp

THPT, học sinh còn có cơ hội để quay cóp, trao đổi bài, sử dụng tài liệu nên

có điểm cao mặc dù không chịu học. Thực tế trên đã khiến cho nhiều học sinh

vốn đã khơng thích học mơn Ngữ văn, nhất là những học sinh thi các khối thi

có các mơn khoa học tự nhiên, càng có “cớ” để lạnh nhạt, hờ hững với môn

học này.

Một bộ phận khơng nhỏ học sinh khơng thích học Ngữ văn và yếu kém

về năng lực cảm thụ văn chương không chỉ gây bi quan đối với dư luận xã hội

mà còn tác động tiêu cực đến người dạy.Các em lười phát biểu, thụ động

trong giờ học.Nhiều lúc lên lớp các em lại khơng quan tâm, chú ý nghe giảng

thậm chí còn nói chuyện riêng hoặc chế giễu những bạn chăm chỉ mơn này.Từ

đó dẫn đến giờ học trơi qua nặng nề, lớp học trầm lặng, tinh thần học tập của

học sinh mệt mỏi. Các số liệu thống kê cho thấy, môn Ngữ văn đang bị tuyệt

đại đa số học sinh phổ thông chối bỏ, hầu hết học sinh THPT chỉ cần học văn

để thi đỗ tốt nghiệp. Mặt khác, theo thống kê kết quả tuyển sinh đại học, cao

đẳng những năm gần đây có nhiều bài thi mơn Ngữ văn của học sinh khiến

người đọc dở khóc dở cười vì những sai sót cơ bản như sai chính tả, sai kiến

thức, suy diễn cảm tính, viết mà khơng hiểu những gì mình đã viết...

Có một thực tế lo ngại hiện nay nữa là rất ít học sinh biết rung động trước

những tác phẩm văn học hay. Do vậy, khi làm bài học sinh thường suy luận chủ

quan, thơ tục hóa văn chương. Điều đó cho thấy học sinh rất lơ mơ về kiến thức

Ngữ văn. Hiện nay, một số học sinh khơng có thói quen đọc sách, các tác phẩm

văn học để tích lũy kiến thức, vốn từ, phục vụ cho việc học mơn văn. Thậm chí

nhiều học sinh cho rằng Ngữ văn là bộ môn không thực tế, vô bổ. Hiện trạng này

cho thấy vấn đề cảm thụ và diễn đạt văn chương của học sinh là rất đáng báo

động.



19



Trong q trình giảng dạy mơn Ngữ văn ở trường THPT mà đặc biệt là

giảng dạy những tác phẩm văn học thuộc thể loại truyện ngắn, trước đây, bản

thân tôi cùng các đồng nghiệp vẫn quen sử dụng phương pháp dạy học truyền

thống. Dạy học vẫn nặng về truyền thụ kiến thức lý thuyết và truyền thụ tri

thức một chiều vẫn là phương pháp dạy học chủ đạo của nhiều giáo viên. Số

giáo viên thường xuyên chủ động, sáng tạo trong việc phối hợp các phương

pháp dạy học cũng như sử dụng các phương pháp dạy học phát huy tính tích

cực, tự lực và sáng tạo của học sinh còn chưa nhiều. Việc rèn luyện kỹ năng

sống, kỹ năng giải quyết các tình huống thực tiễn cho học sinh thơng qua khả

năng vận dụng tri thức tổng hợp chưa thực sự được quan tâm. Việc ứng dụng

công nghệ thông tin – truyền thông, sử dụng các phương tiện dạy học chưa

được thực hiện rộng rãi và hiệu quả trong các trường trung học phổ thông.

Những giờ dạy học Ngữ văn trước đây tơi thấy dù có thành cơng mấy đi

chăng nữa thì học sinh mới chỉ dừng lại ở mức độ lĩnh hội, tiếp thu và ghi nhớ

tri thức một cách máy móc mà chưa phát huy hết được năng lực chủ động,

sáng tạo trong quá trình chiếm lĩnh tri thức mới.

Là một giáo viên đứng trên bục giảng tôi luôn băn khoăn suy nghĩ, trăn

trở làm cách nào có thể nâng cao được chất lượng giáo dục học sinh và điều

quan trọng hơn là học sinh qua mỗi bài học các em có thể khám phá được

những tri thức mới như thế nào và có thể ứng dụng được gì vào trong thực

tiễn cuộc sống. Chính vì điều đó tơi muốn cố gắng nghiên cứu, tìm hiểu để có

thể đưa ra được một phương pháp dạy học phù hợp với thực tiễn dạy học Ngữ

văn ngày nay.

2.2. Thực trạng tổ chức dạy học Ngữ văn gắn với việc tăng cường hoạt

động trải nghiệm sáng tạo, phát huy kỷ năng, năng lực học sinh THPT

Thứ nhất: Dạy học đọc chép. Hiện tượng dạy học đọc chép trong môn

văn trước đây và môn ngữ văn rất phổ biến ở các trường phổ thơng hiện nay.

Đọc chép trong giờ chính khóa và trong các lò luyện thi. Thầy cơ đọc trước,

HS chép sau, hay thầy cô vừa đọc vừa ghi bảng rồi HS chép theo. Đối với các



20



bài khái quát về giai đoạn văn học hay khái quát về tác gia thầy cô cũng

thường tóm tắt rồi đọc cho HS chép. Đối với bài “giảng văn” thầy cô cũng

thường nêu “câu hỏi thu từ”, rồi giảng, sau đó đọc chậm cho HS chép các kết

luận, nhận định. Trong cách dạy này HS tiếp thu hoàn toàn thụ động, một

chiều.

Thứ hai: Dạy nhồi nhét. Dạy nhồi nhét cũng là hiện tượng phổ biến do

thầy cô sợ dạy không kĩ, ảnh hưởng đến kết quả làm bài thi của HS, cho nên

dạy từ a đến z, khơng lựa chọn trọng tâm, khơng có thì giờ nêu vấn đề cho HS

trao đổi, sợ “cháy” giáo án. Kết quả của lối dạy này cũng là làm cho HS tiếp

thu một cách thụ động, một chiều.

Thứ ba: Dạy học văn như nhà nghiên cứu văn học. Một hiện tượng

thường thấy là cách giảng văn trên lớp như cách nghiên cứu văn học của các

học giả, như cách học của sinh viên văn học. Đó là cách phân tích sâu về tâm

lí, về kĩ thuật ngơn từ, về phương pháp sáng tác….. Trong khi đố đối với HS

môn ngữ văn chỉ cần dạy cho HS đọc hiểu, tiếp nhận tác phẩm như một độc

giả bình thường là đủ, nghĩa là chỉ cần nắm bắt đúng ý nghĩa, tư tưởng của tác

phẩm, một vài nét đặc sắc về nghệ thuật đủ để thưởng thức và gây hứng thú.

Thứ tư: Dạy học thiếu sự hợp tác giữa trò và thầy, giữa trò với trò.

Mỗi cá nhân trong q trình học tập đều có hạn chế, bởi mỗi người thường chỉ

chú ý vào một số điểm, bỏ qua hoặc không đánh giá hết ý nghĩa của các kiến

thức khác. Trong điều kiện đó, nếu biết cách hợp tác trong học tập, giữa thầy

giáo và HS, HS với HS có thể nhắc nhở nhau, bổ sung cho nhau, làm cho kiến

thức được toàn diện và sâu sắc.

Có thể nói, các kĩ năng của học sinh ít được chú ý rèn luyện trong giờ

dạy văn. Mơn văn có thể phát huy nhiều kĩ năng : kĩ năng phân tích ngơn ngữ,

kĩ năng giao tiếp, kĩ năng thuyết phục, kĩ năng làm chủ cảm xúc..., nhưng

phần lớn giờ học chỉ đi sâu vào những kĩ năng tiếp nhận lí thuyết mà chưa

phát huy những kĩ năng sống cho học sinh.



21



Để tránh sự nghèo nàn, đơn điệu trong dạy văn là một vấn đề không

dễ. Ở đó có những vấn đề thuộc về ý thức, thái độ, tình cảm nghề nghiệp,

năng lực của giáo viên, song việc giáo dục kỹ năng sống gắn với dạy học ngữ

văn sẽ góp phần giảng dạy mơn Ngữ văn sinh động và hiệu quả.

Mục tiêu của môn Ngữ văn ở trường phổ thơng là hình thành và phát

triển ở học sinh năng lực chung (tức năng lực giao tiếp, bao gồm kiến thức

tiếng Việt cùng với bốn kĩ năng cơ bản: Nghe, nói, đọc, viết và khả năng ứng

dụng các kiến thức và kĩ năng ấy vào các tình huống giao tiếp khác nhau

trong cuộc sống) và năng lực chuyên biệt (tức năng lực văn học, gồm tiếp

nhận hoặc cảm thụ văn học, sáng tác văn học.

3. Thiết kế giáo án thực nghiệm



VỢ CHỒNG A PHỦ - TƠ HỒI

(3 tiết)

A. MỤC TIÊU BÀI HỌC

1. Kiến thức:

Tiết 1:

+ Hiểu được những nét cơ bản về tác giả Tơ Hồi và tác phầm “Vợ chồng

A Phủ’’.

+ Hiểu được vẻ đẹp cũng như nỗi khổ của nhân vật Mị.

Tiết 2:

+ HS cảm nhận được sức sống tiềm tàng của nhân vật Mị .

+ Hiểu được tính cách, số phận của nhân vật A Phủ.

+ Thấy được cảnh xử kiện- hủ tục lạc hậu trong phong tục tập quán của

người dân miền núi Tây Bắc trước cách mạng.

+ Tổng kết giá trị nội dung và nghệ thuật của tác phẩm.

Tiết 3:

+ HS biết sử dụng những kiến thức, kĩ năng đã học để giải quyết các vấn

đề, các tình huống diễn ra trong cuộc sống.



22



+ HS biết nghiên cứu, sáng tạo, tìm ra cái mới theo sự hiểu biết của

mình, tìm phương pháp giải quyết vấn đề và đưa ra những phương án giải

quyết khác nhau góp phần hình thành năng lực học tập, năng lực giao tiếp…

2. Kỹ năng:

- Làm quen với các hoạt động trải nghiệm sáng tạo trong đọc hiểu văn

bản.

- Biết cách đọc hiểu truyện ngắn hiện đại theo đặc trưng thể loại.

- Vận dụng kiến thức đã học để giải quyết vấn đề đặt ra trong thực tiễn.

3. Thái độ:

Biết trân trọng con người, ln có khát vọng chính đáng, biết đấu tranh

cho quyền sống, quyền hạnh phúc, tự do cho chính mình.

4. Tổ chức hoạt động trải nghiệm và định hướng các năng lực hình

thành:

a. Tổ chức hoạt đợng trải nghiệm

- Trò chơi: Tổ chức trong hoạt động khởi động giúp tạo hứng thú cho

học sinh trước khi vào bài học mới.

- Hoạt động nhóm: Thảo luận nhóm tạo sự tham gia tích cực của học

sinh trong học tập. Học sinh được tham gia trao đổi, thảo luận, bàn bạc, chia

sẻ vấn đề mà cả nhóm cùng quan tâm. Qua đó học sinh được tự do bày tỏ

quan điểm, biết đón nhận quan điểm bất đồng, hình thành quan điểm cá nhân

giúp học sinh rèn luyện kỹ năng giải quyết các vấn đề khó khăn.

- Đóng vai:

+ Học sinh chuyển thể một số đoạn trong văn bản thành kịch bản sân

khấu sau đó diễn đoạn kịch đó. Từ đó học sinh cảm nhận sâu sắc nhân vật,

tình huống và ý nghĩa tác phẩm

+ Xử lý một tình huống giả định trong cuộc sống với vai trò là người

hùng biện về một số vấn đề trong văn bản liên quan đến cuộc sống. Từ đó

giúp học sinh rèn luyện những kỹ năng thực hành ứng xử và bày tỏ thái độ,

quan điểm của mình đối với các vấn đề trong cuộc sống.



23



b. Định hướng các năng lực hình thành

- Năng lực chung: Năng lực tự học; năng lực phát hiện và giải quyết

vấn đề, năng lực hợp tác, năng lực ngôn ngữ.

- Năng lực chuyên biệt:

+ Năng lực trải nghiệm ( đóng vai, thuyết trình)

+ Năng lực thu thập thông tin liên quan đến văn bản.

+ Năng lực giải quyết những tình huống đặt ra trong các văn bản.

+ Năng lực hợp tác thảo luận về nội dung và nghệ thuật của văn bản.

+ Năng lực cảm thụ và thưởng thức thẫm mỹ.

+ Năng lực tự đọc hiểu các tác phẩm truyện ngắn hiện đại.

+ Năng lực vận dụng những kiến thức liên môn đã học để giải quyết

những vấn đề thực tiễn: Vấn đề bảo tồn và phát huy truyền thống văn hóa dân

tộc..

B. CHUẨN BỊ CỦA GIÁO VIÊN VÀ HỌC SINH

1. Giáo viên:

- Tranh, ảnh phục vụ nội dung bài học.

- Phiếu học tập, phiếu giao nhiệm vụ, phiếu đánh giá.

- Máy tính, máy chiếu kết nối.

- Bài soạn.

2. Học sinh:

- Đọc kỹ văn bản ở nhà.

- Nghiên cứu nội dung bài học đã được giao.

- Kịch bản.

- Đóng vai diễn kịch.

- Dụng cụ âm nhạc (sáo).

- Giấy viết.

C. PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC.

- Kết hợp các phương pháp: Đọc sáng tạo, đối thoại, nêu vấn đề, thảo

luận, tích hợp, cơng nghệ thơng tin…giúp giờ dạy học đạt hiệu quả tốt.



24



- Tổ chức dạy học bằng các hoạt động theo mơ hình trường học mới:

Hoạt động khởi động, hoạt động hình thành kiến thức mới, hoạt động thực

hành, hoạt động ứng dụng, hoạt động bổ sung.

D. TIẾN TRÌNH DẠY HỌC

1. Ổn định lớp:

2. Kiểm tra bài cũ:

3. Giới thiệu bài mới:

Tơ Hồi thuộc thế hệ nhà văn cầm bút từ trước Cách mạng. Năm 1952,

ông đi cùng bộ đội vào giải phóng Tây Bắc. Với thế mạnh của một nhà văn

phong tục, Tơ Hồi đã nhanh chóng nắm bắt được hiện thực cuộc sống đồng

bào các dân tộc: Thái, Mường, H'mông …và ông đã viết liền một hơi 3 tác

phẩm gộp lại thành tập "Truyện Tây Bắc", trong đó tiêu biểu nhất là “Vợ

chồng A Phủ”.

Trước khi tìm hiểu nội dung văn bản, chúng ta cùng tiến hành một hoạt

động khởi động - trải nghiệm .

4. Hoạt động dạy và học :

TIẾT 1

Giáo viên (GV) tổ chức cho học sinh (HS) hoạt động khởi động .

Mục đích: Kiểm tra việc đọc văn bản ở nhà của HS nhằm giúp HS huy động

kiến thức, kỹ năng, tạo hứng thú tiếp nhận bài mới .

Yêu cầu: HS thể hiện những vấn đề liên quan đến tác phẩm.

Cách tiến hành:

GV:

- Chiếu hình ảnh minh họa cho một vấn đề liên quan đến bài học:

Hình ảnh đơi trai gái người Mèo đang thổi sáo.

- Gọi một bạn HS trong lớp có năng khiếu về âm nhạc thổi sáo bài

“Tình ca Tây Bắc” (tiết mục thổi sáo này GV cho HS chuẩn bị từ

trước).



25



GVH: Âm điệu tiếng sáo làm em liên tưởng đến nét văn hóa vùng miền nào

trên đất nước ta ?



26



TÌNH CA TÂY BẮC

HS: - Bạn Đặng Anh Đức (lớp 12a2 trình bày tiết mục thổi sáo bài

“Tình ca Tây Bắc” .

- Các HS khác trình bày cảm nhận của mình sau khi nghe tiết mục thổi

sáo.

GV: - Nhận xét phần trình bày của HS.

- Giới thiệu khái quát về vẻ đẹp thiên nhiên, con người, những nét đặc

sắc về văn hóa, nghệ thuật, phong tục tập quán của vùng núi Tây Bắc.

- GV: Kết luận và dẫn vào hoạt động mới .

GV tổ chức các hoạt động để hình thành kiến thức mới

Mục đích:

Giúp HS tự chiếm lĩnh kiến thức mới thông qua hệ thống nhiệm vụ GV

giao cho.

Yêu cầu:

HS tìm kiếm thơng tin từ văn bản. Giải thích, cắt nghĩa, phân loại, kết

nối… thông tin để tạo nên hiểu biết chung về văn bản. Phản hồi và đánh giá

thông tin trong văn bản.

Cách tiến hành:



27



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Trong chương trình Ngữ văn THPT nói chung và Ngữ văn 11 nói riêng, có rất nhiều tác phẩm có thể ứng dụng trải nghiệm sáng tạo, nhưng ở phạm vi một sáng kiến, người viết chỉ nêu định hướng ở một tác phẩm để minh họa.

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×