Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
PHẦN I VỊ TRÍ VAI TRÒ CỦA MÔI TRƯỜNG

PHẦN I VỊ TRÍ VAI TRÒ CỦA MÔI TRƯỜNG

Tải bản đầy đủ - 0trang

+ Sản xuất cho ai để đảm bảo giữa lợi nhuận và lợi ích, cơng bằng xã hội,

mơi trường. Điều này còn tùy vào trình độ phát triển của nền kinh tế xã hội và

điều hành quản lý của nhà nước.

Như vậy có thể hiểu: Nền kinh tế hay hệ thống kinh tế là phương thức cung

cấp cho những mong muốn và nhu cầu của người dân trong từng giai đoạn của

sự phát triển của phương thức sản xuất nhất định.

Quá trình hoạt động của hệ thống kinh tế và quá trình thải của hệ thống

kinh tế:

( R -> Wr ) => ( P -> Wp ) => ( C -> Wc )

Trong đó: R: Tài nguyên; P: sản xuất; C: tiêu dùng, Wr: chất thải tài

nguyên; Wp: chất thải sản xuất; Wc: chất thải tiêu dùng.

Đảng thức: R = W = Wr + Wp + Wc (lượng tài nguyên đưa vào sử dụng cho

hệ thống kinh tế bằng với tổng lượng thải trong quá trình hoạt động của hệ thống).

1.1.2. Hệ thống mơi trường:

Hệ thống mơi trường có thể hiểu là môi trường tự nhiên, bao gồm nhiều

thành phần như khí quyển, thủy quyển, thạch quyển, sinh quyển, … có ảnh

hưởng đến đời sống của con người.

Theo nghĩa rộng hệ thống mơi trường có tính đến tài ngun. Ngồi chức

năng khơng gian sống, còn có hai chức năng:

+ Cung cấp tài nguyên cho hệ kinh tế.

+ Chứa và đồng hóa chất thải của hệ kinh tế.

1.1.3. Vai trò của Hệ thống môi trường:

- Môi trường là nơi chứa đựng chất thải: bao gồm chất thải của sản xuất và

chất thải của sinh hoạt.

- Môi trường là nơi cung cấp tài nguyên cho hệ thống kinh tế.

- Môi trường là không gian sống của con người.

Học viên: Phan Thanh Sơn



Trang 4



1.2. Phát triển bền vững

Phát triển bền vững là một phương thức phát triển tổng hợp đa ngành, liên

ngành, thành chương trình hành động với nhiều tiêu chí ngày càng được cụ thể

và rõ nét. Phát triển bền vững, mang tính tất yếu và là mục tiêu cao đẹp của quá

trình phát triển.

Phát triển bền vững là mối quan tâm trên phạm vi tồn cầu. Trong tiến trình

phát triển của thế giới, mỗi khu vực và quốc gia xuất hiện nhiều vấn đề bức xúc

mang tính phổ biến. Kinh tế càng tăng trưởng thì tình trạng khan hiếm các loại

nguyên nhiên liệu, năng lượng do sự cạn kiệt các nguồn tài nguyên không tái tạo

được càng tăng thêm, môi trường thiên nhiên càng bị hủy hoại, cân bằng sinh

thái bị phá vỡ, thiên nhiên gây ra những thiên tai vô cùng thảm khốc.

Đó là sự tăng trưởng kinh tế khơng cùng nhịp với tiến bộ và phát triển xã

hội. Có tăng trưởng kinh tế nhưng khơng có tiến bộ và cơng bằng xã hội; tăng

trưởng kinh tế nhưng văn hóa, đạo đức bị suy đồi; tăng trưởng kinh tế làm dãn

cách hơn sự phân hóa giàu nghèo, dẫn tới sự bất ổn trong xã hội. Vì vậy, quá

trình phát triển cần có sự điều tiết hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế với bảo đảm

an ninh xã hội và bảo vệ môi trường hay phát triển bền vững đang trở thành yêu

cầu bức thiết đối với toàn thế giới.

Năm 1980, trong bản “Chiến lược bảo tồn thế giới” do Liên minh Quốc tế

Bảo tồn Thiên nhiên và Tài nguyên Thiên nhiên (IUCN-International Union for

Conservation of Nature and Natural Resources) đã đưa ra mục tiêu của phát triển

bền vững là “đạt được sự phát triển bền vững bằng cách bảo vệ các tài nguyên

sinh vật” và thuật ngữ phát triển bền vững ở đây được đề cập tới với một nội

dung hẹp, nhấn mạnh tính bền vững của sự phát triển về mặt sinh thái, nhằm kêu

gọi việc bảo tồn các tài nguyên sinh vật.

Năm 1987, trong Báo cáo “Tương lai chung của chúng ta”, Ủy ban Thế

giới về Môi trường và Phát triển (WCED-World Commission on Environment

and Development) của Liên hợp quốc, “Phát triển bền vững” được định nghĩa là



Học viên: Phan Thanh Sơn



Trang 5



“Sự phát triển đáp ứng được nhu cầu của hiện tại mà không làm tổn thương khả

năng cho việc đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai”.

Quan niệm này chủ yếu nhấn mạnh khía cạnh sử dụng hiệu quả nguồn tài

nguyên thiên nhiên và bảo đảm môi trường sống cho con người trong quá trình

phát triển. Phát triển bền vững là một mơ hình chuyển đổi mà nó tối ưu các lợi ích

kinh tế và xã hội trong hiện tại nhưng không hề gây hại cho tiềm năng của những

lợi ích tương tự trong tương lai (Gôdian và Hecdue, 1988, GS. Grima Lino).

Nội hàm về phát triển bền vững được tái khẳng định ở Hội nghị Thượng

đỉnh Trái đất về Môi trường và phát triển tổ chức ở Rio de Janeiro (Brazil) năm

1992 và được bổ sung, hoàn chỉnh tại Hội nghị Thượng đỉnh thế giới về Phát

triển bền vững tổ chức ở Johannesburg (Cộng hoà Nam Phi) năm 2002: “Phát

triển bền vững” là q trình phát triển có sự kết hợp chặt chẽ, hợp lý và hài hòa

giữa 3 mặt của sự phát triển, gồm: phát triển kinh tế (nhất là tăng trưởng kinh

tế), phát triển xã hội (nhất là thực hiện tiến bộ, cơng bằng xã hội; xố đói giảm

nghèo và giải quyết việc làm) và bảo vệ môi trường (nhất là xử lý, khắc phục ô

nhiễm, phục hồi và cải thiện chất lượng mơi trường; phòng chống cháy và chặt

phá rừng; khai thác hợp lý và sử dụng tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên).

Quan niệm về phát triển bền vững dần được hình thành từ thực tiễn đời

sống xã hội và có tính tất yếu. Tư duy về phát triển bền vững bắt đầu từ việc

nhìn nhận tầm quan trọng của bảo vệ mơi trường và tiếp đó là nhận ra sự cần

thiết phải giải quyết những bất ổn trong xã hội. Năm 1992, Hội nghị thượng

đỉnh về Môi trường và Phát triển của Liên hợp quốc được tổ chức ở Rio de

Janeiro đề ra Chương trình nghị sự tồn cầu cho thế kỷ XXI, theo đó, phát triển

bền vững được xác định là: “Một sự phát triển thỏa mãn những nhu cầu của thế

hệ hiện tại mà không làm hại đến khả năng đáp ứng những nhu cầu của thế hệ

tương lai”.

Nội hàm về phát triển bền vững được tái khẳng định ở Hội nghị Thượng

đỉnh Trái đất về Môi trường và phát triển tổ chức ở Rio de Janeiro (Brazil) năm

1992 và được bổ sung, hoàn chỉnh tại Hội nghị Thượng đỉnh thế giới về Phát

Học viên: Phan Thanh Sơn



Trang 6



triển bền vững tổ chức ở Johannesburg (Cộng hoà Nam Phi) năm 2002: “Phát

triển bền vững” là quá trình phát triển có sự kết hợp chặt chẽ, hợp lý và hài hòa

giữa 3 mặt của sự phát triển, gồm: phát triển kinh tế (nhất là tăng trưởng kinh

tế), phát triển xã hội (nhất là thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội; xố đói giảm

nghèo và giải quyết việc làm) và bảo vệ môi trường (nhất là xử lý, khắc phục ô

nhiễm, phục hồi và cải thiện chất lượng mơi trường; phòng chống cháy và chặt

phá rừng; khai thác hợp lý và sử dụng tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên).

Về nguyên tắc, phát triển bền vững là quá trình vận hành đồng thời ba bình

diện phát triển: kinh tế tăng trưởng bền vững - xã hội thịnh vượng, công bằng,

ổn định, văn hố đa dạng - và mơi trường được trong lành, tài nguyên được duy

trì bền vững. Do vậy, hệ thống hoàn chỉnh các nguyên tắc đạo đức cho phát triển

bền vững bao gồm các nguyên tắc phát triển bền vững trong cả “ba thế chân

kiềng” kinh tế, xã hội, môi trường.

Cho tới nay, quan niệm về phát triển bền vững trên bình diện quốc tế có

được sự thống nhất chung và mục tiêu để thực hiện phát triển bền vững trở thành

mục tiêu thiên niên kỷ.



Học viên: Phan Thanh Sơn



Trang 7



PHẦN II

THỰC TRẠNG Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG Ở HUYỆN BA CHẼ,

TỈNH QUẢNG NINH HIỆN NAY



2.1. Thông tin chung về huyện Ba Chẽ

2.1.1. Điều kiện tự nhiên:

Huyện Ba Chẽ cách thành phố Hạ Long 95 km theo đường quốc lộ 18A

hướng Hạ Long đi Móng Cái, có diện tích tự nhiên 606,51 km2. Huyện Ba Chẽ

có tọa độ địa lý và tiếp giáp với các đơn vị hành chính như sau:

Vĩ độ Bắc từ 2107'40'' đến 21023'15''. Độ kinh Đơng từ 107058'5'' đến

107022'00''.

Phía Bắc giáp huyện Đình lập; Phía Nam giáp huyện Hồnh Bồ và thành

phố Cẩm Phả; Phía Tây giáp huyện Sơn Động - tỉnh Bắc Giang.

Địa hình chủ yếu là đồi núi, dốc, bị chia cắt mạnh bởi các dãy núi tạo thành

các thung lũng hẹp, độ cao trung bình của Ba Chẽ từ 300 - 500 m so với mực

nước biển. Độ dốc của các dãy núi phần lớn từ 20 - 250. Với đất lâm nghiệp

chiếm 91% tổng diện tích tự nhiện nên ngành lâm nơng nghiệp phát triển mạnh,

đồng thời với địa hình dốc thoải ở một số khu vực thuộc các xã Lương Mông,

Đạp Thanh, Thanh Lâm, Thanh Sơn là điều kiện tốt cho phát triển chăn ni.

Ba Chẽ có nhiều sơng suối, Sông Ba Chẽ với chiều dài trên 80km chảy theo

suốt chiều dài của huyện chính là sơng lớn nhất trong hệ thống sông suối Ba Chẽ

chảy từ tây sang đông qua địa bàn 8 xã, thị trấn. Đoạn thượng lưu rất dốc, nhiều

ghềnh thác. Từ thị trấn Ba Chẽ ra biển, lòng sơng rộng dần. (Cửa sơng Ba Chẽ

gặp cửa sơng Tiên n ở phía bắc và gặp cửa sơng Voi Lớn ở phía nam. Chỗ gặp

gỡ ba cửa sơng - Ba Chẽ sơng - chính là gốc tên Ba Chẽ. Cửa sông Ba Chẽ lớn

nhất là Cửa Cái và đoạn hạ lưu sơng Ba Chẽ có tên sơng Cửa Cái).

Ba Chẽ còn có nhiều suối lớn như suối Quánh, suối Luông, Suối Đoắng,

suối Cổng, khe Lọng, khe Hổ và suối Nam Kim:

Học viên: Phan Thanh Sơn



Trang 8



Hệ thống sơng Qnh bắt nguồn từ huyện Hồnh Bồ chảy qua phía Nam xã

Minh Cầm, chảy theo hướng Bắc đổ vào sơng Ba Chẽ dài (đây là nhánh bắt đầu

nguồn chính của sơng Ba Chẽ). Hệ thống sơng Đống bắt nguồn từ phía Nam xã

Đạp Thanh chảy về hướng Bắc, đổ vào sông Ba Chẽ dài 80km. Hệ thống sông

Làng Cổng từ phía Nam xã Đồn Đạc, chảy về phía Bắc đổ vào sông Ba Chẽ dài

95km. Hệ thống suối Khe Hương, Khe Lầy, Khe Liêu, Khe Buông, Khe Tráng

bắt nguồn từ phía Tây xã Lương Mơng đổ vào sơng Ba Chẽ dài 150km.- Hệ

thống suối Khe Lạnh từ phía Bắc xã Thanh Lâm, chảy về phía Nam đổ vào sơng

Ba Chẽ dài 75km. Hệ thống suối Khe Nháng cũng chảy từ phía Bắc xã Thanh

Lâm theo hướng Nam đổ vào sơng Ba Chẽ, dài 70km. Suối Khe Tâm chảy từ

phía Bắc xã Nam Sơn theo hướng Nam đổ vào sông Ba Chẽ dài 75km.

Hầu hết các xã đều có đập nước trên các con suối, kèm theo là hệ thống

kênh mương dâng nước tưới cho lúa và hoa màu. Ngoài các sơng suối, nhân dân

Ba Chẽ có thể tận dụng nguồn nước bằng cách đào giếng phục vụ sinh hoạt.

Với hệ thống sông suối dày đặc nhiều ao hồ nhỏ vì vậy nguồn nước nơi đây

khá dồi dào, đặc biệt là sông Ba chẽ do vậy đáp ứng được nhu cầu nước sinh

hoạt và sản xuất Nông lâm nghiệp cho nhân dân trong vùng. Tuy nhiên vào mùa

mưa bão dễ gây lũ, lụt, sạt lở đất cục bộ chia cắt thành những vùng cô lập gây

ảnh hưởng lớn đến đời sống, sản xuất của nhân dân. Với địa hình chủ yếu là đất

lâm nghiệp đồi núi dốc nên nghề rừng phát triển mạnh, đồng thời với địa hình

dốc thoải ở một số khu vực thuộc các xã Lương Mông, Đạp Thanh, Thanh Lâm,

Thanh Sơn là điều kiện tốt cho phát triển chăn ni.

Nhìn chung chất lượng nước ở Ba Chẽ trong và tương đối sạch, PH trung

tính đạt yêu cầu đảm bảo cho sản xuất nông nghiệp. Nước trên các suối qua xử

lý sẽ đảm bảo chất lượng tốt đáp ứng nhu cầu nước sinh hoạt cho nhân dân.

Do có hệ thống sông suối chằng chịt nên vào mùa mưa (nhất là vào tháng

8, tháng 9) thường xảy ra lũ lụt. Tại Thị trấn Ba Chẽ mực nước sông Ba Chẽ có

năm dâng cao tới 5 - 6m (trận lũ lịch sử năm 2008) gây thiệt hại nặng nề cho

Học viên: Phan Thanh Sơn



Trang 9



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

PHẦN I VỊ TRÍ VAI TRÒ CỦA MÔI TRƯỜNG

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×