Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
PHẦN II THỰC TRẠNG Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG Ở HUYỆN BA CHẼ, TỈNH QUẢNG NINH HIỆN NAY

PHẦN II THỰC TRẠNG Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG Ở HUYỆN BA CHẼ, TỈNH QUẢNG NINH HIỆN NAY

Tải bản đầy đủ - 0trang

Hệ thống sơng Qnh bắt nguồn từ huyện Hồnh Bồ chảy qua phía Nam xã

Minh Cầm, chảy theo hướng Bắc đổ vào sông Ba Chẽ dài (đây là nhánh bắt đầu

nguồn chính của sơng Ba Chẽ). Hệ thống sơng Đống bắt nguồn từ phía Nam xã

Đạp Thanh chảy về hướng Bắc, đổ vào sông Ba Chẽ dài 80km. Hệ thống sơng

Làng Cổng từ phía Nam xã Đồn Đạc, chảy về phía Bắc đổ vào sơng Ba Chẽ dài

95km. Hệ thống suối Khe Hương, Khe Lầy, Khe Liêu, Khe Buông, Khe Tráng

bắt nguồn từ phía Tây xã Lương Mơng đổ vào sông Ba Chẽ dài 150km.- Hệ

thống suối Khe Lạnh từ phía Bắc xã Thanh Lâm, chảy về phía Nam đổ vào sông

Ba Chẽ dài 75km. Hệ thống suối Khe Nháng cũng chảy từ phía Bắc xã Thanh

Lâm theo hướng Nam đổ vào sông Ba Chẽ, dài 70km. Suối Khe Tâm chảy từ

phía Bắc xã Nam Sơn theo hướng Nam đổ vào sông Ba Chẽ dài 75km.

Hầu hết các xã đều có đập nước trên các con suối, kèm theo là hệ thống

kênh mương dâng nước tưới cho lúa và hoa màu. Ngồi các sơng suối, nhân dân

Ba Chẽ có thể tận dụng nguồn nước bằng cách đào giếng phục vụ sinh hoạt.

Với hệ thống sông suối dày đặc nhiều ao hồ nhỏ vì vậy nguồn nước nơi đây

khá dồi dào, đặc biệt là sông Ba chẽ do vậy đáp ứng được nhu cầu nước sinh

hoạt và sản xuất Nông lâm nghiệp cho nhân dân trong vùng. Tuy nhiên vào mùa

mưa bão dễ gây lũ, lụt, sạt lở đất cục bộ chia cắt thành những vùng cô lập gây

ảnh hưởng lớn đến đời sống, sản xuất của nhân dân. Với địa hình chủ yếu là đất

lâm nghiệp đồi núi dốc nên nghề rừng phát triển mạnh, đồng thời với địa hình

dốc thoải ở một số khu vực thuộc các xã Lương Mông, Đạp Thanh, Thanh Lâm,

Thanh Sơn là điều kiện tốt cho phát triển chăn ni.

Nhìn chung chất lượng nước ở Ba Chẽ trong và tương đối sạch, PH trung

tính đạt yêu cầu đảm bảo cho sản xuất nông nghiệp. Nước trên các suối qua xử

lý sẽ đảm bảo chất lượng tốt đáp ứng nhu cầu nước sinh hoạt cho nhân dân.

Do có hệ thống sơng suối chằng chịt nên vào mùa mưa (nhất là vào tháng

8, tháng 9) thường xảy ra lũ lụt. Tại Thị trấn Ba Chẽ mực nước sơng Ba Chẽ có

năm dâng cao tới 5 - 6m (trận lũ lịch sử năm 2008) gây thiệt hại nặng nề cho

Học viên: Phan Thanh Sơn



Trang 9



huyện. Gần đây do việc khai thác rừng bừa bãi cho nên nguồn sinh thủy bị ảnh

hưởng, lượng nước rất hạn chế.

2.1.2. Về kinh tế - Xã hội

Là huyện miền núi, xuất phát điểm thấp tiềm năng thế mạnh chủ yếu là đất

rừng, sản xuất nơng lâm nghiệp, đời sống nhân dân còn gặp nhiều khó khăn,

trong những năm qua phát huy những tiềm năng, thế mạnh của huyện Đảng bộ

và nhân dân huyện Ba Chẽ đã chỉ đạo định hướng tập chung phát triển sản xuất

nông lâm nghiệp là trọng tâm, trọng điểm kết hợp với dịch vụ, công nghiệp, tiểu

thủ công nghiệp. Thành lập các Tổ hợp tác xã để tập hợp sản xuất hàng hóa tập

chung, bao tiêu sản phẩm cho nông hộ với phương châm chất lượng là hàng đầu,

do vậy kinh tế của huyện đang có những bước phát triển nhanh, quá trình

chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo đúng hướng, cùng với sự quan tâm đầu tư hỗ trợ

của Tỉnh cho xây dựng cơ sở hạ tầng tạo nên cho huyện một thế và lực mới, phát

triển đồng bộ trên các lĩnh vực: Kinh tế, Văn hóa, Xã hội, Mơi trường.

Dân số tồn huyện có 5.297 hộ dân, với dân số 22.188 người (tính đến hết

ngày 31/12/2017 theo số liệu của Chi cục Thống kê huyện). Tỷ lệ tăng dân số tự

nhiên là 1,937%, bình quân 4,1 khẩu/hộ.

- Huyện Ba Chẽ gồm 10 dân tộc anh em (Dao, Tày, Kinh, Hoa, Sán Dìu,

Sán Chỉ, Nùng, Cao Lan, Mường, Thái) cùng sinh sống tại 74 thôn, khe bản, khu

phố thuộc 07 xã và 01 thị trấn trên địa bàn huyện. Ttrong đó dân tộc thiểu số

chiếm 81,22% tổng dân số. Dân tộc Dao chiếm tỷ lệ cao nhất 41,78%, Sán Chỉ

14,60%, Tày 16,56%, Cao Lan 5,20%, Hoa 1,86%, Sán Dìu 1,15%, Mường

0,03%... Các dân tộc trong huyện hầu hết sống quần tụ theo dòng tộc, đời sống

và các sinh hoạt văn hóa tinh thần cũng được giữ gìn và phát triển.

Hệ thống mạng lưới trường lớp từ mầm non đến trung học theo hệ cơng

lập: bậc tiểu học có ở các thơn bản, bậc trung học có cơ sở ở trung tâm các xã,

thị trấn Ba Chẽ. Trường trung học phổ thông nằm ở trung tâm thị trấn Ba Chẽ

ngày càng được mở rộng đã cơ bản đáp ứng được nhu cầu học tập cho con em

đồng bào các dân tộc.

Học viên: Phan Thanh Sơn



Trang 10



Huyện có 1 Trung tâm y tế huyện, và 8 trạm y tế, 139 giường bệnh. Đội

ngũ cán bộ phục vụ trong ngành y tế gồm 84 người trong đó bác sĩ là 17 người,

y sỹ 19 người, y tá 36 người, nữ hộ sinh 5 người, hộ lý 7 người. Trong những

năm qua cơng tác chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân ngày càng được quan tâm,

chất lượng đội ngũ cán bộ được đào tạo nâng cao, đầu tư trang bị các loại thiết

bị chuyên dùng hiện đại để đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh cho nhân dân.

2.2. Thực trạng môi trường huyện Ba Chẽ hiện nay

Mặc dù các cơ quan, đơn vị và các địa phương đã có nhiều cố gắng trong

việc thực hiện chính sách, pháp luật về bảo vệ mơi trường (BVMT), nhưng tình

trạng ơ nhiễm mơi trường, đặc biệt là ô nhiễm nguồn nước đã và đang trở thành

vấn đề lớn ở huyện Ba Chẽ.

Nguồn nước tại sông Ba Chẽ ở một số nơi bị ô nhiễm, nhất là cụ thể xung

quanh công ty TNHH MTV SX hàng xuất khẩu ANT nằm tại địa bàn giáp ranh

giữa Thị trấn Ba Chẽ và xã Nam Sơn. Tuy đã có hệ thống xử lý nước thải nhưng

chất lượng nước thải qua kết luận của các đoàn kiểm tra liên ngành thì vẫn chưa

đạt tiêu chuẩn cho phép.

Tại các khu vực khai thác cát đá sỏi, hoạt động khai thác khoáng sản đã và

đang gây nhiều tác động xấu đến môi trường xung quanh như thải đất đá và làm

xói mòn bờ sông, bờ suối; làm thay đổi hệ sinh thái rừng, suy thối và ơ nhiễm

đất nơng nghiệp. Ngồi ra, hiện nay nhiều tổ chức, cá nhân chưa thực hiện hoặc

thực hiện chưa tốt nghĩa vụ cải tạo, phục hồi mơi trường sau khi đóng cửa mỏ,

giảm hiệu quả sử dụng đất. Và hậu quả của ô nhiễm môi trường từ những hoạt

động khai thác khoáng sản đã quá rõ ràng khi người dân nhìn thấy dòng sơng Ba

Chẽ các năm gần đây thường xun bị đục, khơng còn trong xanh như trước.

Về đa dạng sinh học, huyện Ba Chẽ là một trong những nước có tính đa

dạng sinh học vào nhóm cao nhất Việt Nam với những kiểu hệ sinh thái tự

nhiên, nguồn gen phong phú và đặc hữu.

Hệ động vật: Có khoảng 250 lồi động vật hoang dã, trong đó: thú: 8 bộ,

22 họ, 59 lồi; chim: 18 bộ, 44 họ, 154 lồi; bò sát, lưỡng thê gồm: 37 lồi

Học viên: Phan Thanh Sơn



Trang 11



(trong đó bò sát 15 loài, lưỡng thê 22 loài). Hệ thực vật Ba Chẽ có 1.027 lồi,

80 họ và 6 ngành, một số ngành lớn như: Ngành mộc lan (Magnolio phyta):

951 loài; Ngành dương xỉ (Polypodiophyta): 58 lồi; ngành thơng (Pinophyta):

11 lồi.

Trong tổng số 1027 loài thực vật được thống kê ở Ba Chẽ, danh sách các

loài cây dược liệu đã được điều tra của Bộ Y tế có tới 30 lồi dược liệu có giá

trị cao như Ba kích tím, Trà hoa vàng, Quế, Lan kim tuyến, Nấm lim xanh, Cát

sâm, Sâm cau đỏ, Đẳng Sâm, Hà thủ ô đỏ, Địa liền… Vì vậy Ba Chẽ có tiềm

năng rất lớn để thành lập một vườn bảo tồn cây dược liệu có giá trị nhằm phát

triển vùng nguyên liệu thảo dược phục vụ thị trường trong nước và xuất khẩu.

Nguồn tài nguyên dược liệu tự nhiên của Ba Chẽ độc đáo và mức độ đặc

hữu cao và còn chưa khám phá hết. Từ lâu đời, người dân huyện Ba Chẽ đã tự

thu hái các cây dược liệu quý ngoài tự nhiên như Ba kích tím, Trà hoa vàng,

Nấm lim xanh, sâm cau đỏ, cát sâm, Lan kim tuyến, mai vàng Yên Tử … để sử

dụng hoặc thương mại hóa.

Do nhiều nguyên nhân khác nhau như: khai thác bừa bãi, khơng có quy

hoạch; sử dụng chất nổ, các dụng cụ kích điện để đánh bắt hải sản trên địa bàn

huyện Ba Chẽ mà nguồn tài nguyên vô giá này đang bị cạn kiệt, suy giảm

thành phần lồi, diện tích rừng tự nhiên bị thu hẹp dẫn đến nơi sinh sống của

các loài đặc hữu, dược liệu quý bị đe dọa.

Việc bảo tồn dược liệu tại Ba Chẽ chưa được thực hiện một cách bài bản

và quan tâm đúng mức; chưa có sự gắn kết trong bảo tồn và phát triển nên việc

bảo tồn chỉ thực hiện ở mức độ nhỏ lẻ, khơng có tính bền vững; Hiện chưa có

đánh giá, kiểm kê chuyên sâu số lượng cây thuốc và hiện trạng trên địa bàn

huyện. Nếu được đưa vào khai thác một cách có hệ thống kèm theo kiểm sốt

quần thể và có sự quản lý chặt chẽ có thể tạo ra một lượng hàng hóa có giá trị

khá lớn, mang lại nguồn thu nhập đáng kể cho người dân.

Mặc dù còn gặp nhiều khó khăn thách thức song được sự lãnh đạo, chỉ đạo

quyết liệt, kịp thời của của Thường trực Tỉnh ủy, HĐND, UBND Tỉnh; sự phối

Học viên: Phan Thanh Sơn



Trang 12



hợp tích cực của Sở Tài nguyên và Môi trường hướng dẫn về công tác chuyên

môn, cùng với sự quyết tâm thực hiện của nhân dân các dân tộc huyện Ba Chẽ

đã hoàn thành tốt một số chỉ tiêu như: Nâng tỷ lệ che phủ rừng trên địa bàn

huyện từ 57% (năm 2013) lên 70% (năm 2017), Tỷ lệ dân cư được sử dụng nước

sạch ở đô thị: 98%. Công tác quản lý đất đai được tăng cường dần số hóa dữ liệu

đất đai, công tác cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đạt trên 90% diện tích

cần cấp.

Trong cơng tác Phòng ngừa và kiểm sốt ơ nhiễm mơi trường đã xây dựng

và đi vào hoạt động lò đốt rác thải nông thôn bước đầu đã cho thấy hiệu quả rõ

rệt, rất khả quan. Công tác đăng ký đề án bảo vệ môi trường đơn giản/cam kết

bảo vệ môi trường ngày càng đi vào lề nếp giúp cho việc kiểm soát môi trường

ngày càng hiệu quả. Công tác xây dựng lập Quy hoạch, kế hoạch bảo vệ môi

trường ngày càng đồng bộ và phù hợp với tình hình thực tiễn của địa phương,

việc kiểm tra, giám sát việc thực hiện theo quy hoạch, kết hoạch, các hoạt động

gây ô nhiễm mô trường được thực hiện thường xuyên chặt chẽ từng bước đi vào

ổn định.

Cơng tác dự báo tình hình, xây dựng kế hoạch ứng phó với biến đổi khí hậu

được thực hiện thường xuyên, liên tục góp phần giảm thiểu thiệt hại khi có thiên

tai xảy ra.

Cơng tác tun truyền vận động được thực hiện thường xuyên, liên tục

bằng nhiều hình thức đã góp phần nâng cao nhận thức của cộng đồng đối với

công tác bảo vệ môi trường một cách rõ rệt; xây dựng và hoàn thành quy hoạch

bảo vệ mơi trường huyện Ba Chẽ đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 trình

UBND huyện phê duyệt, quy hoạch điểm tập kết xử lý rác thải tại các điểm dân

cư tập trung; nâng diện tích đất bố trí phục vụ cho xây dựng cơng trình xử lý rác

thải được nâng lên từ 1,2 ha năm 2013 lên 6,5 ha từ năm 2015 đến 2020.

Kinh phí chi cho sự nghiệp mơi trường đều từ ngân sách Nhà nước. Nguồn

ngân sách này hàng năm được huyện sử dụng hợp lý, đúng mục đích, có hiệu



Học viên: Phan Thanh Sơn



Trang 13



quả. Đồng thời kêu gọi và tạo mọi điều kiện thuận lợi để các doanh nghiệp, các

nhà đầu tư các cơng trình bảo vệ môi trường trên địa bàn huyện.

2.3. Những tồn tại, hạn chế; nguyên nhân chủ yếu dẫn đến hệ quả về ô

nhiễm môi trường:

2.3.1. Những tồn tại, hạn chế:

Công tác bảo vệ môi trường tuy đã đạt được những kết quả tích cực, nhưng

vẫn còn có những tồn tại, hạn chế cụ thể như sau:

Thứ nhất, một số chỉ tiêu chưa hoàn thành như: Việc xây dựng cơ sở dữ

liệu quản lý đất đai trên địa bàn huyện; 70% hộ gia đình nơng thơn có nhà vệ

sinh đạt u cầu... trang thiết bị phục vụ cho công tác kiểm tra giám sát tới công

tác bảo vệ môi trường, quan trắc, đa dạng sinh học... còn thiếu; hệ thống thu

gom xử lý nước thải chưa được đầu tư đồng bộ; việc áp dụng công nghệ sạch và

thân thiện với môi trường, tiết kiệm nguyên, nhiên liệu còn hạn chế.

Thứ hai, nhận thức của cộng đồng về bảo vệ mơi trường nhìn chung còn

hạn chế, chưa có ý thức tự giác bảo vệ mơi trường sống và tài ngun thiên

nhiên, tình trạng vứt rác, xả nước thải bừa bãi ra các khu đất trống và khu cơng

cộng còn xảy ra ở một số nơi.

Thứ ba, kinh phí chi cho sự nghiệp bảo vệ môi trường, thu gom xử lý rác

thải, nước thải. Tuy đã được quan tâm nhưng vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu

với nhu cầu thực tế, vẫn còn thiếu cơ sở hạ tầng thiết yếu về môi trường như:

một số hạng mục hạ tầng kết nối phục vụ cho lò đốt rác còn chưa được đầu tư

hồn thiện; trang thiết bị phục vụ cho công tác kiểm tra giám sát còn thiếu; hệ

thống thu gom xử lý nước thải tập trung ở đô thị, xử lý rác thải trên địa bàn cụm

xã xa trung tâm chưa được đầu tư...

Thứ tư, là huyện miền núi nguồn ngân sách hạn hẹp nên việc bố trí kinh

phí cho cơng tác quản lý đất đai, bảo vệ mơi trường, biến đổi khí hậu trên địa

bàn huyện chưa đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ; doanh nghiệp đóng trên địa

bàn huyện ít nên việc huy động từ nguồn vốn xã hội hóa gặp rất nhiều khó khăn.

Học viên: Phan Thanh Sơn



Trang 14



Thứ năm, việc lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức thực hiện đôi khi còn chậm, đặc

biệt là cấp cơ sở. Cơng tác kiểm tra giám sát chưa được thực hiện thường xuyên,

liên tục.

2.3.2. Nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế:

Thực trạng môi trường nêu trên có nhiều nguyên nhân khác nhau, song tập

trung ở các nguyên nhân chủ yếu sau đây:

Thứ nhất, một số chỉ tiêu đặt ra cao rất khó có thể hoàn thành đối với một

số huyện miền núi, hải đảo còn gặp nhiều khó khăn như: Chỉ tiêu nước sạch

nơng thơn đạt 92%, 70% hộ gia đình nơng thơn có nhà vệ sinh đạt u cầu.

Thứ hai, cơng tác tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức về biến đổi

khí hậu, bảo vệ mơi trường, quản lý tài ngun chưa tồn diện và sinh động, quy

mơ còn hẹp, chưa có lực lượng chuyên nghiệp nên hiệu quả chưa cao. Dẫn đến

chưa phát huy được ý thức tự giác, trách nhiệm của một bộ phận không nhỏ cán

bộ, đảng viên và nhân dân chưa có nhận thức đầy đủ về cơng tác bảo vệ mơi

trường và chưa có ý thức tốt trong việc chấp hành các quy định của pháp luật.

Thứ ba, lực lượng cán bộ còn quá mỏng, chủ yếu là kiêm nhiệm, chưa có

chun mơn trong cơng tác bảo vệ mơi trường, biến đổi khí hậu; hành lang pháp

lý vẫn còn nhiều bất cập nên các hoạt động này vẫn chưa thực sự chủ động; Cơ

sở pháp lý, chế tài xử phạt đối với các loại hành vi gây ô nhiễm môi trường và

các loại tội phạm về môi trường vừa thiếu, vừa chưa đủ mạnh dẫn đến hạn chế

tác dụng giáo dục, phòng ngừa, răn đe đối với những hành vi xâm hại mơi

trường. Rất ít trường hợp gây ơ nhiễm mơi trường bị xử lý hình sự; còn các biện

pháp xử lý khác như buộc phải di dời ra khỏi khu vực gây ơ nhiễm, đóng cửa và

đình chỉ hoạt động của các cơ sở gây ô nhiễm môi trường cũng không được áp

dụng nhiều, hoặc có áp dụng nhưng các cơ quan chức năng thiếu kiên quyết,

doanh nghiệp chây ỳ nên cũng khơng có hiệu quả.

Thứ tư, kinh phí dành cho cơng tác BVMT tại địa phương còn rất hạn hẹp,

cơ sở hạ tầng chưa được đầu tư xây dựng hoàn thiện, các trang thiết bị, kỹ thuật

phục vụ công tác kiểm tra, đánh giá về BVMT chưa được trang bị. Còn thiếu các

Học viên: Phan Thanh Sơn



Trang 15



cơ chế huy động nguồn lực trong xã hội đầu tư cho BVMT; nguồn thu từ môi

trường chưa được sử dụng đầu tư trở lại cho BVMT. Nguồn vốn từ ngân sách

đầu tư hàng năm chưa đáp ứng được yêu cầu thực tế về cải thiện môi trường,

tăng cường cơ sở vật chất, hạ tầng thiết bị hiện đại phục vụ cho công tác quản lý

tài nguyên thiên nhiên và BVMT. Việc sử dụng các công cụ thuế, phí, ký quỹ,

đặt cọc hồn trả kém hiệu quả, chưa tạo được nguồn thu tương xứng để đầu tư

trở lại cho công tác BVMT, chưa đảm bảo đúng nguyên tắc “người gây ô nhiễm

phải trả tiền”, “người hưởng lợi về mơi trường phải chi tiền”.

Thứ năm, trình độ chun môn, nghiệp vụ của đội ngũ cán bộ chuyên trách

công tác BVMT còn hạn chế, phương tiện kỹ thuật phục vụ công tác thanh tra,

kiểm tra chưa đáp ứng được đòi hỏi của thực tiễn.



Học viên: Phan Thanh Sơn



Trang 16



PHẦN III

GIẢI PHÁP KHẮC PHỤC, HẠN CHẾ Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG



Quá trình tăng trưởng, phát triển kinh tế của Việt Nam hiện nay đang đặt ra

yêu cầu cấp thiết về bảo vệ mơi trường đối với cả hệ thống chính trị, các cấp,

các ngành, các tổ chức, doanh nghiệp và của mọi công dân. Nhận thức rõ tầm

quan trọng của vấn đề này, những năm qua, hệ thống pháp luật về BVMT và hệ

thống quản lý môi trường ngày càng được kiện toàn, Đảng và Nhà nước ta đã

ban hành nhiều chủ trương, chính sách về BVMT, đánh dấu bằng việc Quốc hội

thông qua Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 với nhiều điểm mới, thay thế Luật

Bảo vệ môi trường năm 2005. Cùng với đó, các Nghị định của Chính phủ, quyết

định của Thủ tướng Chính phủ về BVMT đã được ban hành. Các văn bản pháp

quy này đã bước đầu tạo ra một số chuyển biến tích cực trong hoạt động BVMT,

song vẫn còn nhiều mặt chưa đáp ứng được đòi hỏi của thực tiễn.

Sức ép từ q trình phát triển kinh tế - xã hội đã và đang tiếp tục làm gia

tăng nhiều áp lực đối với môi trường, gây ra khơng ít vấn đề mơi trường, làm gia

tăng các xung đột liên quan đến môi trường trong xã hội.

Với đặc thù là địa phương miền núi như huyện Ba Chẽ, chủ yếu hướng đến

các mục tiêu sau:

- Ngăn ngừa, hạn chế mức độ gia tăng ô nhiễm, suy thối và sự cố mơi

trường do hoạt động của con người và tác động của tự nhiên gây ra. Sử dụng bền

vững tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ đa dạng sinh học (các nguồn dược liệu

giống bản địa quý hiếm như Ba kích tím, Trà hoa vàng, nấm lim xanh, Mai vàng

Yên Tử, ...).

- Khắc phục ô nhiễm môi trường, trước hết ở những nơi đã bị ô nhiễm

nghiêm trọng như khu vực Nhà máy giấy xã Nam Sơn, ... , phục hồi các hệ sinh

thái đã bị suy thoái đặc biệt là rừng tự nhiên để từng bước nâng cao chất lượng

môi trường.

Học viên: Phan Thanh Sơn



Trang 17



- Xây dựng huyện có mơi trường tốt, có sự hài hồ giữa tăng trưởng kinh

tế, thực hiện tiến bộ cơng bằng xã hội và bảo vệ môi trường, mọi người đều có ý

thức bảo vệ mơi trường.

Để đạt được các mục tiêu trên, bản thân em đề xuất một số nhiệm vụ, giải

pháp chính như sau:

Thứ nhất, Đẩy mạnh cơng tác tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức

và trách nhiệm bảo vệ mơi trường.

Đưa ứng phó với biến đổi khí hậu và bảo vệ tài ngun, mơi trường vào

nội dung sinh hoạt của các cấp ủy đảng, chính quyền, đồn thể xã hội; chương

trình đào tạo giáo dục cho các cấp học, bậc học đặc biệt là các trường Phổ thơng,

Tiểu học, Mầm non góp phần lớn nâng cao nhận thức của học sinh về cơng tác

giữ gìn và bảo vệ môi trường. Nhiệm vụ bảo vệ môi trường là nhiệm vụ tồn dân

vì thế cơng tác tun truyền, giáo dục về trách nhiệm và nghĩa vụ bảo vệ môi

trường phải được thực hiện ở mọi lứa tuổi, mọi tầng lớp.

Lựa chọn hình thức tuyên truyền, giáo dục sao cho phù hợp dễ nhớ, dễ hiểu

cảm nhận bằng trực quan sinh động tránh chung chung, hình thức.

Xây dựng mạng lưới tuyên truyền viên từ cấp tỉnh đến cấp xã về ứng phó

với biến đổi khí hậu và bảo vệ mơi trường. Phát huy vai trò của cơ quan truyền

thanh, truyền hình trong cơng tác tuyền truyền vận động nâng cao nhận thức

cộng đồng.

Thứ hai, đổi mới, bổ sung hoàn thiện chính sách, pháp luật về ứng phó với

biến đổi khí hậu và bảo vệ tài ngun, mơi trường và đẩy mạnh công tác thành

tra, kiểm tra, giám sát việc thực hiện.

Tiếp tục bổ sung hồn thiện cơ chế, chính sách, pháp luật theo hướng chặt

chẽ, phân cấp thực hiện cho phù hợp tránh bất cập, chồng chéo giữa các cấp.

Bổ sung hồn thiện cơ chế chính sách ưu đãi, hỗ trợ cho phù hợp đặc biệt

với những khu vực miền núi, hải đảo cần phải có chính sách riêng.



Học viên: Phan Thanh Sơn



Trang 18



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

PHẦN II THỰC TRẠNG Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG Ở HUYỆN BA CHẼ, TỈNH QUẢNG NINH HIỆN NAY

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×