Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Các yếu tố ảnh hưởng

Các yếu tố ảnh hưởng

Tải bản đầy đủ - 0trang

Nếu tăng tốc độ cho sữa vào, có nghĩa là sữa phải đi qua thùng quay nhanh hơn thì lực ly tâm tác

dụng lên sữa sẽ ít hơn, một phần các cầu béo không kịp tách khỏi sữa dẫn tới hàm lượng chất béo trong sữa

gầy cao.

Khi giảm tốc độ cho sữa vào, lực ly tâm tác dụng lên sữa sẽ lâu hơn, chất béo tách được triệt dể hơn.

Tuy nhiên, việc giảm tốc độ này làm giảm công suất của máy [7].

4.4.



Nhiệt độ của sữa



Sữa lạnh có độ nhớt cao làm giảm hiệu suất ly tâm, đặc biệt dối với các cầu béo có kích thước nhỏ.

Sữa được đun tới 40 - 45°C có độ nhớt nhỏ hơn hai lần so với độ nhớt cũng của sữa đó ở 10°C [8].

4.5.



Hàm lượng chất béo của sữa

Chất lượng sữa gầy phụ thuộc vào hàm lượng chất béo của sữa.



Sữa nguyên liệu thường có hàm lượng chất béo 4%. Khi sữa có hàm lượng chất béo cao hơn, cần gia

nhiệt tới 40 - 45°C và giảm tốc độ cho sữa vào để đảm bảo ly tâm đạt kết quả tốt [9].

5.



Thiết bị



5.1.



Máy ly tâm lắng



5.1.1. Máy ly tâm siêu tốc loại đĩa

Đây là thiết bị được dùng phổ biến trong công nghệ chế biến sữa.

Máy phân ly siêu tốc loại đĩa có nhiều loại: loại hở, loại kín, loại nửa kín, loại tháo bã bằng tay và

bằng ly tâm. Ðây là nhóm có nhiều máy nhất trong các loại máy ly tâm siêu tốc. Máy ly tâm siêu tốc loại

dĩa dùng để phân li huyền phù có hàm lượng pha rắn nhỏ hoặc phân ly nhũ tương khó phân ly. Máy ly tâm

siêu tốc loại dĩa dùng để tách bơ trong sữa, tinh luyện dầu thực vật và lắng trong các chất béo.

5.1.1.1.

Cấu tạo

Thiết bị gồm có thân máy, bên trong là thùng quay, được nối với một motor truyền động bên ngồi

thơng qua trục dẫn. Các đĩa quay có đường kính dao động từ 20  102 cm và được xếp chồng lên nhau. Các

lỗ trên đĩa ly tâm sẽ tạo nên những kênh dẫn theo phương thắng đứng. Khoảng cách giữa hai đĩa ly tâm liên

tiếp là 0.5  1.3 mm. Dĩa trên được giữ nhờ các gân trên mặt ngồi của dĩa dưới. Ðộ nghiêng của dĩa nón

cần đủ đảm bảo để hạt vật liệu trượt xuống tự do (thường góc nửa đỉnh nón từ 30-500)



1 Máy phát điện



9 Trục rỗng dẫn nhập liệu



2 Nắp trống lọc



10 Lớp vỏ áo



3 Lỗ phân phối



11 Lỗ xả cặn



4 Hệ thống đĩa



12 Động cơ



5 Vành đai ốc cố định trống



13 Phanh



6 Lỗ dẫn huyền phù nhập liệu



14 Bánh răng



7 Trống trượt dưới



15 Hệ thống nước hoạt động



8 Thân trống



16 Trục trống rỗng



Chức năng của một số bộ phận chính trong máy lọc được đưa ra dưới đây.

Nắp trống lọc (Bowl hood): Nắp trống được cố định với thân trống bởi đai ốc hãm, nắp trống kết

hợp với thân trống tao thành không gian phân ly của máy ly tâm.

Trống trượt dưới (Sliding bowl bottom): là phần thấp nhất của trống lọc mà nó có thể trượt lên,

xuống trong thân trống để đóng hoặc mở trống.

Thân trống(Bowl body): Lả phần chính kết hợp giữa nắp trống với trống trượt dưới tạo thành không

gian phân ly.



Vành đai ốc cố định trống (Lock ring of Main bowl): Để cố định nắp trống với thân trống.

Thiết bị phân phối sữa nguyên liệu (Distributor): Phân phối sữa vào phía dưới của trống.

Chồng đĩa lọc (Disc set): Là toàn bộ các đĩa lọc xếp chồng lên nhau. Chúng tạo thành bề mặt phân ly

hiệu quả. Chồng đĩa được sếp chồng lên nhau và được cố định bởi thiết bị phân phối sữa. Một chồng đĩa có

khoảng 100-110 đĩa.



Hình 2. Hệ thống đĩa và các lỗ phân phối

5.1.1.2.

Nguyên lý hoạt động

Sữa được gia nhiệt đến 55- 65°C trước khi đưa vào thiết bị ly tâm tách béo. Sữa nguyên liệu được

nạp vào máy ly tâm theo cửa vào ống trục giữa (9), tiếp theo sữa sẽ theo hệ thống kênh dẫn (6) đế chảy vào

khoảng không gian hẹp giữa các đĩa ly tâm, khe hở giữa các đĩa của thùng quay khoảng 0,4mm. Sữa trong

thùng quay chuyển động với tốc độ 2-3cm/s . Dưới tác dụng của lực ly tâm, sữa sẽ được phân thành hai

phần:

-



Phần craem có khối lượng nhẹ hơn nên dưới tác dụng của gia tốc hướng tâm sẽ



chuyển động hướng về phía trục của thùng quay và tập trung ở xung quanh trục giữa. Các hạt cầu

béo có kích thước lớn tập trung ở gần tâm, càng xa tâm thì lượng cream càng giảm.

-



Phần sữa gầy có khối lượng riêng cao sẽ chuyến động về phía thành thùng quay.



Các tạm chất cơ học có trong sữa là thành phần nặng hơn so với plasma bị bắn vào thành tang

quay và tập hợp vào khoảng không gian giành chứa tạp chất.

Sữa nguyên liệu được tiếp tục đưa vào gây áp suất đẩy sữa gầy và cream lên phía trên.

Sau cùng cả hai dòng cream và sữa gầy sẽ theo những kênh riêng đế thoát ra ngồi. Khi ly tâm, chỉ

các hạt cầu béo có kích thước nhỏ mới bị lẫn vào dòng sữa gầy, Hình (Hình 3) sẽ chỉ rõ hướng di chuyển

của các kênh, mô tả cho ta thấy cách mà các hạt cầu béo được tách ra như thế nào. Hàm lượng chất béo

trung bình trong sữa gầy là 0,05%



Thiết bị làm việc theo phương pháp liên tục



Hình 3.Hướng di chuyển của các dòng trong máy ly tâm dạng đĩa

Ngồi ra máy còn phân tách được các rơm, lông, tế bào vú, bạch cầu, hồng cầu, các tiểu cầu, vi

khuẩn ... Tổng lượng tạp chất lắng trong sữa thay đổi tuỳ vào nguồn gốc nhưng có thể khoảng 1 kg/10 000

lít. Cơng đoạn tháo bỏ các tạm chất cần tiêu tốn nhiều nhân cơng [3].



Hình 4. Phân tách các tạp chất

Điều chỉnh hàm lượng chất béo của cream



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Các yếu tố ảnh hưởng

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×