Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
PHẦN I: LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ BẢO HIỂM TIỀN GỬI

PHẦN I: LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ BẢO HIỂM TIỀN GỬI

Tải bản đầy đủ - 0trang

Đề án Luật thương mại



GVHD: ThS. Đỗ Kim Hoàng



Nhà nước là bảo vệ quyền lợi của người gửi tiền và góp phần duy trì sự ổn định của

hệ thống ngân hàng. Với mục tiêu thực hiện chính sách cơng của Nhà nước, mỗi

quốc gia thường chỉ có duy nhất một tổ chức BHTG và thông thường tổ chức này

thuộc sở hữu Nhà nước, được Nhà nước hậu thuẫn, hỗ trợ khi cần thiết trong quá

trình hoạt động. Đây là điểm khác biệt cơ bản giữa BHTG với các loại hình bảo

hiểm thương mại, do các doanh nghiệp thực hiện với mục tiêu tìm kiếm lợi nhuận.

- BHTG là loại hình bảo hiểm bắt buộc: Các tổ chức tín dụng và tổ chức

khác có nhận tiền gửi từ cơng chúng phải tham gia BHTG bất kể tình trạng hoạt

động và khả năng tài chính. Ở đặc điểm này BHTG cũng khác biệt với một số loại

hình bảo hiểm thương mại như bảo hiểm tài sản, bảo hiểm nhân thọ.

- 3 loại chủ thể luôn xuất hiện trong quan hệ BHTG: tổ chức BHTG, tổ

chức tham gia BHTG và người gửi tiền. Người phải đóng phí BHTG khơng phải là

người được bảo hiểm (người gửi tiền) mà là tổ chức tham gia BHTG (tổ chức nhận

tiền gửi), có nghĩa là người đóng phí bảo hiểm và người được bảo hiểm là hai chủ

thể khác nhau. Đối với một số loại hình bảo hiểm thương mại như bảo hiểm tài sản,

người mua bảo hiểm (người đóng phí bảo hiểm) thơng thường chính là người được

bảo hiểm, người thụ hưởng bảo hiểm.

- Quan hệ BHTG khơng hình thành trên cơ sở hợp đồng được thoả thuận

và ký kết giữa các bên: Trong quan hệ BHTG, các bên khơng có quyền thoả thuận

về các nội dung có liên quan như đối tượng bảo hiểm, phạm vi bảo hiểm, điều kiện

bảo hiểm, thời hạn bảo hiểm, mức phí bảo hiểm, số tiền bảo hiểm…. Tất cả các nội

dung này đều được pháp luật quy định. Đặc điểm này làm cho BHTG khác biệt đối

với đa số các loại hình bảo hiểm thương mại được hình thành trên cơ sở hợp đồng

và các bên có thể thoả thuận các nội dung của hợp đồng.

1.1.3. Mục đích của Bảo hiểm tiền gửi.

Bất kể hệ thống BHTG nào trên thế giới được thành lập đều nhằm mục đích

đầu tiên là bảo vệ quyền lợi của người gửi tiền tại các ngân hàng và tại các tổ chức

khác có nhận tiền gửi của cơng chúng. Tuy nhiên, mục đích sâu xa của BHTG là

nhằm duy trì sự ổn định và lành mạnh của hệ thống ngân hàng, mạch máu của nền

kinh tế.

Theo tài liệu2 “Hướng dẫn phát triển hệ thống BHTG hiệu quả” thì mục đích

bảo vệ người gửi tiền của BHTG có sự khác nhau giữa các quốc gia. Nhưng nhìn

chung BHTG hướng tới các mục đích sau:

2 Thảo luận tại Diễn đàn ổn định tài chính (FSF)



Nhóm 6



7



Đề án Luật thương mại



GVHD: ThS. Đỗ Kim Hoàng



- Bảo vệ số đơng người gửi tiền, đối tượng có tiền gửi ít hạn chế trong tiếp

cận thông tin về quản trị, điều hành và tình hình hoạt động các tổ chức huy động

tiền gửi;

- Góp phần đảm bảo cho hệ thống tài chính quốc gia ổn định và tạo điều kiện

cho các giao dịch tài chính có hiệu quả hơn bằng cách phòng, tránh đổ vỡ ngân

hàng;

- Góp phần xây dựng một thị trường có tính cạnh tranh và bình đẳng cho các

tổ chức tài chính có quy mơ và trình độ phát triển khác nhau;

- Quy định rõ trách nhiệm, quyền hạn của người gửi tiền, tổ chức tài chính,

Chính phủ và giảm thiểu gánh nặng tài chính cho người đóng thuế trong trường hợp

có tổ chức tín dụng đổ bể.

1.1.4. Vai trò của Bảo hiểm tiền gửi.

Với những mục tiêu cùng cơ chế tổ chức và hoạt động được thiết lập, BHTG

đã có những vai trò tích cực nhất định đối với sự phát triển kinh tế - xã hội ở nhiều

nước.

- BHTG bảo vệ quyền lợi của những người gửi tiền, đặc biệt những người

gửi tiền nhỏ: BHTG được thành lập đã tạo một cơ chế bảo vệ công khai đối với

người gửi tiền. Khoản tiền trong một giới hạn nhất định của người gửi tiền tại các tổ

chức nhận tiền gửi sẽ được tổ chức BHTG bảo đảm và sẽ thực hiện chi trả cho

người gửi tiền trong trường hợp tổ chức nhận tiền gửi mất khả năng thanh tốn.

- BHTG góp phần củng cố niềm tin của cơng chúng đối với hệ thống ngân

hàng, góp phần bảo đảm an toàn và giảm thiểu rủi ro hệ thống trong hoạt động

ngân hàng: Người gửi tiền biết tiền gửi được bảo hiểm sẽ yên tâm và tin tưởng hơn

khi gửi tiền vào ngân hàng. Từ đó hiện tượng rút tiền hàng loạt tại ngân hàng vì một

lý do nào đó, có khi chỉ vì các tin đồn thất thiệt ít có khả năng xẩy ra hơn, nhất là

đối với những người có các khoản tiền gửi nhỏ ở ngân hàng.

Mặt khác, trường hợp một ngân hàng đổ vỡ, nhờ hoạt động chi trả BHTG

khơng chỉ có tác dụng bảo vệ quyền lợi của người gửi tiền tại ngân hàng đó mà còn

có tác dụng củng cố niềm tin của người gửi tiền ở các ngân hàng khác, từ đó hạn

chế những ảnh hưởng xấu đến hoạt động của các ngân hàng này. Như vậy, BHTG

góp phần giảm thiểu rủi ro hệ thống trong hoạt động ngân hàng.

- BHTG thúc đẩy huy động tiền tiết kiệm, phục vụ cho sự phát triển của

nền kinh tế: Nhờ có BHTG, niềm tin của người gửi tiền vào hệ thống ngân hàng

được củng cố, người dân sẽ có xu hướng gửi tiền nhiều hơn tại hệ thống ngân hàng.



Nhóm 6



8



Đề án Luật thương mại



GVHD: ThS. Đỗ Kim Hồng



- BHTG góp phần tạo mơi trường cạnh tranh bình đẳng hơn trong hoạt

động ngân hàng: Thơng thường người gửi tiền có xu hướng lựa chọn các ngân

hàng lớn, được biết đến rộng rãi để gửi tiền, vì họ cho rằng các ngân hàng này khó

bị đổ vỡ hoặc nếu có đổ vỡ thì cũng sẽ được Nhà nước hỗ trợ. Hoạt động BHTG

làm cho người dân có thể yên tâm hơn khi gửi tiền ở các tổ chức nhận tiền nhỏ hoặc

các tổ chức nhận tiền gửi mới được thành lập chưa tạo được thương hiệu, nhất là

khi tại các tổ chức nhận tiền gửi này có dịch vụ ngân hàng thuận tiện và có lãi suất

tiền gửi hấp dẫn hơn.

- BHTG giúp giảm bớt gánh nặng chi tiêu từ quỹ ngân sách nhà nước: Tại

các quốc gia khơng có hệ thống BHTG, chi phí bảo vệ người gửi tiền trong những

trường hợp cần thiết thường do ngân sách nhà nước gánh chịu. Khi thiết lập hệ

thống BHTG, nguồn vốn của BHTG được tích luỹ qua thời gian từ việc thu phí

BHTG của các tổ chức tham gia BHTG. Nguồn vốn này sẽ được dùng để chi trả

tiền gửi cho người gửi tiền trong trường hợp tổ chức tham gia BHTG mất khả năng

thanh tốn. Từ đó, có thể giảm bớt gánh nặng tài chính cho ngân sách nhà nước để

xử lý đổ vỡ ngân hàng, khoản tiền đáng lẽ ngân sách nhà nước phải chi sẽ được sử

dụng vào những mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội khác.

1.1.5. Ý nghĩa của bảo hiểm tiền gửi.

Xác định rõ được những mục đích cũng như vai trò mà bảo hiểm tiền gửi

mang lại có thể thấy rằng BHTG sẽ là một cơng cụ vô cùng quan trọng và rất phù

hợp cho các chủ thể hiện tại trong nền kinh tế hỗn hợp của Việt Nam hiện nay.

Người dân có thể tiết kiệm một lượng lớn những khoản tích góp của mình nhằm lấy

lãi suất sinh lời mà khơng phải lo lắng hay tính tốn đến những rủi ro có thể xảy ra

khi ngân hàng mình có nguy có mất khả năng thanh tốn. Các ngân hàng thì có thể

có một nguồn vốn lớn để có thể cung cấp cho các doanh nghiệp kinh doanh cũng

như chi trả lãi suất đều đặn cho khách hàng của mình. Về phía Chính phủ thì cũng

giải quyết được một trong những vấn đề khó khăn khi mà trước đây nếu một ngân

hàng sụp đổ thì phải dung một lượng lớn ngân sách để ổn định lĩnh vực tài chính

ngân hàng.

1.2. Cơ sở pháp luật về Bảo hiểm tiền gửi.

1.2.1. Tình hình pháp luật trên thề giới về BHTG.

Nguồn gốc ra đời của BHTG gắn liền với việc bảo vệ ngầm, dần chuyển

sang bảo vệ công khai tiền gửi. Hoạt động BHTG công khai được thực hiện đầu tiên

ở New York (Mỹ) vào năm 1829 với tên gọi "chương trình bảo hiểm trách nhiệm

ngân hàng", nhằm đáp ứng sự đổ vỡ mang tính chất định kỳ của các ngân hàng Mỹ

Nhóm 6



9



Đề án Luật thương mại



GVHD: ThS. Đỗ Kim Hoàng



vào thế kỷ XIX. Sau thời gian thử nghiệm thành lập tổ chức BHTG ở một số bang

đạt hiệu quả, thì cùng với chính sách ngân hàng tự do ở Mỹ (1886) và cuộc khủng

hoảng kinh tế thế giới (1929 - 1933) đã làm hàng loạt ngân hàng ở Mỹ hoạt động rất

khó khăn và đỉnh cao là năm 1933 có 4000 ngân hàng thương mại phải ngừng hoạt

động. Trong bối cảnh như vậy, để ứng phó với tình huống phức tạp nhằm ổn định

tình hình kinh tế, chính trị thì phải bảo vệ người gửi tiền và Chính phủ Mỹ đã quyết

định thành lập BHTG Liên bang (FDIC) năm 1933. FDIC 3 bắt đầu hoạt động ngày

1/4/1934 và đây là mơ hình BHTG cơng khai đầu tiên trên thế giới.

Liên quan đến lĩnh vực này, tuy là một quốc gia thuộc Châu Á nhưng Việt

Nam chưa phải là quốc gia tiên phong trong việc quan tâm đến BHTG. Với nền

kinh phát triển năng động nhất thế giới hiện nay thì hệ thống BHTG đã được thành

lập ở rất nhiều các quốc gia với thời gian thể tại bảng dưới đây:

STT

TÊN QUỐC GIA

THỜI GIAN THÀNH LẬP

1

Nhật Bản

1971

2

Hàn Quốc

1996

3

Philipine

1963

4

Malaysia

2005

5

Đài Loan

1985

6

Indonesia

2005

7

Việt Nam

2000

Bảng 1.1. Thời gian thành lập hệ thống BHTG tại các quốc gia Châu Á.4

Hiện nay, một số nước trong khu vực có hệ thống BHTG nằm trong Ngân

hàng Trung ương đang có xu hướng tách thành cơ quan độc lập, ví dụ như: Thái

Lan, Lào, và đặc biệt là Trung Quốc đang khẩn trương xúc tiến chuẩn bị thành lập

hệ thống BHTG. Riêng Campuchia và Myanma là hai quốc gia thực hiện cam kết

bảo hiểm 100% cho các khoản tiền gửi. Như vậy, xu hướng hình thành hệ thống

BHTG và chuyển đổi mơ hình ở khu vực châu Á diễn ra ngày càng phổ biến và

mạnh mẽ.

1.2.2. Quá trình hình thành và phát triển của pháp luật Bảo hiểm tiền gửi ở Việt

Nam.



3 www.fdic.gov, www.pidm.gov, www.pidc.gov, www.sbv.gov.vn.

4 Nguồn: Deposit Insurance in East Asia: Before and after The Asian financial crisis, David K.walker



Nhóm 6



10



Đề án Luật thương mại



GVHD: ThS. Đỗ Kim Hồng



Cuộc khủng hoảng tài chính, tiền tệ ở khu vực Châu Á vào năm 1997 tuy

không ảnh hưởng trực tiếp đến hệ thống ngân hàng Việt Nam, nhưng cũng để lại

cho Việt Nam nhiều bài học về sự cần thiết phải tăng cường quản lý đối với hoạt

động ngân hàng. Cùng với sự phát triển của nền kinh tế và hệ thống ngân hàng Việt

Nam vào thời điểm đó đã đặt ra vấn đề cấp thiết phải sửa đổi 2 Pháp lệnh về ngân

hàng. Ngày 12/12/1997, Quốc hội đã thông qua hai Đạo luật về ngân hàng, bao gồm

Luật NHNH và Luật Các TCTD để tạo khuôn khổ pháp lý mới cho hoạt động ngân

hàng ở nước ta. Khoản 1 Điều 17 Luật Các TCTD 1997 quy định "TCTD có trách

nhiệm tham gia tổ chức bảo tồn hoặc BHTG; mức bảo tồn hoặc bảo hiểm do

Chính phủ quy định ". Quy định này là tiền đề pháp lý cho sự ra đời tổ chức BHTG và

hoạt động BHTG hiện nay ở nước ta. Đồng thời, hai văn bản trên cũng đưa ra những

khái niệm cơ bản quan trọng liên quan đến các tổ chức tín dụng và các tổ chức khơng

phải tổ chức tín dụng được phép thực hiện một số hoạt động ngân hàng (Điều 20 Luật

Các TCTD 1997) làm cơ sở cho các văn bản tiếp theo.

Sau một thời gian nghiên cứu, cân nhắc về các vấn đề có liên quan, tổ chức

BHTG và cơ chế BHTG đã chính thức được hình thành ở nước ta với việc Chính

phủ ban hành Nghị định số 89/1999/NĐ-CP ngày 01/9/1999 về BHTG (Nghị định

89) và Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 218/1999/QĐ-TTg ngày

9/11/1999 về việc thành lập BHTGVN. Trong đó các vấn đề cơ bản của BHTG đã

được đưa ra như hạn mức bảo hiểm tiền gửi Khoản 1 Điều 4 Nghị định số

89/1999/NĐ-CP quy định “Số tiền bảo hiểm được trả cho tất cả các khoản tiền gửi

(gồm cả gốc và lãi) của một cá nhân tại một tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi, tối

đa là 30 triệu đồng Việt Nam”, phí bảo hiểm tiền gửi tại khoản 1 điều. Khái niệm về

các chủ thể trong quan hệ BHTG bao gồm tổ chức BHTG tại Khoản 1 Điều 5 “Tổ

chức bảo hiểm tiền gửi là tổ chức tài chính nhà nước hoạt động khơng vì mục tiêu

lợi nhuận, bảo đảm an tồn vốn và tự bù đắp chi phí. Tổ chức bảo hiểm tiền gửi có

tư cách pháp nhân, có bảng cân đối riêng, được mở tài khoản tại các ngân hàng

trong nước và nước ngồi, có con dấu, được Nhà nước cấp vốn điều lệ, được miễn

nộp các loại thuế” còn tổ chức tham gia BHTG được quy định tại Điều 2 của Nghị

định này.

Sau đó nhiều văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn về BHTG đã ra đời, tạo

một hành lang pháp lý tương đối đầy đủ cho hoạt động BHTG ở nước ta như:

Thông tư số 03/2000/QĐ-NHNN5 ngày 16/03/2000 của NHNN hướng dẫn thi hành

Nghị định 89; Quyết định số 75/2000/QĐ-TTg ngày 28/06/2000 của Thủ tướng

Chính phủ ban hành Điều lệ tổ chức và hoạt động của BHTGVN; Quyết định số



Nhóm 6



11



Đề án Luật thương mại



GVHD: ThS. Đỗ Kim Hồng



1077/2001/QĐ-NHNN ngày 27/8/2001 của Thống đốc NHNN và Thông tư số

12/2003/TT-NHNN ngày 23/12/2003 của NHNN sửa đổi, bổ sung Thông tư số

03/2000/QĐ-NHNN5... Việc ban hành Luật Các TCTD sửa đổi 2004, Luật NHNN

Việt Nam sửa đổi 2003 cũng góp phần làm hoàn thiện thêm cơ sở pháp lý cho

BHTG khi đây chính là những chủ thể tham gia vào quan hệ pháp luật BHTG.

Đến ngày 24/8/2005, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 109/2005/NĐ-CP

(Nghị định 109) sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 89. Trong đó, đáng chú

ý Khoản 3 Điều 1 Nghị định 109 cũng quy định mức chi trả tối đa (hạn mức) cho

tiền gửi được bảo hiểm là 50 triệu đồng.

Sau đó, NHNN đã có Thơng tư số 03/2006/TT-NHNN (Thơng tư 03) ngày

25/4/2006 về việc hướng dẫn một số nội dung tại Nghị định 89 và Nghị định 109

(thay thế các Thông tư số 03/2000/QĐ-NHNN5, Quyết định số 1077/2001/QĐNHNN và Thông tư số 12/2003/TT-NHNN).

Hiện nay, với sự xuất hiện và hoàn thiện của Luật Các TCTD 2010, Luật

NHNN 2010, đặc biệt là Luật BHTG 2012, vấn đề bảo hiểm tiền gửi đã phần nào đi

vào nề nếp. Luật BHTG 2012 đã tổng hợp được nội dung quy định trong nhiều văn

bản trước đó, góp phần nâng cao hiệu quả BHTG. Trong đó đáng chú ý là việc

chuyển chủ thể được bảo hiểm tiền gửi từ cá nhân, doanh nghiệp tư nhân, công ty

hợp danh, hộ gia đình thành cá nhân, quy định về thanh tra, khiếu nại về BHTG,

hay việc quy định quyền và nghĩa vụ của các chủ thể tham gia vào quan hệ BHTG.

Những văn bản sau đó như Nghị định 68/2013/NĐ-CP ngày 28/06/2013 quy

định chi tiết và hướng dẫn thi hành luật bảo hiểm tiền gửi, Quyết định 1395/QĐTTg ngày 13/08/2013 phê duyệt điều lệ về tổ chức và hoạt động bảo hiểm tiền gửi

Việt Nam, thông tư 24/2014 ngày 6/9/2014 hướng dẫn một số nội dung về hoạt

động BHTG, Quyết định 527/QĐ-TTg ngày 1/4/2016 bổ sung sửa đổi Quyết định

1395/QĐ-TTg càng giúp chế độ pháp lý đối với BHTG chặt chẽ hơn.



Nhóm 6



12



Đề án Luật thương mại



GVHD: ThS. Đỗ Kim Hoàng



PHẦN 2: BẢO HIỂM TIỀN GỬI Ở VIỆT NAM

2.1. Vị trí, vai trò của cơ quan BHTG Việt Nam (DIV).

DIV5 là một định chế tài chính đặc biệt trong hệ thống tài chính quốc gia,

cùng với các cơ quan giám sát tài chính quốc gia thực hiện nhiệm vụ kiểm soát hợp

nhất liên quan tới rủi ro quốc gia, bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người gửi tiền,

góp phần ổn định hệ thống tài chính ngân hàng.

Vai trò nổi bật của hoạt động BHTG gồm:

- Tác động thúc đẩy nâng cao chất lượng hoạt động ngân hàng hướng tới thu

hút tối đa nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi trong cộng đồng trên cơ sở các bên cùng có

lợi.

- Đối với người gửi tiền, hoạt động của DIV góp phần củng cố niềm tin của

công chúng đối với hệ thống ngân hàng và bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của

hàng chục triệu người gửi tiền.

- Đối với hệ thống ngân hàng, DIV tạo điều kiện thuận lợi cho hệ thống ngân

hàng phát triển lành mạnh, an toàn và thúc đẩy huy động tiền gửi cho đầu tư phát

triển. Từ đó tạo điều kiện thúc đẩy nền kinh tế đất nước phát triển bền vững.

2.2. Chức năng của cơ quan BHTG Việt Nam.

Các chức năng6 chính của cơ quan BHTG Việt Nam là:

- Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam là tổ chức tài chính nhà nước hoạt động khơng

vì mục tiêu lợi nhuận, nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người gửi tiền,

thực hiện chính sách bảo hiểm tiền gửi góp phần duy trì sự ổn định của hệ thống các

tổ chức tín dụng, bảo đảm sự phát triển an toàn, lành mạnh của hoạt động ngân

hàng.

- Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam hoạt động bảo đảm an tồn vốn và tự bù đắp

chi phí. Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam có tư cách pháp nhân, hạch tốn độc lập, có

con dấu, tài khoản riêng theo quy định của pháp luật.

- Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam được miễn nộp các loại thuế theo quy định của

pháp luật.

- Chế độ tài chính của Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam do Bộ Tài chính chủ trì,

phối hợp với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định.

5 Giới thiệt về Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam - http://www.div.gov.vn/Default.aspx?tabid=36&cid=58

6 http://div.gov.vn/Default.aspx?tabid=70



Nhóm 6



13



Đề án Luật thương mại



GVHD: ThS. Đỗ Kim Hồng



2.3. Nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan BHTG Việt Nam.

Nhiệm vụ, quyền hạn7 của cơ quan BHTG Việt Nam được quy định như sau:

1. Xây dựng chiến lược phát triển bảo hiểm tiền gửi để Ngân hàng Nhà nước

trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt và tổ chức thực hiện.

2. Kiến nghị, đề xuất với Ngân hàng Nhà nước và các cơ quan quản lý nhà nước

có thẩm quyền về việc xây dựng, sửa đổi, bổ sung các chủ trương, chính sách về

bảo hiểm tiền gửi, ban hành mới hoặc sửa đổi, bổ sung, thay thế, bãi bỏ, đình chỉ

việc thi hành văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến hoạt động bảo hiểm tiền

gửi.

3. Cấp, cấp lại và thu hồi Chứng nhận tham gia bảo hiểm tiền gửi.

4. Yêu cầu tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi cung cấp thông tin về tiền gửi

được bảo hiểm theo định kỳ hay đột xuất.

5. Cung cấp thông tin cho Ngân hàng Nhà nước và tiếp cận thông tin của Ngân

hàng Nhà nước thực hiện theo Điều 8, Điều 9 và Điều 10 Nghị định số

68/2013/NĐ-CP.

6. Tính và thu phí bảo hiểm tiền gửi đối với tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi

theo quy định của Luật bảo hiểm tiền gửi và các văn bản pháp luật có liên quan.

7. Quản lý, sử dụng và bảo toàn nguồn vốn bảo hiểm tiền gửi.

8. Chi trả và ủy quyền chi trả tiền bảo hiểm cho người được bảo hiểm tiền gửi

theo quy định của Luật bảo hiểm tiền gửi và các văn bản pháp luật có liên quan.

9. Theo dõi và kiểm tra việc chấp hành các quy định pháp luật về bảo hiểm tiền

gửi; kiến nghị Ngân hàng Nhà nước xử lý hành vi vi phạm quy định của pháp luật

về bảo hiểm tiền gửi.

10. Tổng hợp, phân tích và xử lý thơng tin về tổ chức tham gia bảo hiểm tiền

gửi nhằm phát triển và kiến nghị Ngân hàng Nhà nước xử lý kịp thời những vi

phạm quy định về an toàn hoạt động ngân hàng, rủi ro gây mất an toàn trong hệ

thống ngân hàng.

11. Bảo đảm bí mật số liệu tiền gửi và tài liệu liên quan đến bảo hiểm tiền gửi

của tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi theo quy định của pháp luật.

12. Tiếp nhận hỗ trợ theo ngun tắc có hồn trả từ ngân sách nhà nước theo

quyết định của Thủ tướng Chính phủ hoặc vay của tổ chức tín dụng, tổ chức khác có

7 Điều 3, Quyết định số 1394/QĐ-TTg của Thủ tướng chính phủ năm 2013



Nhóm 6



14



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

PHẦN I: LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ BẢO HIỂM TIỀN GỬI

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×