Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Hình 1-23: Hai mô hình nghiên cứu đập tràn phím Piano của giáo sư F. Lempérière

Hình 1-23: Hai mô hình nghiên cứu đập tràn phím Piano của giáo sư F. Lempérière

Tải bản đầy đủ - 0trang

30

Khơng nên bố trí kết cấu gia cường hay các thanh giằng tại các tường ở ô vào

và ô ra vì chúng có thể làm các vật nổi mắc lại.



Có thể đưa khí vào bên dưới

phần console hạ lưu để tránh bị rung

động bằng các ống dẫn khí giản đơn.

Do xảy ra cuốn khí mạnh nên dòng

chảy ra khỏi tràn phím đàn được tiêu

năng nhiều hơn và xói ở hạ lưu giảm

đáng kể, nhất là với các lưu lượng xả

từ trung bình trở xuống.



Hình 1-24: Thi cơng tràn phím đàn- ống

dẫn khí đặt dưới console hạ lưu



1.4.5. Kết luận

Hồ chứa nước mang lại những lợi ích to lớn, góp phần rất quan trọng vào

việc xố đói giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới. Tăng năng suất, ổn định sản

lượng lúa, đảm bảo an ninh lương thực. Phát điện, cấp nước phục vụ sinh hoạt, chăn

nuôi và phát triển du lịch. Để duy trì và phát huy những lợi ích đó, các hồ chứa phải

được đầu tư sửa chữa, nâng cấp để đáp ứng tốt hơn yêu cầu ngày càng cao của đất

nước trong giai đoạn hội nhập hiện nay.

Nâng cao dung tích hữu ích của hồ chứa, tăng khả năng tháo của tràn xả lũ là

vấn đề mang tính thời sự đối với các hồ chứa nước ở Việt Nam. Vấn đề tràn zích

zắc, tràn phím đàn Piano, tràn sự cố ở nước ta tuy mới được đầu tư nghiên cứu, áp

dụng ở một số hồ chứa nhưng đã mang lại hiệu quả lớn về nhận thức trong phương

pháp luận thiết kế cơng trình thuỷ lợi. Giúp các nhà chun môn tổng kết đánh giá

được hiện trạng sự cố công trình thuỷ lợi, nắm bắt được ý nghĩa và tầm quan trọng

của biện pháp tràn sự cố trong xây dựng cơng trình. Các nhà đầu tư có cái nhìn

đúng đắn để lựa chọn phương án đầu tư có lợi nhất.



31



CHƯƠNG II: BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU VÀ NHỮNG THÁCH THỨC ĐẶT

RA ĐỐI VỚI HỒ CHỨA

2.1. Nội dung kịch bản biến đổi khí hậu

2.1.1. Kịch bản biến đổi khí hậu

- Biến đổi khí hậu trái đất là sự thay đổi của hệ thống khí hậu gồm khí quyển,

thuỷ quyển, sinh quyển, thạch quyển hiện tại và trong tương lai bởi các nguyên

nhân tự nhiên và nhân tạo.

- Nguyên nhân chính làm biến đổi khí hậu trái đất là do sự gia tăng các hoạt

động tạo ra các chất thải khí nhà kính, các hoạt động khai thác quá mức các bể hấp



32

thụ và bể chứa khí nhà kính như sinh khối, rừng, các hệ sinh thái biển, ven bờ và đất

liền khác.



Hình 2-1: Hiệu ứng nhà kính

2.1.2. Tác động của biến đổi khí hậu đối với sự an tồn hồ chứa

Theo báo cáo của Tổ chức liên Chính phủ về biến đổi khí hậu của Liên hiệp

quốc (IPCC) nhiệt độ trung bình trên bề mặt trái đất đã ấm lên gần 1°C và tăng rất

nhanh trong khoảng 25 năm nay (từ 1980 đến 2005); khoảng thời gian 40 năm

(1962-2003), mực nước biển đã tăng thêm 7,2cm (trung bình mỗi năm tăng 1,8mm),

riêng 10 năm cuối của khoảng thời gian nêu trên (1993-2003) mực nước biển trung

bình tăng thêm 3,1cm (mỗi năm tăng 3,1mm) và đưa ra dự báo: đến cuối thế kỷ

XXI, nhiệt độ bề mặt Trái đất sẽ tăng thêm từ 1,4 đến 4°C, mực nước biển sẽ dâng

thêm khoảng 43cm - 81cm. Nhiều nhà khoa học còn đưa ra những dự báo mực nước

biển đang dâng nhanh hơn nhiều, nhất là do hiện tượng tan băng đang xảy ra với tốc

độ đáng kinh ngạc trong thời gian gần đây. Các nhà khoa học Anh cho rằng nước

biển cuối thế kỷ XXI có thể tăng thêm đến 163cm.

Việt Nam là một trong 5 quốc gia trên thế giới bị tác động nhiều nhất của hiện

tượng biến đổi khí hậu mà cụ thể là hiện tượng nước biển dâng cao, hậu quả tăng



33

nhiệt độ làm bề mặt trái đất nóng lên do phát thải khí nhà kính (KNK). Trong

khoảng thời gian 70 năm gần đây (1931-2000), nhiệt độ trung bình ở Việt Nam tăng

lên 0,7oC, số đợt khơng khí lạnh giảm hẳn, trong khi đó số cơn bão mạnh đang có

xu hướng gia tăng và diễn biến hết sức bất thường. Trong thập niên 1971-1980

trung bình mỗi năm nước ta đón nhận 29 đợt khơng khí lạnh thì đến giai đoạn 19942007 đã giảm xuống chỉ còn 16 đợt mỗi năm. Mùa bão kết thúc muộn dần, quỹ đạo

của bão bất thường, khu vực Nam Trung Bộ và Nam Bộ phải chịu ảnh hưởng nhiều

cơn bão hình thành ngồi biển Đơng. Ở miền Bắc, từ năm 1961 đến 1970 trung bình

mỗi năm có 30 ngày mưa phùn, từ năm 1991 đến 2000 giảm xuống còn 15 ngày.

Tại khu vực Thành phố Hồ Chí Minh và Vũng Tàu từ năm 1960 đến nay tổng nhiệt

độ đã tăng lên 20oC. Tại nhiều khu vực như Bến Tre - trước đây chưa bao giờ có

bão, nhưng năm 2007 đã có bão lớn. Mực nước biển đã dâng lên khoảng 20 cm so

với cách đây 10 năm. Theo đánh giá của Tổ chức CARE quốc tế tại Việt Nam, mỗi

thập kỷ mực nước biển ở Việt Nam có thể dâng 5cm, đến năm 2070 có thể dâng

69cm, năm 2100 nước biển có thể sẽ dâng tới khoảng 1m. Nếu nước biển dâng cao

theo dự báo như vậy thì đồng bằng sơng Hồng (ĐBSH) sẽ bị ngập khoảng

5.000km2, đồng bằng sông Cửu Long sẽ bị ngập 20.000km2 dẫn đến mất đất và

giảm sản lượng nông nghiệp.

Trong vấn đề ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến hệ thống hồ chứa tại Việt

Nam hiện nay chưa được lưu tâm đúng mức. Ở Việt Nam hồ chứa nước được thiết

kế mà chưa quan tâm đến vấn đề biến đổi khí hậu. Vấn nạn chặt phá rừng, khai thác

rừng làm nương rẫy gây mất hoặc làm giảm thảm phủ thực vật. Khi mùa lũ về, nước

từ các lưu vưc xuống hồ sẽ nhanh hơn do không được trữ lại trong thảm phủ thực

vật, kết hợp với biến đổi khí hậu làm cho các trận mưa lớn hơn làm mất an tồn hồ

chứa đồng thời làm xói mòn đất dẫn đến lưu bùn cát về hố tăng lên cũng gây ảnh

hưởng bất lợi đến quá trình trữ nước của hồ chứa.

Do điều kiện khí hậu sẽ ngày càng bất lợi đối với sản xuất nông nghiệp, sinh

hoạt như: Nhiệt độ tăng từ 1,3-1,8 0C vào năm 2050, mưa giảm vào mùa khô sẽ làm

cho nhu cầu nước tăng lên. Theo kết quả tính tốn nhu cầu nước cho cây trồng trên



34

1ha tăng từ 5-10% so với điều kiện khí hậu bình thường. Suy giảm dòng chảy kiệt

sẽ là nguyên nhân làm cho các hồ chứa bị cạn kiệt trong mùa khô, không đáp ứng

được yêu cầu cấp nước cho các ngành kinh tế. Do ảnh hưởng của biến đổi khí hậu

trong vùng có khoảng 500 hồ đập nhỏ khả năng điều tiết kém sẽ bị suy giảm nguồn

nước trong mùa kiệt, ảnh hưởng đến sản xuất và sinh hoạt. Điển hình là năm 2010

nhiều hồ chứa trong vùng mực nước hạ thấp gần mực nước chết như: Hồ Vực Mấu,

Vệ Vừng Quán Hài, Sông Sào.v.v...làm trên 32.000ha bị thiếu nước và gần 25%

diện tích vụ Hè Thu khơng thể gieo trồng.

Biến đổi khí hậu cũng làm cho hạn hán tăng, nhiệt độ tăng làm cho lượng bốc

hơi trong hồ tăng, nhu cầu dùng nước tăng lên nhất là về mùa khô, đồng thời theo

tiêu chuẩn mới thì tần suất đảm bảo tưới đã tăng lên so với thời kỳ trước. Vì vậy cần

làm sao để tăng khả năng tháo cho hồ về mùa lũ nhưng cũng đồng thời tăng dung

tích trữ cho hồ để có thể đảm bảo đủ lượng nước về mùa khơ.

Biến đổi khí hậu và nước biển dâng đang là mối đe dọa hiện hữu và to lớn mà

nhân loại sẽ phải đương đầu trong thế kỷ XXI. Trước nguy cơ đó Liên hợp quốc đã

kêu gọi tất cả các quốc gia hãy đồng tâm nhất trí để giải quyết vấn đề nêu trên.

Nghiên cứu đề xuất và thực hiện các giải pháp nhằm hạn chế đến mức thấp nhất các

tác động tiêu cực của BĐKH và thích ứng với q trình BĐKH tồn cầu là nhiệm

vụ cấp bách của mọi quốc gia, của mọi người trên trái đất. Cho đến nay các giải

pháp đã được các nhà khoa học và các tổ chức quốc tế đưa ra đều hướng vào việc

tìm các giải pháp hạn chế, cắt giảm nguồn phát thải khí nhà kính - tác nhân chủ yếu

gây nên hiện tượng BĐKH toàn cầu và hướng tìm giải pháp thích ứng với biến đổi

khí hậu.

2.2. Những thách thức đặt ra do biến đổi khí hậu đối với các hồ chứa

2.2.1. Diễn biến các yếu tố khí hậu thuỷ văn

- Sự biến động của nhiệt độ trong những thập kỷ gần đây có xu hướng gia tăng

của nhiệt độ trung bình năm rõ rệt. Tại trạm Đơ Lương (từ năm 1960 đến 2008):

nhiệt độ trung bình năm tăng rõ rệt. Thời kỳ 20012008 tăng 0,200,40C so với thi

k 19801999.



35



Thay đổi nhiệt độ trung bì

nh nă m tạ i trạ m Đ ô L ơng

T (oC )



Từ nă m 1960 đến nă m 2008



25.5

25.0

24.5

24.0

23.5

23.0

22.5



2008



2004



2000



1996



1992



1988



1984



1980



1976



1972



1968



1964



1960



22.0



Nă m



Hỡnh 2-2: XuXuth



trung

trm ụ Lng

thếbin

biếni

đổi nhit

nhiệt đ

ộ TB

nă m bỡnh

tạ i trạ nm

m Đ ôti

L ơng

Từ nă m 1960 đến nă m 2008



- S biến động của lượng mưa năm: có xu thế giảm hầu hết ở các lưu vực

sông. Nếu so sánh lượng mưa trung bình thời kỳ 20012008 với lượng mưa trung

bình nhiu nm gim t 110,5%.

Xo(mm)



Trạ m Vinh



400

350

300

250

200

150

100

50

0



Nă m

Xu thế biến đổi l ợ ng m a TB nă m tạ i trạ m Vinh



Hỡnh 2-3: Xu th bin i

lng

ma

trung

Từ nă

m 1960

đến

nă m bỡnh

2008 nm ti trm Vinh

- Lng ma trung bình 5 ngày max có xu hướng gia tăng. Sự biến động của

lượng mưa 5 ngày max thời kỳ 20012008, 20052008 và 2007 so với trung bình

nhiều năm của một số trạm như bảng sau:



36

Bảng 2.1. Lượng mưa trung bình 5 ngày max các thời kỳ so với trung bình nhiều năm

(ngày càng tăng):

Trạm đo

Vinh

Đơ Lương



Xtb(5ngày)



Xtb(5ngày)



Nhiều năm

422

321



(2001-2008)

361

363



%Xtb

86

113



Xtb(5ngày)

(2005-2008)

382

400



%Xtb

91

125



Xtb(5ngày)

(2007)

441

427



%Xtb

104

133



Hình 2-4: Xu thế biến đổi lượng mưa 5 ngày max trạm Đô Lương

- Lưu lượng dòng chảy giảm trong mùa tưới do ảnh hưởng của hạn hán:



+ Dòng chảy năm có xu hướng giảm 12%

+ Lưu lượng kiệt nhỏ nhất giảm 1%

Bảng 2.2: Sự biến đổi của dòng chảy năm (Q0), Qmax, Qmin qua các thời kỳ. Tại

trạm Dừa (F=20800km2)

Thời kỳ

TB(1959-2007)

1961-1970

1971-1980

1981-1990

1991-2000

2001-2008

2005-2008



Q0(m3/s)

413

430

433

439

391

374

363



%Qtb

100

104

105

106

95

90

88



Qmax(m3/s)

3822

3754

4409

4136

3338

3745

4383



%Qtb

100

98

115

108

87

98

115



Qmin(m3/s)

87

97

91

91

85

74

86



%Qtb

100

112

105

105

97

86

99



37



Hình 2-5: Xu thế biến đổi của dòng chảy năm (Q0), Qmax, Qmin tại trạm Dừa

Ghi chú:



- Đường màu tím biểu diễn sự biến đổi của Q0, Qmax, Qmin

- Đường màu xanh là đường trung bình



- Nước biển dâng: vùng biển Nghệ An (Bắc Trung Bộ) tăng trung bình

3mm/năm (1993-2008). Tương đương trung bình so với thế giới. Trong 55 qua nước

biển tại Hòn Dấu (trong Vịnh Bắc Bộ) đã dâng lên 20cm. (nguồn Bộ tài nguyên và

môi trường)

2.2.2. Kịch bản biến đổi khí hậu và nước biển dâng

Theo kịch bản biến đổi khí hậu, nước biển dâng cho Việt Nam do Bộ Tài

Nguyên và Môi Trường giới thiệu tháng 6 năm 2009 đối với khu vực Bắc Trung Bộ

theo 3 kịch bản: Kịch bản phát thải thấp (B1) thế giới phát triển tương đối hồn hảo

ít phát thải khí nhà kính, Kịch bản phát thải trung bình (B2) - Kịch bản B1 có được

thực hiện nhưng khơng hồn hảo. Nên phát thải nhà kính chỉ đạt ở mức trung bình ,

Kịch bản phát thải cao (A2).

Trong đó kịch bản B2 được Bộ Tài Nguyên và Môi Trường khuyến nghị sử

dụng trong thời điểm hiện nay cho các Bộ, ngành và địa phương làm định hướng

ban đầu trong việc đánh giá ảnh hưởng của biến đổi khí hậu, nước biển dâng và xây

dựng kế hoạch hành động ứng phó với biến đổi khí hậu.

a. Về nhiệt độ (B2):

Vào cuối thế kỷ 21, nhiệt độ trung bình năm có thể tăng lên 2,8 0C ở Bắc

Trung Bộ so với trung bình thời kỳ 1980-1999.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Hình 1-23: Hai mô hình nghiên cứu đập tràn phím Piano của giáo sư F. Lempérière

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×