Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
LÝ LUẬN CHUNG VỀ KẾ TOÁN NGHIỆP VỤ BÁN HÀNG Ở CÁC DOANH NGHIỆP THƯƠNG MẠI

LÝ LUẬN CHUNG VỀ KẾ TOÁN NGHIỆP VỤ BÁN HÀNG Ở CÁC DOANH NGHIỆP THƯƠNG MẠI

Tải bản đầy đủ - 0trang

Chuyên đề tốt nghiệp



biến động tuỳ thuộc vào khối lượng hàng bán và phương thức thanh tốn.

Trong bán bn thường bao gồm hai phương thức:

a. Phương thức bán buôn hàng hoá vận chuyển thẳng: Theo phương

thức này, doanh nghiệp thương mại sau khi mua hàng, nhận hàng mua, không

đưa hàng về nhập kho mà chuyển bán thẳng cho bên mua. Phương thức này

có thể thực hiện theo hai hình thức :

- Hình thức bán giao tay ba: Theo hình thức này, căn cứ vào hợp đồng

kinh tế đã ký kêt với nhà cung cấp và khách hàng, doanh nghiệp cử cán bộ

nghiệp vụ cùng khách hàng đến nhận hàng do nhà cung cấp giao. Hành vi

mua và bán hàng đồng thời được thực hiện.

- Hình thức gửi hàng chuyển bán thẳng: Theo hình thức này doanh

nghiệp thương mại say khi mua hàng, nhận hàng mua, dùng phương tiệm vận

tải của mình hoặc th ngồi vận chuyển hàng đến giao cho bên mua ở địa

điểm đã được thoả thuận. Hàng hoá chuyển bán trong trường hợp này vẫn

thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp thương mại. Khi nhận được tiền của

bên mua thanh toán hoặc giấy báo của bên mua đã nhận được hàng và chấp

nhận thanh tốn thì hàng hố chuyển đi mới được xác định là tiêu thụ .

b. Phương thức bán bn hàng hố qua kho: Là phương thức bán bn

hàng hố mà trong đó, hàng bán phải được xuất từ kho bảo quản của doanh

nghiệp. Bán buôn hàng hố qua kho có thể thực hiện dưới hai hình thức

- Bán bn hàng hố qua kho theo hình thức giao hàng trực tiếp: Theo

hình thức này, bên mua cử đại diện đến kho của doanh nghiệp thương mại để

nhận hàng. Doanh nghiệp thương mại xuât kho hàng hoá giao trực tiếp cho

đại diện bên mua. Sau khi đại diện bên mua nhận đủ hàng, thanh toán tiền

hoặc chấp nhận nợ, hàng hoá được xác định là tiêu thụ. Chứng từ bán hàng là

hoá đơn kiêm phiếu xuất kho. Một liên của chứng từ giao cho người nhận

hàng (bên mua), hai liên gửi về phòng kế tốn làm thủ tục thanh toán tiền bán

hàng. Số hàng đã giao nhận xong được coi là tiêu thụ.

- Bán bn hàng hố qua kho theo hình thức chuyển hàng: Theo hình

thức này, căn cứ vào hợp đồng đã ký kết, hoặc theo đơn đặt hàng doanh

4



Chuyên đề tốt nghiệp



nghiệp thương mại xuất kho hàng hố, dùng phương tiện vận tải của mình

hoặc đi thuê ngoài, chuyển hàng đến kho của bên mua hoặc một địa điểm nào

đó bên mua quy định trong hợp đồng. Hàng hoá chuyển bán vẫn thuộc quyền

sở hữu của doanh nghiệp thương mại, chỉ khi nào được bên mua kiểm nhận,

thanh tốn hoặc chấp nhận thanh tốn thì số hàng chuyển giao mới được coi

là tiêu thụ. Chí phí vận chuyển do doanh nghiệp thương mại chịu hay bên

mua chịu là do sự thoả thuận từ trước giữa hai bên. Nếu doanh nghiệp thương

mại chịu chi phí vận chuyển, phải thu tiền của bên mua .

2.2.2 BÁN LẺ HÀNG HỐ

Bán lẻ hàng hố là phương thức bán hàng trực tiếp cho người tiêu dùng

hoặc các tổ chức kinh tế hoặc các đơn vị kinh tế tập thể mua về mang tính

chất tiêu dùng nội bộ. Bán hàng theo phương thức này cóđặc điểm là hàng

hố đã ra khỏi lĩnh vực lưu thông và đi vào lĩnh vực tiêu dùng. Giá trị và giá

trị sử dụng của hàng hoá đã được thực hiện. Bán lẻ thường bán đơn chiếc

hoặc số lượng nhỏ, giá bán thường ổn định. Phương thức bán lẻ có thể thực

hiện dưới các hình thức sau:

- Hình thức bán lẻ thu tiền tập trung: Là hình thức bán hàng mà trong

đó, tách rời nghiệp vụ thu tiền của người mua và nghiệp vụ giao hàng cho

người mua. Mỗi quầy hàng có một nhân viên thu tiền làm nhiệm vụ thu tiền

của khách, viết hoá đơn hoặc tích kê cho khách để khách đến nhận hàng ở

quầy hàng do nhân viên bán hàng giao. Hết ca bán hàng, nhân viên bán hàng

căn cứ vào hoá đơn và tích kê giao hàng cho khách hoặc kiểm kê hàng hoá

tồn quầy để xác định số lượng hàng đã bán trong ngày, trong ca và lập báo

cáo bán hàng. Nhân viên thu tiền làm giấy nộp tiền và nộp tiền bán hàng cho

thủ quỹ.

- Hình thức bán lẻ thu tiền trực tiếp: Là hình thức bán hàng trực tiếp thu

tiền và giao hàng cho khách .Hết ca, hết ngày bán hàng, nhân viên bán hàng

làm giấy nộp tiền và nộp tiền cho thủ quỹ. Đồng thời, kiểm kê hàng hoá tồn

quầy để xác định số lượng hàng đã bán trong ca, trong ngày và lập báo cáo

bán hàng. Theo hình thức bán hàng này, khách hàng không mất thời gian chờ

thanh tốn nhưng đòi hỏi nhân viên bán hàng phải có nghiệp vụ vững vàng



5



Chuyên đề tốt nghiệp



,nhanh nhẹn hoạt bát, có trách nhiệm cao để tránh tình trạng nhầm lẫn, mất

mát khi đơng khách.

- Hình thức bán hàng trả góp : Theo hình thức này, người mua được trả

tiền mua hàng thành nhiều lần. Doanh nghiệp thương mại, ngoài số tiền thu

theo giá bán thường còn thu thêm người mua một khoản lãi do trả chậm. Về

thực chất, người bán chỉ mất quyền sở hữu khi người mua thanh toán hết tiền

hàng. Tuy nhiên, về mặt hạch toán, khi giao hàng cho người mua, hàng hố

bán trả góp được coi là tiêu thụ, bên bán ghi nhân doanh thu.

Hình thức bán hàng tự động: Bán hàng tự động là hình thức bán lẻ

hàng hố mà trong đó, các doanh nghiệp thương mại sử dụng các máy bán

hàng tự động chuyên dùng cho một hoặc nột vài loại hàng hoá nào đó đặt ở

các nơi cơng cộng, sau khi người mua bỏ tiền bào máy, máy sẽ tự động đẩy

hàng ra cho người mua.

2.2.3 PHƯƠNG THỨC BÁN HÀNG ĐẠI LÝ:

- Hình thức gửi hàng đại lý bán hay ký gửi hàng hố: Theo hình thức

này doanh nghiệp thương mại giao hàng cho cở đại lý, ký gửi để cơ sở này

trực tiếp bán hàng. Bên nhận làm đại lý ,ký gửi sẽ trực tiếp bán hàng, thanh

toán tiền hàng và được hưởng hoa hồng đại lý. Số hàng chuyển giao cho các

cơ sở đại lý, ký gửi vẫn thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp thương mại cho

đến khi doanh nghiệp thương mại được cơ sở đại lý ký gửi thanh tốn tiền hay

chấp nhận thanh tốn hoặc thơng báo về số hàng đã bán được, doanh nghiệp

mới mất quyền sở hữu về số hàng này.

- Hình thức bán hàng nhận đại lý: Theo hình thức này doanh nghiệp sẽ

nhận bán hàng cho doanh nghiệp khác. Doanh nghiệp có trách nhiệm về số

hàng đã nhận, tổ chức bán hàng và thanh toán kịp thời, đầy đủ tiền hàng cho

người giao đại lý khi hàng hố đã được tiêu thụ. Hình thức bán hàng này có

đặc điểm là hàng hố khơng thuộc sở hữu bán của doanh nghiệp và khi bán

được hàng thì doanh nghiệp được hưởng hoa hồng tính trên giá bán.



6



Chuyên đề tốt nghiệp



2.3 Các phương thức thanh toán :

Tuỳ thuộc vào nhiều yếu tố như trị giá lô hàng bán, mức độ thường

xuyên trong quan hệ mua bán, mức độ tín nhiệm lẫn nhau, . . . mà doanh

nghiệp thương mại và người mua có thể thoả thuận lựa chọn sử dụng các

phương thức, hình thức thanh tốn khác nhau.

2.3.1 PHƯƠNG THỨC THANH TỐN TRỰC TIẾP:

Là q trình bán hàng và thu tiền phát sinh cùng một thời điểm. Theo phương

thức thanh tốn này, có các hình thức sau :

- Hình thức thanh tốn bằng tiền mặt, ngân phiếu: Là hình thức thanh

tốn trực tiếp giữa người mua và người bán. Khi bên bán chuyển giao hàng

hóa, dịch vụ thì bên mua xuất tiền, ngân phiếu để trả trực tiếp tương ứng với

giá cả mà hai bên đã thỏa thuận. Thanh tốn theo hình thức này đảm bảo khả

năng thu tiền nhanh, tránh được rủi ro trong thanh tốn nhưng thường chỉ áp

dụng trong trường hợp hàng hóa có giá trị khơng lớn.

- Hình thức trao đổi hàng: Theo hình thức này, khi bên bán chuyển

giao hàng hóa cho bên mua thì bên mua xuất giao cho bên bán một lơ hàng có

giá trị tương ứng với giá trị lô hàng đã nhận được từ bên bán. Trong trường

hợp này người bán đồng thời là người mua, mục đích khơng phải là thu tiền

mà là mua một hàng khác tương ứng. Việc giao hàng diễn ra hầu như là đồng

thời. Hiện nay, đơi lúc có thể dùng tiền để thanh toán một phần thiếu hụt.

2.3.2 PHƯƠNG THỨC THANH TỐN KHƠNG TRỰC TIẾP

Thanh tốn khơng trực tiếp là phương thức thanh tốn được thực hiện

bằng cáchh trích chuyển ở tài khoản của doang nghiệp hoặc bù trừ giữa hai

bên thông qua các tổ chức kinh tế trung gian thường là Ngân hàng. Ngân hàng

là tổ chức trung gian thanh tốn, nó giúp cho việc thanh tốn giữa người mua

và người bán được thực hiện đầy đủ, nhanh chóng và đúng luật, tuỳ thuộc vào

từng thương vụ, từng đối tượng khách hàng mà việc thanh tốn khơng trực

tiếp có thể được thực hiện theo một số hình thức sau:



7



Chuyên đề tốt nghiệp



- Hình thức thanh tốn bằng uỷ nhiệm chi: Uỷ nhiệm chi là giấy uỷ

nhiệm của chủ tài khoản mà Ngân hàng phục vụ mình chuyển một số tiền

nhất định để trả cho người cung cấp hàng hóa lao vụ.

- Hình thức thanh tốn bằng uỷ nhiệm thu: Là hình thức thanh tốn

trong đó người bán sau khi hồn thành nhiệm vụ giao hàng hoặc cung ứng

dịch vụ cho người mua thì sẽ lập uỷ thác thu yêu cầu Ngân hàng thu hộ số

tiền từ người mua.

Thanh toán bằng uỷ nhiệm thu, uỷ nhiệm thường áp dụng đối với các

doanh nghiệp có quan hệlàm ăn thường xun và tín nhiệm lẫn nhau hay dưới

hình thức k inh doanh cơng ty mẹ - cơng ty con.

- Hình thức thanh tốn bằng séc: Séc là tờ lệnh trả tiền của chủ tài

khoản được lập theo mẫu do Ngân hàng Nhà nước quy định u cầu đơn vị

thanh tốn trích một số tiền nhất định từ “Tài khoản tiền gửi thanh toán” của

mình để trả cho người thụ hưởng có tên trên tờ lệnh đó hoặc cho người cầm tờ

lệnh đó.

- Hình thức thanh tốn trả bằng thư: Là hình thức thanh tốn trong đó

bên mua u cầu Ngân hàng mở thư tín dụng tiến hành trả tiền cho bên bán

nếu bên bán xuất trình được bộ chứng từ thanh tốn phù hợp với các nội dung

đã ghi trong thư tín dụng. Hình thức thanh tốn này, được áp dụng rất phổ

biến, đặc biệt là trong kinh doanh xuất nhập khẩu, trong trường hợp bên mua

và bên bán chưa có mối quan hệ tín nhiệm lẫn nhau vì theo phương thức này

nó bảo đảm cả quyền lợi cho người mua và người bán.

- Phương thức thanh toán nhờ thu

Là phương thức thanh tốn mà trong đó người bán sau khi đã hồn

thành nghĩa vu giao hàng hoặc cung ứng dịch vụ cho người mua sẽ tiến

hànhuỷ thác cho Ngân hàng của mình thu nợ số tiền ở người mua trên cơ sở

hối phiếu của người bán lập ra .

Ngày nay, trong hoạt động kinh doanh thương mại việc thanh tốn

khơng trực tiệp được áp dụng phổ biến là trong hoạt động kinh doanh xuất



8



Chuyên đề tốt nghiệp



nhập khẩu. Theo phương thức này, nó tiết kiệm mà đảm bảo sự an tồn về vốn

cho cả người mua và người bán, chống lạm phát ổn định giá cả và thúc đẩy sự

phát triển của hệ thống liên Ngân hàng. Q trình thanh tốn trở lên đơn giản

và thuận lợi hơn. Tuy nhiên, do đặc điểm của nền kinh tế nước ta là nền kinh

tế nhiều thành phần, sản xuất vừa và nhỏ là chủ yếu trong đó các hộ kinh tế

các thể chiếm tỷ trọng lớn mà hầu hết họ không mở tài khoản riêng tại Ngân

hàng nên việc thanh tốn trực tiếp còn nhiều hạn chế.

2.3.3 PHƯƠNG THỨC THANH TOÁN CHẬM

Theo phương thức này, khi người bán giao hàng cho người mua thì

người mua khơng thanh tốn ngay mà ký chấp nhận nợ từ đó hình thành

khoản cơng nợ phải thu của người mua. Hết thời hạn tín dụng, theo thoả thuận

bên mua có nghĩa vụ phải thanh tốn hết số tiền hàng cho bên bán. Việc thanh

tốn có thể được thực hiện dưới nhiều hình thức: tiền mặt, ngân phiếu,

séc...Phương thức thanh tốn này, thường áp dụng trong trường hợp hai bên

có mối quan hệ mua bán thường xun và có tín nhiệm lẫn nhau.

2.4 Giá bán của hàng hóa

Giá cả là một yếu tố rất quan trọng, có tính quyết định đếnviệc tiêu thụ

hàng hóa. Giá của hàng hóa phải thể hiện được giá trị, chất lượng của hàng

hoá, giá cả có hợp lý thì khách hàng mới chấp nhận có nghĩa là hàng hoá

được tiêu thụ. Vậy trong doanh nghiệp thương mại thì giá bán được xác định

như thế nào ?

Giá bán hàng hoá của doanh nghiệp thương mại được xác định là giá

thỏa thuận giữa người mua và người bán, được ghi trên hóa đơn hoặc hợp

đồng và có thể được tính theo cơng thức:

Giá bán = Giá mua thực tế + Thặng số thương mại

Thặng số thương mại = Giá mua thực tế * Tỷ lệ % thặng số thương mại

Trong đó, thặng số thương mại là khoản chênh lệch giữa bán và giá

mua hàng hoá nhằm bù đắp chi phí và hình thành thu nhập cho doanh nghiệp.



9



Chuyên đề tốt nghiệp



Theo chế độ kế toán mới áp dụng, 01/11/1999 thì nếu doanh nghiệp áp

dụng phương pháp tính thuế GTGT theo phương pháp trực tiếp thì giá mua

trong công thức trên là giá bao gồm cả thuế GTGT. Còn nếu doanh nghiệp

tính thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ thì giá mua trong cơng thức trên

là giá khơng bao gồm thuế GTGT.

Bên cạnh việc tính tốn được mức giá bán hợp lý của hàng hóa bán ra

doanh nghiệp còn phải quan tâm đến việc xác định chính xác trị giá vốn của

hàng hóa vì nó ảnh hưởng rất lớn tới việc xác định đúng đắn kết quả kinh

doanh của doanh nghiệp. Trị giá vốn hàng bán là toàn bộ chi phí kinh doanh

liên quan đến q trình bán hàng bao gồm: giá vốn hàng xuất kho, chi phí bán

hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp phân bổ cho số hàng đã bán.



Giá ghi

Trị giá mua

thực tế của = trên HĐ

(chưa

hàng hóa

thuế

VAT)



Chi phí p.s

trong q

+ trình mua +

(chưa thuế

VAT)



Thuế

phải nộp _

ở khâu

mua

(nếu có)



Các

khoản

giảm

trừ

(nếu

có)



Đối với doanh nghiệp thương mại, trị giá vốn hàng xuất kho để bán bao

gồm trị giá mua thực tế và chi phí mua của một số hàng hóa đã xuất kho. Trị

giá mua thực tế của hàng hóa xuất kho được xác định theo một trong số các

phương pháp sau:

- Phương pháp tính theo giá đích danh

- Phương pháp bình qn gia quyền

- Phương pháp nhập trước, xuất trước



10



Chuyên đề tốt nghiệp



- Phương pháp nhập sau, xuất trước

Trong một thị trường ổn định, khi giá cả khơng thay đổi thì việc tính trị

giá mua của hàng hóa xuất kho theo bất cứ phương pháp nào là khơng quan

trọng vì khi đó tất cả các phương pháp đều cho một kết quả tương tự nhau.

Tuy nhiên, nếu giá cả thay đổi ở các kỳ khác nhau thì các phương pháp khác

nhau sẽ cho kết quả khác nhau. Vì vậy, việc lựa chọn một phương pháp tính

giá mua thực tế của hàng hóa xuất kho đòi hỏi doanh nghiệp phải nhất qn

qua các kỳ hách tốn, nó đảm bảo nguyên tắc nhất quán trong kế toán.

Trị giá vốn của hàng xuất kho còn bao gồm cả chi phí mua nên ta cần

phải phân bổ chi phí mua cho hàng hóa đã xuất kho bán, theo cơng thức sau:

Chi phí

Chi phí mua phân

Chi phí mua hàng

mua phân

+

Trị giá

bổ cho hàng đầu kỳ

phát sinh trong kỳ

bổ cho =

 mua của



hàng hóa

hàng

Trị giá mua của

Trị giá mua của hàng



+

đã xuất

xuất kho

hàng còn đầu kỳ

nhập trong kỳ

kho



Trên cở sở trị giá mua thực tế và chi phí mua của hàng xuất kho đã tính

được, kế tốn tổng hợp lại để xác định trị giá vốn thực tế của hàng đã xuất

kho. Chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp được coi là chi phí

thời kỳ, trong kỳ tập hợp được bao nhiêu sẽ kết chuyển cho hàng đã bán. Tuy

nhiên, để xác định chính xác kết quả bán hàng thì các doanh nghiệp có chu kỳ

sản xuất kinh doanh dài, doanh thu bán hàng trong kỳ thấp có thể phân bổ các

chi phí này cho hàng đã bán theo cơng thức:

Chi phí bán hàng

Chi phí bán hàng

Trị giá

Chi phí

+

(chi phí QLDN)

(chi phí QLDN)

vốn

bán hàng

phân bổ cho hàng

phân bổ cho hàng 

của

(chi phí

=

phát

hàng

Trị giáđầu

vốnkỳcủa

giásinh

vốntrong

của kỳ

+ Trị

QLDN)

bán ra

hàng còn đầu

hàng

nhập

phân bổ

trong

kỳ

trong kỳ

cho hàng

kỳ

đã bán



11



Chuyên đề tốt nghiệp



Sau khi tính được trị giá vốn hàng xuất kho để bán và chi phí bán hàng, chi

phí quản lý doanh nghiệp của số hàng đã bán, kế tốn tổng hợp lại để tính trị

giá vốn hàng đã bán.

Trị giá vốn

=

hàng đã

bán



Trị giá vốn

hàng xuất

kho để bán



+



Chi phí bán hàng và

chi phí QLDN của số

hàng đã bán



2.5 Phạm vi, thời điểm xác định hàng bán và ghi chép

2.5.1 PHẠM VI HÀNG HÓA ĐÃ BÁN

Hàng hố được coi là đã hồn thành việc bán trong doanh nghiệp

thương mại, được ghi nhận doanh thu bán hàng phải đảm bảo các điều kiện

nhất định. Theo quy định hiện hành, được coi là hàng báh phải thoả mãn các

điều kiện sau:

- Hàng hố phải thơng qua q trình mua, bán và thanh toán theo một

phương thức thanh toán nhất định

- Doanh nghiệp thương mại mất quyền sở hữu về hàng hóa và nắm

được quyền sở ữu về tiền tệ hoặc có quyền được đòi tiền ở khách hàng

- Hàng hóa bán ra phải thuộc diện kinh doanh của doanh nghiệp, do

doanh nghiệp mua vào hoặc gia công chế biến hay nhận góp vốn, nhận cấp

phát, tặng thưởng,. . .

Ngoài ra, trong một số trường hợp sau cũng được coi là hàng bán:

+ Hàng hóa xuất để đổi lấy hàng hóa khác, còn được gọi là hàng đối

lưu hay hàng đổi hàng.

+ Hàng hóa xuất để thanh tốn tiền lương, tiền thưởng cho cơng nhân

viên thanh tốn thu nhập cho các thành viên của doanh nghiệp

+ Hàng hóa xuất để làm quà biếu tặng, quảng cáo, chào hàng

+ Hàng hóa xuất dùng trong nội bộ, phục vụ cho hoạt động kinh doanh

của doanh nghiệp



12



Chuyên đề tốt nghiệp



+ Hàng hóa hao hụt, tổn thất trong quá trình vận chuyển bán ra theo

hợp đồng bên bán chịu

+ Hàng xuất là nguyên liệu để sản xuất chế biến sản phẩm rồi bán ra

+ Hàng xuất để tham gia hội chợ triển lãm

+ Hàng xuât để góp vốn liên doanh,. . .

2.5.2 THỜI ĐIỂM XÁC ĐỊNH HÀNG BÁN VÀ GHI CHÉP (THỜI

ĐIỂM GHI NHẬN DOANH THU)

Theo hệ thống chuẩn mực kế toán Việt Nam quyết định số

149/2001/QĐ-BTC ngày 31/12/2001 của Bộ trưởng Bộ Tài chính thì doanh

thu bán hàng được ghi nhận khi đồng thời thoả mãn 5 điều kiện sau:

- Doanh nghiệp đã chuyển giao phần lớn rủi ro và lợi ích gắn liền với

quyền sở hữu sản phẩm hoặc hàng hóa cho người mua;

- Doanh nghiệp khơng còn nắm giữ quyền quản lý hàng hóa như người

sở hữu hàng hóa hoặc quyền kiểm sốt hàng hóa ;

- Doanh thu được xác định tương đối chắc chắn;

- Doanh nghiệp đã thu được hoặc đã thu được lợi ích kinh tế từ giao

dịch bán hàng.

Nhưng trên thực tế do sự vận động của hàng bán có sự khác nhau, có

các trường hợp xác định sau:

+ Trường hợp 1: doanh nghiệp mất quyền sở hữu về hàng hóa trước khi

nắm được quyền sở hữu về tiền tệ. Thời điểm xác định và ghi chép hàng bán

là khi khách hàng đã nhận hàng và ký nhận trên hoá đơn bán hàng.

+ Trường hợp 2: doanh nghiệp nắm được quyền sở hữu về tiền tệ trước

khi mất quyền sở hữu về hàng hóa, thời điểm xác định và ghi chép hàng bán

là khi doanh nghiệp đã thu tiền (phiếu thu hoặc giấy báo có).



13



Chuyên đề tốt nghiệp



+ Trường hợp 3: doanh nghiệp mất quyền sở hữu về hàng hóa đồng

thời nắm được quyền sở hữu về tiền tệ, thời điểm xác định và ghi chéo hàng

bán là khi khách hàng đã nhận hàng và ký nhận trên chứng từ.

3. Nội dung, yêu cầu quản lý ghi chép nghiệp vụ bán hàng



Trong các doanh nghiệp thương mại, nghiệp vụ bán hàng mang tính

thường xuyên, liên tục và chiếm một tỷ trọng lớn, vì thế cơng tác quản lý

nghiệp vụ bán hàng cũng mang tính thường xuyên liên tục.

Quản lý nghiệp vụ bán hàng đòi hỏi phải quản lý về các chỉ tiêu, số

lượng và chất lượng, giá cả hàng hóa, thu hồi tiền bán hàng và xác định kết

quả. Cụ thể:

- Quản lý về số lượng, chất lượng và giá trị của hàng gửi bán. Hàng hoá

đem gửi bán cho bên mua đang trên đường đi hoặc bên mua đã nhận được

hàng nhưng chưa thanh tốn thì số hàng đó vẫn thuộc quyến sở hữu của

doanh nghiệp. Bởi vậy, doanh nghiệp cần phải quản lý, theo dõi lơ hàng đó.

- Quản lý về giá cả hàng hóa: Giá cả là một trong những yếu tố cạnh

tranh, vì vậy đòi hỏi nhà quản lý phải định giá cho thật hợp lý, phải xây dựng

biểu giá cho từng mặt hàng, nhóm hàng, từng phương thức bán phù hợp cho

từng địa điểm kinh doanh và quản lý việc thực hiện giá bán hàng mà chú

trọng giám sát việc thi hành giá của nhân viên bán hàng tránh những biểu hiện

tiêu cực như tuỳ ý nâng giá. Để quản lý tốt thì doanh nghiệp sử dụng kế tốn

như một cơng cụ đắc lực và sắc bén nhất. Kế toán nghiệp vụ bán hàng là một

bộ phận trực tiếp về giá cả hàng hóa, việc phản ánh giá cả hàng hóa vào sổ kế

toán căn cứ vào các chứng từ xuất nhập kho hàng hóa, chứng từ về bán hàng

có xác nhận của cả hai bên: bên mua và bên bán.

- Quản lý việc thu hồi tiền hàng và xác định kết quả: Để đảm bảo được

việc thu hồi tiền bán hàng một cách nhanh chóng và đầy đủ, xác định kết quả,

người quản lý phải tính đúng, đủ và theo dõi tình hình thanh tốn của từng

khách hàng. Thực hiệnđược cơng việc này sẽ tạo điều kiện cho vốn được quay

vòng nhanh, và có thể được kịp thời huy động vốn khi cần thiết. Vì vậy, kế

tốn cần theo dõi chặt chẽ thời hạn thanh toán tiền hàng của khách hàng, có



14



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

LÝ LUẬN CHUNG VỀ KẾ TOÁN NGHIỆP VỤ BÁN HÀNG Ở CÁC DOANH NGHIỆP THƯƠNG MẠI

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×
x