Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Cơ sở lí luận

Cơ sở lí luận

Tải bản đầy đủ - 0trang

Việc đổi mới phương pháp dạy học đòi hỏi những điều kiện thích hợp về

phương tiện, cơ sở vật chất và tổ chức dạy học, điều kiện về tổ chức, quản lý.

Ngồi ra, phương pháp dạy học còn mang tính chủ quan. Mỗi giảng viên với

kinh nghiệm riêng của mình cần xác định những phương hướng riêng để cải

tiến phương pháp dạy học và kinh nghiệm của cá nhân.

Sự nghiệp cơng nghiệp hố và hiện đại hố đất nước ngày nay đòi hỏi

nguồn nhân lực khơng những chỉ đủ về số lượng mà còn phải có chất lượng.

Nguồn nhân lực đóng vai trò hết sức to lớn đối với sự phát triển của mỗi đơn

vị, doanh nghiệp nói riêng và của đất nước nói chung. Kiến thức và sự hiểu

biết về nguyên tắc đảm bảo chất lượng ngày càng mở rộng hơn, logíc tất yếu

đòi hỏi chất lượng đào tạo ngày càng phải tốt hơn. Một trong những định

hướng cơ bản của việc đổi mới giáo dục là chuyển từ nền giáo dục mang tính

hàn lâm, kinh viện, xa rời thực tiễn sang một nền giáo dục chú trọng việc hình

thành năng lực hành động, phát huy tính chủ động, sáng tạo của người học.

Định hướng quan trọng trong đổi mới PPDH là phát huy tính tích cực, tự lực

và sáng tạo, phát triển năng lực hành động, năng lực cộng tác làm việc của

người học. Đó cũng là những xu hướng quốc tế trong cải cách PPDH ở nhà

trường.

Đổi mới PPDH môn ngữ văn ở trường THPT là kết quả của một quá

trình nghiên cứu, thực hiện kiên trì và được nghiệm thu. Khâu đột phá về chất

lượng đổi mới phương pháp dạy học Ngữ văn là bồi dưỡng năng lực thực

hành nghề nghiệp của đội ngũ giáo viên. Trước hết đội ngũ giáo viên phải

nhận thức việc đổi mới phương pháp dạy học bộ môn thường xuyên là lẽ

sống, là trách nhiệm, lương tâm, danh dự của người thầy. Thầy giỏi mới đào

tạo được trò giỏi. Thầy giỏi ở trường THPT là người có khả năng tự nghiên

cứu để nâng cao trình độ chun mơn nghiệp vụ theo xu thế quốc tế, đáp ứng

những đòi hỏi của đất nước trong thời kì cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa, biết

thường xuyên vận dụng kết quả tự nghiên cứu của mình vào q trình dạy học

bộ mơn.

5



Đổi mới phương pháp dạy học đang thực hiện bước chuyển từ chương

trình giáo dục tiếp cận nội dung sang tiếp cận năng lực của người học, nghĩa

là từ chỗ quan tâm đến việc HS học được cái gì đến chỗ quan tâm HS vận

dụng được cái gì qua việc học. Để đảm bảo được điều đó, phải thực hiện

chuyển từ phương pháp dạy học theo lối “truyền thụ một chiều” sang dạy

cách học, cách vận dụng kiến thức, rèn luyện kỹ năng, hình thành năng lực và

phẩm chất. Tăng cường việc học tập trong nhóm, đổi mới quan hệ giáo viên –

học sinh theo hướng cộng tác có ý nghĩa quan trọng nhằm phát triển năng lực

xã hội. Bên cạnh việc học tập những tri thức và kỹ năng riêng lẻ của các môn

học chuyên môn cần bổ sung các chủ đề học tập tích hợp liên mơn nhằm phát

triển năng lực giải quyết các vấn đề phức hợp.

Đối với giáo viên Trung học, đó là cách hiểu mới về mơn học, về bản

chất của khoa học và nghệ thuật của văn chương. Không hiểu văn không thể

dạy văn. Yêu cầu nắm vững kiến thức cơ bản về ngữ văn vẫn là một trong

những nhân tố quan trọng về tiềm năng của người giáo viên trong quá trình

thực hiện đổi mới phương pháp dạy học.

Đổi mới phương pháp dạy học khơng có nghĩa là loại bỏ các phương

pháp dạy học truyền thống như thuyết trình, đàm thoại, luyện tập mà cần bắt

đầu bằng việc cải tiến để nâng cao hiệu quả và hạn chế nhược điểm của

chúng. Để nâng cao hiệu quả của các phương pháp dạy học này người giáo

viên trước hết cần nắm vững những yêu cầu và sử dụng thành thạo các kỹ

thuật của chúng trong việc chuẩn bị cũng như tiến hành bài lên lớp, kỹ thuật

đặt các câu hỏi và xử lý các câu trả lời trong đàm thoại, hay kỹ thuật làm mẫu

trong luyện tập. Tuy nhiên, các phương pháp dạy học truyền thống có những

hạn chế tất yếu, vì thế bên cạnh các phương pháp dạy học truyền thống cần

kết hợp sử dụng các phương pháp dạy học mới, có thể tăng cường tính tích

cực nhận thức của học sinh.

Việc đổi mới giáo dục Trung học dựa trên những đường lối, quan điểm

chỉ đạo giáo dục của nhà nước, đó là những định hướng quan trọng về chính



6



sách và quan điểm trong việc phát triển và đổi mới giáo dục Trung học. Việc

đổi mới phương pháp dạy học cần phù hợp với những định hướng đổi mới

chung của chương trình giáo dục trung học.

Những quan điểm và đường lối chỉ đạo của nhà nước về đổi mới giáo

dục nói chung và giáo dục trung học nói riêng được thể hiện trong nhiều văn

bản:

– Luật giáo dục số 38/2005/QH11, Điều 28 quy định: Phương pháp

giáo dục phổ thơng phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động sáng tạo của

học sinh; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng

phương pháp tự học, khả năng làm việc theo nhóm; rèn luyện kỹ năng vận

dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng

thú học tập cho học sinh.

– Nghị quyết hội nghị trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản toàn

diện giáo dục và đào tạo: “ Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và

học theo hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động sáng tạo và vận

dụng kiến thức, kỹ năng của người học; khắc phục lối truyền thụ áp đặt, một

chiều, ghi nhớ máy móc. Tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự

học, tạo cơ sở để người học tự cập nhật và đổi mới tri thức, kỹ năng, phát

triển năng lực…”

– Chiến lược phát triển giáo dục giai đoạn 2011-2020 ban hành kèm

theo quyết định 711/QĐ-TTg ngày 13/6/2012 của Thủ tướng chính phủ chỉ rõ:

“ Tiếp tục đổi mới phương pháp dạy học và đánh giá kết quả học tập, rèn

luyện theo hướng phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo và năng

lục tự học của người học.”

-Bộ GD&ĐT vừa có văn bản hướng dẫn thực hiện chương trình GDPT

hiện hành theo định hướng phát triển năng lực và phẩm chất học sinh từ năm

học 2017-2018: Chú trọng rèn cho học sinh phương pháp tự học, tự nghiên

cứu SGK để tiếp nhận và vận dụng kiến thức mới thông qua giải quyết nhiệm

vụ học tập đặt ra trong bài học; dành nhiều thời gian trên lớp cho học sinh



7



luyện tập, thực hành, trình bày, thảo luận, bảo vệ kết quả học tập của mình;

giáo viên tổng hợp, nhận xét, đánh giá, kết luận để học sinh tiếp nhận và vận

dụng.

Trong phần mục tiêu tổng quát, các chỉ tiêu quan trọng và nhiệm vụ

trọng tâm trong 5 năm 2016-2020, Nghị quyết Đại hội XII của Đảng đã đưa ra

một trong những nhiệm vụ trọng tâm đó là: “Đổi mới căn bản và tồn diện

giáo dục, đào tạo (GD-ĐT); phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực

chất lượng cao”.

Giáo viên tổ chức, hướng dẫn hoạt động học tập cần tạo ra môi trường

học tập thân thiện và những tình huống có vấn đề nhằm khuyến khích người

học tích cực tham gia các hoạt động học tập. Chính người thầy giáo phải khơi

gợi, khuyến khích học sinh tự khẳng định năng lực và nguyện vọng của bản

thân, đồng thời rèn cho các em thói quen và khả năng tự học, phát huy tiềm

năng và vận dụng hiệu quả những kiến thức, kỹ năng đã tích lũy. Từ đây tạo

tiền đề để phát triển con người toàn diện trong bối cảnh phát triển của cách

mạng công nghiệp 4.0, hướng tới một nền giáo dục Việt Nam hiện đại và hội

nhập quốc tế.

Những quan điểm, định hướng nêu trên là cơ sở lí luận và mơi trường

pháp lí thuận lợi cho việc đổi mới giáo dục phổ thơng nói chung, đổi mới

phương pháp dạy học theo định hướng phát triển kỷ năng, năng lực người học

nói riêng.

1.2. Mục tiêu của dạy học mơn Ngữ văn ở trường THPT

- Cung cấp, bồi dưỡng kiến thức về văn học cho học sinh

Mục tiêu dạy học môn Ngữ văn là sự cụ thể hóa mục tiêu giáo dục nói

chung, chú trọng dạy chữ, dạy người và hướng nghiệp. Đi vào cụ thể, môn

học Ngữ văn nhấn mạnh 3 mục tiêu chính sau:

+ Trang bị những kiến thức phổ thơng, cơ bản, hiện đại, có tính hệ

thống về ngơn ngữ và văn học- trọng tâm là Tiếng Việt và Văn học Việt Nam ,



8



phù hợp với trình độ phát triển của lứa tuổi và yêu cầu đào tạo nguồn nhân lực

trong thời kỳ cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

+ Hình thành và phát triển ở học sinh các năng lực sử dụng Tiếng Việt,

tiếp nhận văn bản, cảm thụ thẩm mỹ, phương pháp học tập tư duy, đặc biệt là

phương pháp tự học, năng lực ứng dụng những điều đã học vào cuộc sống.

+ Bồi dưỡng cho học sinh tình u tiếng Việt, văn học, văn hóa, tình

u gia đình, thiên nhiên, đất nước, lòng tự hào dân tộc, ý chí tự lập, tự

cường, lý tưởng xã hội chủ nghĩa, tinh thần dân chủ nhân văn, giáo dục cho

học sinh trách nhiệm công dân, tinh thần hữu nghị hợp tác quốc tế, ý thức tôn

trọng và phát huy các giá trị văn hóa dân tộc và nhân loại"

- Hình thành phương pháp tự kiến tạo tri thức văn học cho học sinh.

Để học sinh tự kiến tạo tri thức văn học, giáo viên cần hướng dẫn học

sinh chiếm lĩnh các tác phẩm văn chương. Phải làm sao cho học sinh tự vận

động, tự phát triển từ nhận thức về đặc điểm của tác phẩm văn chương và đặc

trưng của quy luật tiếp nhận văn chương, từ đặc điểm của quá trình cảm nhận

tác phẩm của văn học của học sinh để phân chia một cách bao quát những cấp

độ, những hình thức hoạt động, chiếm lĩnh tác phẩm của học sinh.

1.3. Ý nghĩa cấp thiết của hoạt động trải nghiệm sáng tạo nhằm phát

triển kỷ năng, năng lực của học sinh THPT.

1.3.1. Khái niệm trải nghiệm sáng tạo

Theo từ điển tiếng Việt: “Trải nghiệm là trải qua, kinh qua. Trải nghiệm

là trải qua thực tế để rút ra được những kinh nghiệm. Trải nghiệm thiên về các

hoạt động thực tế”

Theo từ điển giáo dục học: “Trải nghiệm là hành động thực hành, thực

nghiệm các vấn đề đặt ra trong bài học và những vấn đề liên quan đến bài

học”

Dự thảo Đề án đổi mới chương trình và sách giáo khoa giáo dục phổ

thông sau năm 2015 đã nêu: “Hoạt động trải nghiệm sáng tạo(HĐ TNST) bản

chất là những hoạt động giáo dục (HĐGD) nhằm hình thành và phát triển cho



9



học sinh những phẩm chất tư tưởng, ý chí, tình cảm, giá trị, kỹ năng(KN)

sống và những năng lực cần có của con người trong xã hội hiện đại. Nội dung

của HĐ TNST được thiết kế theo hướng tích hợp nhiều lĩnh vực, mơn học

thành các chủ điểm mang tính chất mở. Hình thức và phương pháp tổ chức đa

dạng, phong phú, mềm dẻo, linh hoạt, mở về không gian, thời gian, quy mô,

đối tượng và số lượng…để học sinh có nhiều cơ hội tự trải nghiệm”.

Trong dạy học trải nghiệm sáng tạo là những hoạt động giáo dục được

tổ chức gắn liền với kinh nghiệm, cuộc sống để học sinh trải nghiệm và sáng

tạo, phát huy các kỷ năng, năng lực của mình.

1.3.2. Khái niệm năng lực học sinh

Bộ Giáo dục Quebec Canada, trong cuốn Công nghệ Giáo dục kỹ thuật

và dạy nghề (nguyên bản tiếng Pháp đã được dịch sang tiếng Việt), định nghĩa

năng lực là “khả năng thực hiện một nhiệm vụ trọn vẹn, đạt chuẩn kỹ năng

tương ứng với ngưỡng quy định.

Theo trường phái của Anh: “Năng lực giới hạn bởi ba yếu tố: Kiến thức,

kĩ năng, thái độ. Đây còn gọi là mơ hình ASK”.

Theo trường phái của Mỹ: “Năng lực là bất kỳ yếu tố tâm lý của cá

nhân có thể giúp hồn thành nhanh chóng cơng việc hay hoạt động nào đó

một cách hiệu quả”.

Các nhà tâm lí học Việt Nam cho rằng: “Năng lực là tổng hợp các đặc

điểm, thuộc tính tâm lí của cá nhân phù hợp với yêu cầu đặc trưng của một

hoạt động nhất định nhằm đảm bảo cho hoạt động đạt hiệu quả cao”. Người ta

cũng chia năng lực thành năng lực chung, cốt lõi và năng lực chun mơn,

trong đó, năng lực chung là cốt lõi, là năng lực cơ bản cần thiết làm nền tảng

để phát triển năng lực chuyên môn.

1.3.3. Khái niệm kỷ năng sống

Hiện nay chưa có một khái niệm nào thống nhất trên toàn thế giới về kĩ

năng sống, kĩ năng sốngđược tiếp cận theo nhiều quan điểm khác nhau.



10



Quan niệm rộng nhất là quan niệm do Tổ chức Văn hóa, Khoa học và

Giáo dục của Liên hiệp quốc (UNESCO) đưa ra, dựa trên cơ sở là bốn mục

tiêu cơ bản của việc học: Học để biết – Học để làm – Học để là chính mình –

Học để cùng chung sống. Dựa vào đó, UNESCO định nghĩa “Kĩ năng sống là

năng lực cá nhân để thực hiện đầy đủ các chức năng và tham gia vào cuộc

sống hàng ngày”.

Quan niệm hẹp hơn là quan niệm do Tổ chức Y tế thế giới (WHO) đưa

ra, dựa trên lý thuyết học tập xã hội của Bandura (1977), tức là nhấn mạnh sự

học tập qua quá trình trải nghiệm của con người, qua sự tích lũy kinh nghiệm

sống, cấu trúc kinh nghiệm và chủ động nắm lấy kinh nghiệm. Theo đó, WHO

định nghĩa “Kĩ năng sống” là những năng lực giao tiếp đáp ứng và những

hành vi tích cực của cá nhân có thể giải quyết có hiệu quả những yêu cầu và

thách thức của c̣c sống hàng ngày”.

Có thể nói, kỹ năng sống là tập hợp các hành vi tích cực và khả năng

thích nghi cho phép mỗi cá nhân đối phó hiệu quả với các nhu cầu và thách

thức của cuộc sống hàng ngày; nói cách khác là khả năng tâm lý xã hội. Đó là

tập hợp các kỹ năng mà con người tiếp thu qua giáo dục hoặc trải nghiệm trực

tiếp được dùng để xử lý các vấn đề và câu hỏi thường gặp trong đời sống con

người. Các chủ đề rất đa dạng tùy thuộc vào chuẩn mực xã hội và mong đợi

của cộng đồng. Kỹ năng sống có chức năng đem lại hạnh phúc và hỗ trợ các

cá nhân trở thành người tích cực và có ích cho cộng đồng.

Ở Việt Nam, với Đề án đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục và đào

tạo, mục tiêu giáo dục đang chuyển hướng từ trang bị kiến thức nặng lý thuyết

sang trang bị những năng lực cần thiết và phẩm chất cho người học. Điều đó

cũng khẳng định thêm tầm quan trọng và yêu cầu thiết yếu đưa giáo dục kĩ

năng sống vào trường học cùng với các môn học và các hoạt động giáo dục.

Giáo dục kỹ năng sống là rất quan trọng và cần thiết cho học sinh.

Giáo dục kỹ năng sống giúp cho học sinh phát triển nhân cách, thể chất, tình



11



cảm, giao tiếp, ngơn ngữ, tư duy một cách toàn diện, là nền tảng để các em tự

tin bước vào đời.

1.3.4. Nội dung của hoạt đợng trải nghiệm sáng tạo và mợt số hình

thức trải nghiệm sáng tạo.

Phương pháp dạy học theo quan điểm phát triển năng lực khơng chỉ chú

ý tích cực hóa học sinh về mặt trí tuệ mà còn chú ý rèn luyện năng lực giải

quyết vấn đề gắn với những tình huống của cuộc sống và nghề nghiệp, đồng

thời gắn hoạt động trí tuệ với hoạt động thực hành, thực tiễn. Tăng cường việc

học tập trong nhóm, đổi mới quan hệ giáo viên – học sinh theo hướng cộng

tác có ý nghĩa quan trọng nhằm phát triển năng lực xã hội. Các hoạt động cá

nhân, nhóm được tổ chức linh hoạt sao cho vừa giúp học sinh huy động kiến

thức, kỹ năng, kinh nghiệm của bản thân, vừa xây dựng được ý thức hợp tác,

tinh thần học tập lẫn nhau.

Bên cạnh việc học tập những tri thức và kỹ năng riêng lẻ của các môn

học chuyên môn cần bổ sung các chủ đề học tập phức hợp nhằm phát triển

năng lực giải quyết các vấn đề phức hợp.

Thực tế cho thấy, áp dụng phương pháp học này, học sinh tỏ ra rất hào

hứng với nội dung bài học, vốn kiến thức tổng hợp của học sinh được bổ sung

nhẹ nhàng, tự nhiên nhưng rất hiệu quả.

Môn Ngữ văn trong chương trình THPT có thể trải nghiệm sáng tạo

bằng nhiều hình thức:

- Có thể quan sát hình ảnh để trao đổi một vấn đề nào đó có liên quan

đến bài học, thiết kế dưới dạng kết nối hoặc những câu hỏi nhẹ nhàng.

- Một số hoạt động có thể yêu cầu học sinh đọc diễn cảm, kể chuyện,

ngâm thơ, hát hoặc vẽ tranh về chủ đề liên quan đến bài học. Các hoạt động

này trong một số trường hợp thiết kế thành cuộc thi nhằm tạo khơng khí sơi

nổi, hứng thú cho học sinh.

- Tổ chức hoạt động trải nghiệm bằng trò chơi, hoạt động tham quan

thực tế, sắm vai, hoạt động nhóm, ứng dụng giải quyết vấn đề thực tiễn.



12



1.3.5. Tầm quan trọng của hoạt động trải nghiệm sáng tạo, phát huy

năng lực học sinh THPT

Sự phát triển nhanh chóng về thông tin cũng như khoa học kĩ thuật đã

thay đổi hình thái giáo dục. Giáo dục đang chuyển dần từ giáo dục theo nội

dung kiến thức sang giáo dục theo năng lực, theo đó người học khi tốt nghiệp

ra trường có đủ năng lực để nắm vững kiến thức và kĩ năng nhằm đáp ứng yêu

cầu của xã hội cũng như thị trường lao động. Hệ thống giáo dục của Việt Nam

để theo kịp với các hệ thống giáo dục tiên tiến trên thế giới cũng đã bắt đầu

chuyển đổi sang hình thái giáo dục năng lực.

Trước yêu cầu về đổi mới giáo dục, những năm gần đây, Bộ GD&ĐT đã

yêu cầu các trường phổ thông chú trọng đổi mới phương pháp dạy học, tăng

cường các hoạt động trải nghiệm sáng tạo để phát triển phẩm chất, năng lực

cho học sinh. Vì vậy, nhà trường các cấp đã chú trọng công tác tổ chức các

hoạt động trải nghiệm cho HS.

Việc tổ chức các hoạt động ngoại khóa trải nghiệm, nâng cao kiến thức kỹ

năng sống, đặc biệt là hoạt động hướng nghiệp cho học sinh là điều cần được

khuyến khích trong trường học. Bởi lẽ hoạt động này giúp các em phát triển

tồn diện, năng động, sáng tạo, thích nghi tốt với môi trường sống.

Tại thành phố Hà Nội, hoạt động trải nghiệm sáng tạo cho học sinh

những năm gần đây được các nhà trường coi trọng. Giờ học Lịch sử, Giáo dục

công dân của học sinh Trường THPT Nguyễn Tất Thành được giáo viên lồng

ghép vào các hoạt động ngoại khóa. Học sinh được đến tham quan làng Cốm

Vòng, từ đó các em sưu tầm, làm video clip trải nghiệm. Tương tự, đến tham

quan làng gốm Bát Tràng học sinh vừa được quan sát thực tế các hoạt động

của làng gốm từ khâu chọn đất, nhào đất, nặn, phơi, nung, và bày bán sản

phẩm…vv.



13



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Cơ sở lí luận

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×